Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 44)

0
11

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 44)



Pháp Sư Tịnh Không



PHẦN II


“ĐỨC TUÂN PHỔ HIỀN”


VIỄN SIÊU THANH VĂN, BÍCH CHI PHẬT
ĐỊA; NHẬP KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ NGUYỆN PHÁP MÔN; THIỆN LẬP PHƯƠNG TIỆN, HIỂN THỊ
TAM THỪA. Ư THỬ TRUNG HẠ, NHI HIỆN DIỆT ĐỘ
”.


Đó là tướng thứ
bảy trong tám tướng thành đạochuyển pháp luân”. Đoạn này ý nói chư
Phật Như Lai
thị hiện sáu cõi, vì chúng ta mà làm tấm gương hoằng pháp lợi
sanh
. Phần sau, chúng ta sẽ bàn đến việc làm thế nào đem thị hiện của Phật thực
tiễn
ngay cuộc sống thường ngày và trong hoàn cảnh công tác của chính mình, như
vậy mới gọi là học Phật pháp chân thật.


“Viễn siêu Thanh văn, Bích Chi Phật
địa”


Nghĩa là nhất
định
không đọa lạc nhị thừa. Trong cái nhìn của phàm phu thì hàng nhị thừa
thánh nhân; hàng nhị thừanăng lực siêu việt sáu cõi luân hồi. Tuy nhiên,
thành thật mà nói, loại công phu nghị lực tu trì đó của họ mặc dù người thông
thường chúng ta không thể so sánh nhưng khi so họ với Bồ tát thì cự ly này kém
xa. Đối với người tiểu thừa, Thanh văn chính là A La Hán, Bích Chi Phật chính
Duyên giác, nên trong pháp đại thừa, Thế Tôn thường hay trách cứ. Việc trách
cứ nhằm mục đích khích lệ họ, khuyên họ bỏ tiểu hướng đại.


Tiểu thừa tuy phá ngã chấp, bỏ được
chấp trước, nhưng vẫn còn phân biệt nên có thể siêu việt sáu cõi mà không thể
siêu việt mười pháp giới. Phật nói, những con người này chẳng qua ở trong Thiên
Chân
Niết Bàn trụ chỉ một giai đoạn, không thể vĩnh viễn đọa trong Nhị thừa;
nhất định họ sẽ quay đầu nhưng sớm trễ không đồng.


Duyên giác
tương đối thông minh, căn tương đối sắc bén nên quay đầu nhanh hơn. Còn A La
Hán
căn tánh độn
hơn, quay đầu chậm, nhưng nhất định cũng sẽ quay đầu. Quay đầu là quay tiểu
hướng đại. Do căn tánh không đồng, duyên khác biệt, thông thường chúng ta gọi
là cơ hội nên họ phải thường gặp đại thừa, thường gặp thiện tri thức thì quay
đầu mới nhanh.


Khác biệt giữa
tiểu thừaBồ Tát ở chỗ, người tiểu thừa không chủ động đi giúp người như câu
nói phần sau của đoạn kinh: “Làm bạn không mời của tất cả chúng sanh”, chỗ này
người tiểu thừa không làm được. Cũng không phải người tiểu thừa không độ chúng
sanh
. Nếu chúng sanh cầu đến họ thì họ sẽ xem chúng sanh đó có thiện căn hay
không, có duyên phận hay không. Bạn có thiện căn, có duyên phận thì họ hoan hỉ
giúp và dạy bảo bạn. Nếu họ xem thấy bạn không có thiện căn, không có duyên
phận
thì họ sẽ rất lãnh đạm với bạn. Không như Bồ tát dùng tâm bình đẳng đối
với tất cả chúng sanh, không phân biệt, không chấp trước. Điểm này xét về mặt
đức hạnh thì A La Hán không thể sánh với Bồ tát; đương nhiên sức định, đạo lực,
trí tuệ cũng không thể bằng Bồ tát. Tuy công phu đoạn chứng của Bồ tát giống y
như
họ nhưng trí tuệ đạo lực không như nhau.


Thí dụ, trong
đại kinh nói, tầng công phu
đoạn kiếnphiền não của Bồ Tát viên giáo thất tín vị giống A La Hán,
đó là bình đẳng. Ngoài đoạn phiền não giống nhau ra, thì thần thông, đạo lực,
trí tuệ, thiền định không giống nhau, Bồ Tát thất tín vị cao hơn rất nhiều so với A La Hán.
Đạo lý này tuyệt nhiên không khó hiểu, vì tâm lượng của Bồ tát lớn, còn tâm
lượng
của A La Hán nhỏ nên không như nhau.


Cho nên kinh
Hoa Nghiêm
nói, ở thời kỳ mạt pháp, người đương cơ là người như thế nào? “Đại
tâm
phàm phu
”. Đại tâm phàm phu còn đáng quý hơn Thanh Văn, Duyên Giác.
Thanh Văn, Duyên Giác không có cơ duyên tu học đại kinh như kinh Hoa Nghiêm,
kinh Pháp Hoa. Không phải Phật không bình đẳng mà vì họ không tin tưởng, không
bằng lòng tiếp nhận. Ở điểm này họ thua xa đại tâm phàm phu.


Gọi là phàm phu
vì một phẩm phiền não còn chưa đoạn, không những A La Hán không thể so sánh, mà
tiểu thừa Tu Đà Hoàn cũng không thể so sánh. Tuy nhiên nếu luận tâm lượng, luận
kiến giải, thì chân thật siêu việt tiểu thừa, siêu việt Thanh Văn, Duyên Giác.
Đó căn tánh một loại nhất thừa viên giáo, rất đáng quý.


Những Bồ tát dự
hội siêu vượt hơn rất xa hàng nhị thừa, đoạn kinh văn này dụng ý tán thán Bồ
tát
.


“Nhập không,
tướng
, vô nguyện pháp môn”


Vô nguyện”,
có kinh gọi là Vô tác, ý nghĩa như nhau, đại tiểu thừa đều có. Lại gọi “tam
giải thoát
pháp môn
”, cũng chính là ba loại pháp này. Trong tiểu thừa nói
bạn có thể thoát khỏi sáu cõi luân hồi, nhất định từ ba pháp môn này mà thành
tựu
. Đại thừa pháp thì nói, ba pháp môn giúp bạn siêu việt mười pháp giới,
chứng được pháp giới nhất chân. Cho nên “tam giải thoát pháp môn” thông
cả đại tiểu thừa, danh tướng tuy như nhau nhưng cảnh giới không giống nhau.


Ví dụ nói “không
môn
”, người tiểu thừa chứng ngã không, siêu việt sáu cõi; người đại thừa
chứng pháp không thì không chỉ ngã là không mà pháp cũng không, cho nên họ cũng
siêu việt mười pháp giới, chứng pháp giới nhất chân. Cửa không là từ tự tánh,
từ trên lý thể tất cả vạn sự vạn vật mà nói, cũng như trên kinh văn: “Tướng có tánh
không
, sự có lý không
”; họ có thể từ tướng thấy tánh, từ sự
quan sát lý, chân thật tường tận sự tướng chỉ là huyễn hoá như trên kinh Kim
Cang
nói: “mộng
huyễn bào ảnh
”. Bạn không thể nói nó không có, cũng không thể nói nó có.
Nếu bạn nói không có, thì tại sao nó hiện tướng, đích thực có tướng tồn tại?
Nếu bạn nói có, vậy thì cái tướng này là giả, không phải thật tướng mà là sát
na
sanh diệt không thực tại. Nếu như bạn cho rằng tướng là thật có thì bạn lại
sai, bạn mê trên giả tướng đó. Tướng là giả, không phải thật, từ cửa này mà
bước vào, cũng chính là từ pháp môn hay phương pháp này mà ngộ nhập, thoát sanh
tử
, siêu ba cõi. Đó là từ cửa không mà vào và chứng đạo. Nếu bạn không vào được
thì học môn này không lợi ích, gọi là không khế cơ, hoặc không khế hợp căn cơ
của mình. Không phải căn cơ thì tu học pháp môn sẽ không dễ gì khế nhập.


Một cửa nữa là
vô tướng”. Tướng là hữu môn, có thể từ hữu môn mà vào. Đã “hữu
thì vì sao gọi là vô tướng? Bởi vì tướng là duyên sanh, kinh Bát Nhã có câu: “Vạn pháp duyên
sanh
”. Phàm hễ pháp do nhân duyên sanh đều không có tự tánh,
cho nên tỉ mỉ quan sát, ta thấy tướng là giả tướng. Nếu bạn chân thật thấy tất
cả tướng đều là giả tướng thì bạn đã nhìn thấu, chân thật thông suốt, hay chân
thật
thông đạt. Sau khi nhìn thấu, bạn liền tự nhiên không còn chấp trước đối
với hiện tướng, liền có thể buông bỏ chấp trước. Vừa buông bỏ chấp trước thì
siêu việt sáu cõi, như vậy bạn từ cửa vô tướng mà vào.


Nếu không cách
gì vào được cửa vô tướng thì vẫn còn một cửa nữa là “vô nguyện”.
nguyện
còn gọi là “vô tác”. Trong Phật pháp, việc thứ nhất là dạy bạn phát
nguyện
. Không có nguyện thì làm sao thành công? Một số đồng tu đến hỏi tôi,
chúng ta làm việc tốt nhưng không cầu bất cứ thứ gì thì đó mới là việc tốt chân
thật
. Lời họ nói tuy không sai, nhưng trên thực tế, đúng mà sai. Bạn không mong
cầu, nhưng bạn có thật đạt đến không mong cầu chăng? Bụng đói phải có cơm ăn,
mệt rồi còn phải nghỉ ngơi thì sao bạn có thể nói vô sở cầu? Chân thật đạt đến
vô cầu không phải là cảnh giới của phàm phu chúng ta. Mức độ thấp nhất phải là
Pháp Thân Đại Sĩkinh Hoa Nghiêm nói, đó là chân thật đến được vô niệm. Cho
dù trong cảnh giới đó, họ vẫn thị hiệnsở cầu. Đừng nói Bồ Tát Viên Sơ Trụ,
Bồ Tát Đẳng Giác, ngay chư Phật Như Lai thừa nguyện tái lai đến giúp chúng sanh
chúng ta cũng phải thị hiện phát nguyện. Thích Ca Mâu Ni Phật không thị hiện
tám tướng thành đạo hay sao? Ngài không dạy chúng ta phát tứ hoằng thệ nguyện
hay sao? A Di Đà Phật phát bốn mươi tám nguyện, vậy vì sao vô nguyện? Vô nguyện
thì làm sao có thể thành tựu? Cho nên chúng ta phải hiểu tường tận văn tự trong
đây. Nếu cứ nhìn văn hiểu nghĩa thì ba đời chư Phật sẽ hàm oan.


Vô nguyện
ở đây là “lìa tâm năng sở”, cái nguyện này mới là cái nguyện chân thật.
Người thế gian đều có nguyện vọng nhưng nguyện vọng của người thế gian không
dài lâu, qua vài ngày họ liền thay đổi, gặp được duyên họ lại thoái tâm, do
nguyên nhân gì? Bởi vì cái nguyện họ phát ra là vọng tâm, không phải chân tâm.
Người thế gian thường hỏi: vì sao phải phát nguyện? Vì bạn còn một đạo lý, một
lý do. Khi nguyện không thoái chuyển đã thay đổi thì ta biết đó là giả, không
phải thật.


Chân thật phát
nguyện
thì không có điều kiện. Chư Phật Như Laivô duyên đại từ, đồng thể
đại bi
”, cũng không có điều kiện. Đối với tất cả chúng sanh hữu tình hay vô
tình, các Ngài đều quan tâm thanh tịnh bình đẳng, thương yêu bình đẳng. Phàm hễ
điều kiện đều là giả, đều không thật. Có điều kiện là có năng có sở. Năng sở
là hai pháp. Lục tổ Huệ Năng đại sư từng nói, hai pháp thì không phải Phật
pháp
, hoặc Phật pháppháp không hai. Đoạn dứt hai bên năng sở mới gọi là
nguyện
hay vô tác. Sau đó chúng ta mới hiểu câu đại đức xưa: “Làm mà không
làm, không làm mà làm
”, lìa khỏi hai bên, hai bên đều không
chấp
trước.


Không phải nói
vô nguyện thì không làm. Bạn phải làm. A Di Đà Phật phát bốn mươi tám nguyện,
mỗi nguyện đều hiện thực. Chúng ta lại hỏi A Di Đà Phậtchấp trước đối với
bốn mươi tám nguyện hay không? Không, tâm địa thanh tịnh không nhiễm một trần,
Ngài liền vô nguyện. Có nguyện cùng vô nguyện là một, không phải hai.


Do đây có thể
biết, cái cửa vô nguyệnpháp môn không hai. Cho nên vào đạo là từ cửa không,
từ cửa có, từ cửa không hai mà vào. Vô tác vô nguyện chính là cửa không hai,
hai mà không hai: “Nguyện tức
nguyện
, vô nguyện tức nguyện
”. Rất nhiều Bồ Tát đại thừa từ cửa này
mà khế nhập cảnh giới Như Lai quả địa, tức pháp giới nhất chân.


Chúng ta tu học
tịnh độ, sanh vào thời kỳ mạt pháp, phải hiểu đạo lý này. Chúng tanăng lực
từ ba cửa mà vào hay không? E rằng bất cứ cửa nào trong ba cửa chúng ta cũng
không thể vào. Ba cửa là con đường thông lộ. Hiện tại chúng ta phải mở con
đường
sau, không đi ba cửa này được. Thế mới nói, tịnh độ tôngpháp môn đặc
biệt
, “môn dư đại đạo”. Ngoài ba cửa chính qui vẫn còn một cửa đặc biệt
mà rất nhiều Bồ tát không biết, nên cửa này gọi là pháp khó tin.


Nếu bạn nói cho
người khác nghe “không, vô tướng, vô nguyện”, mọi người sẽ không hoài
nghi
, vì mọi người đều biết nên dễ dàng tin tưởng. Còn nếu bạn nói niệm Phật
vãng sanh
thì họ không tin tưởng. Niệm Phật vãng sanh dường như không có trong
ba cửa này, nó là một pháp môn đặc biệt riêng biệt, “môn dư đại đạo” đại
tiểu thừa đều có thể khế nhập. Kinh đại tiểu thừa thường nói, không luận họ tu
học
pháp môn nào, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, đến sau cùng
cũng quy nguyên không ngoài ba cửa này.


Tịnh tông chúng
ta
bí quyết vào cửa. Hiện tại chúng ta xây dựng niệm Phật đường, mỗi vị đồng
tu bước vào niệm Phật đường đều sanh tâm hoan hỉ, được Phật lực gia trì. Trước
kia, bạn chưa bước vào thì bạn hoài nghi, khó tin tưởng, cũng có người hoài
nghi
thể lực mình không đủ, một ngày đêm làm sao chịu nổi huống hồ hai ngày đêm
trở lên. Thế nhưng sau khi bước vào niệm Phật đường, càng niệm càng hoan hỉ,
chính mình đều cảm thấy ngoài sức tưởng tượng, thậm chí không tin mình có được
thể lực này. Từ đó tín tâm liền sanh khởi. Không chỉ hai ngày đêm mà bảy ngày đêm
cũng được, thể lực của bạn nhất định đủ. Làm sao biết được đủ? Ngạn ngữ có câu:
Người gặp việc
vui tinh thần thoải mái
”. Bạn bước vào niệm Phật đường hoan hỉ
thì tinh thần liền lên cao. Nếu bạn bước vào mà không hoan hỉ thì sẽ không có
tinh thần. Hoan hỉ là thứ bổ dưỡng tốt nhất cho sinh lý chúng ta. Bất cứ dinh
dưỡng nào cũng không thể sánh được với dinh dưỡng hoan hỉ.


Phật pháp đại
thừa
dạy người thường xuyên sanh tâm hoan hỉ, thế nhưng làm gì được nhiều việc
vui đến vậy? Chỉ niệm Phật mới chân thật hoan hỉ. Hoan hỉ của niệm Phật phải
chính bạn đích thân cảm thọ, không bước vào niệm Phật đường thì không thể cảm
thọ
. Giống như trong sáu cõi chúng ta, bạn thấy người trời sắc giới không cần
ăn uống. Không những họ đoạn tuyệt ăn uống, mà họ còn không bao giờ bị bệnh.
Vậy họ dùng phương pháp gì để duy trì sắc thân? Kinh nói: “Thiền duyệt vi
thực
”. Thực là thứ bổ dưỡng chúng ta phải ăn uống để bồi bổ
thân thể. Họ không cần ăn uống mà dùng thiền duyệt an vui trong thiền định để
nuôi thân thể.


Ngày nay chúng ta
niệm Phật đường niệm Phật tam muội, còn cao hơn so với thiền duyệt của người
trời sắc giới. Thành thực mà nói thiền duyệt của họ không có Phật lực gia trì.
Chúng ta niệm Phật tam muội, không chỉ được A Di Đà Phật oai thần bổn nguyện
gia trì, mà mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai đều gia trì, thử hỏi làm
sao bạn không hoan hỉ? Chưa bước vào niệm Phật đường, chỉ vừa nghe đã hoan hỉ,
huống hồ ở ngay trong đó, pháp hỉ sung mãn, tinh thần phấn khởi trăm phần, càng
niệm càng hoan hỉ, càng niệm càng có tinh thần, càng có thể lực. Đối với người
sức khỏe không tốt,
thường hay bệnh, nếu ở trong niệm Phật đường thì những thứ bệnh nhỏ đó đều
không còn, đều niệm tiêu tan.


Chính chúng ta
phải có lòng tin, phải biết oai thần gia trì của Phật Bồ Tát không thể nghĩ
bàn. Pháp môn niệm Phật thù thắng không gì bằng. Công phu niệm Phật nếu đắc lực, luôn nhìn thấu buông bỏ
thì công phu của bạn mới chân thật có lực. Ngày nay chúng ta không hy vọng quá
cao, mà hạ thấp tối đa mức độ xuống “công phu thành khối”. Chỉ cần bạn
niệm đến công phu thành khối thì tương lai chắc chắn vãng sanh thế giới Tây
Phương Cực Lạc
, hay nói cách khác, ngay hiện đời chắc chắn làm Phật. Trong mười
pháp giới, sự chọn lựa này là thù thắng nhất.


Đồng tu đến hỏi
tôi, công phu thành khối như thế nào? Trong lòng chỉ nhớ Phật niệm Phật. Ngoài
nhớ Phật niệm Phật ra, các vọng niệm khác đều không khởi. Vọng niệmphiền
não
. Phiền não tuyệt nhiên đoạn được thì cảnh giới đó cao. Việc này không dễ
dàng. Chúng ta niệm Phật, nhớ cũng là niệm. Trong lòng tưởng Phật nên sức niệm
sẽ mạnh, khiến phiền não bị đè xuống. Phiền não tuy có nhưng không khởi tác
dụng
, không khởi hiện hành, đó gọi là công phu thành khối. Nếu chúng ta lìa
khỏi niệm Phật đường, bước vào cuộc sống thường ngày vẫn khởi lòng tham, gặp việc
không vui vẫn khởi tâm sân hận, lúc đó phải biết công phu của bạn chưa đạt
trình độ này. Công phu chân
thật
đạt thành khối thì gặp việc hoan hỉ không khởi tâm tham ái, gặp việc không
vui
không khởi tâm sân hận. Tâm của bạn vĩnh viễn bình lặng, vĩnh viễn giữ được
cảnh giới trong niệm Phật đường. Vào niệm Phật đường rèn luyện, chí ít phải
luyện đến công phu này thì mới xem là thành tựu, là niệm Phật đúng cách. Đã
đúng cách thì nhất định vãng sanh.


Một số đồng tu
than khó. Không sai, rất khó, làm gì dễ dàng thành Phật như vậy! Bình thường
phải dụng công. Công phu gì? Nhìn thấu buông bỏ. Ngay trong đời chúng ta, đối
với tất cả mọi người, mọi việc, mọi vật, phải thấy nhạt đi một chút. Không nên
quá chấp trước. Phàm mọi việc phải học lớn hoá nhỏ, nhỏ hoá không. Không nên
chấp trước từng ly từng tí thì công phu chúng ta mới có lực. Mọi thứ đều chăm
chỉ, so đo tính toán sẽ rất đáng lo ngại, càng không dễ dàng đạt đến công phu
cảnh giới này. Việc gì cũng nên qua loa, có thì tốt, không có cũng tốt, thiệt
thòi
cũng tốt, chịu lỗ cũng tốt,… mọi thứ đều tốt; không nên tính toán, cũng
không cần phải hỏi qua; nhiều một việc không bằng ít đi một việc, ít đi một
việc không bằng không có việc gì, tất cả tùy duyên qua ngày mới được.


Những đồng tu
lãnh đạo Cư Sĩ Lâm chân thật rất hiếm. Chúng ta ở bên cạnh quan sát khởi tâm
động niệm của họ, tất cả việc làm của họ khiến chúng ta bội phục. Họ làm đúng
pháp, rất tương ưng, đều hoá nặng thành nhẹ, đều có thể tuỳ duyên mà không phan
duyên
. Phan duyênnhất định phải làm, nhất định phải chấp trước.


“Thiện lập
phương tiện, hiển thị tam thừa”


Thiện là khéo
léo. Phật pháp chú trọng khế lý khế cơ. Khế lý nhất định phải tương ưng với
tánh đức, trí tuệ đức năng đầy đủ trong tự tánh. Nếu chúng ta dùng câu phía
trước: “Không, vô tướng,
vô nguyện
”, đó là tánh đức cùng tương ưng với đây thì họ liền siêu
việt
. Như vậy, pháp môn niệm Phật, bạn có thể tương ưng với nguyện của Phật ( Nguyện của
Phật gồm bốn mươi tám nguyện trên kinh), tương ưng với đức của Phật. “Đức” là danh hiệu,
công đức danh hiệu không thể nghĩ bàn. Danh hiệu nếu hoàn toàn dịch thành ý
nghĩa Trung văn là “Vô Lượng Giác”. “A” dịch là vô, “Di Đà
dịch là lượng, “Phật” dịch là giác. Mỗi giờ mỗi lúc, mọi chỗ mọi nơi,
đối với người với việc với vật, giác mà không mê gọi là A Di Đà Phật. Mê rồi
thì là phàm phu, giác ngộ thì thành Phật. Cho nên mỗi niệm tương ưng với giác
mới có thể vào được cửa. Đó là khế lý.


Ngoài khế lý
còn phải khế cơ. Phật pháp độ người hiện đại, độ người khu vực này của chúng
ta
. Phật pháp không độ người xưa, không độ người vị lai, cũng không độ người
thế giới phương khác, mà độ đại chúng hiện tiền. Nên bạn phải hiểu căn cơ của
đại chúng hiện tiền.


Đồng tu dẫn
chúng niệm Phật đường phải thường hay khích lệ khuyến tấn lẫn nhau; phải nghiên
cứu
cải tiến lẫn nhau, không được chấp trước thành kiến của chính mình. Bạn
nhất định phải tường tận, chư Phật Như Lai, tất cả Bồ Tát đều không có thành
kiến
. Thành kiến là gì? Là chấp trước. Chư Phật Như Lai đều “hằng thuận
chúng sanh
, t
ùy
hỷ công đức”. Các Ngài không có ý kiến của riêng
mình, mà lấy ý nghĩ của mọi người làm ý nghĩ, cho nên mọi người thích thế nào
thì chúng ta làm như thế đó. Người đông thì phải thành lập thanh quy. Quy củ
luôn là thiểu số phục
tùng đa số, đó là chế độ dân chủ. Nhà Phật hơn ba ngàn năm trước đã nói đến dân
chủ
, cộng hòa, lục hòa, “lợi hòa đồng huân”. Như vậy Phật
giáo
đề xướng dân chủ sớm nhất, cách
đây hơn ba ngàn năm. Không những đề xướng mà còn áp dụng. Phật và Bồ tát đều
không có ý của riêng mình.


Ngày trước tổ
đại đức lập ra những qui củ tùy theo căn tánh của chúng sanh. Nếu hiện tại chúng ta một
mực không đổi, chiếu theo qui củ của các Ngài mà làm, hoàn toàn chiếu theo Bách
Trượng Thanh Qui thì thành cái gì? Đó là đem người hiện tại chúng ta ngược về
quá khứ, đều thành người triều nhà Đường, các vị cũng đều biến thành người nhà
Đường. Cho nên phải hiểu tinh thần, nguyên tắc của nó, thậm chí trên thực tế
cách làm chúng ta cũng cần phải tu đính. Bạn xem, pháp luật thế gian trải qua
mấy năm cần tu đính một lần. Vì sao? Pháp luật của mười năm trước định ra, lúc
đó có tác dụng với xã hội đương thời. Sau mười năm, xã hội thay đổi nhiều, pháp
luật
lúc trước không còn thích hợp với hiện tại. Cho nên qui củ có thể cải
đính, giới luật nhà Phật cũng có thể cải đính.


Bách Trượng Thanh
Qui chínhgiới luật của Thích Ca Mâu Ni Phật. Thời điểm trước đã trải qua
một cuộc tu đính rất lớn, đó là Trung Quốc hoá, hiện đại hóa, bổn thổ hoá,
nhưng tinh thần nguyên tắc giới luật của Phật không thay đổi. Cách làm phải
thích hợp với người hiện đại chúng ta, thích hợp với người địa phương mới có
thể nói được thông, đó gọi
khế cơ. Do đó, người xưa định thanh qui đáng để chúng ta tham khảo. Chúng ta thay đổi
như thế nào cho thích ứng với niệm Phật đường hiện tiền, thích ứng với đồng tu
của niệm Phật đường thì bạn mới gọi là chân thật khế cơ.


Căn cứ vào đâu
để định quy củ niệm Phật đường chúng ta? Nguyên lý nguyên tắc không thay đổi,
nhưng một số điều kiện bên trong thì phải căn cứ vào hoạt động hiện thực mà chế
định. Sau khi chế định vẫn phải thường tu sửa lại, nhằm tránh tình trạng một số
đồng tu cảm thấy không thuận tiện. Đồng tu dẫn chúng phải học loại tinh thần
của Khổng Lão Phu tử: “Nhập Thái miếu,
mỗi sự vấn
”. Đồng tu dẫn chúng phải thường thỉnh giáo với pháp sư,
chẳng hạn thời khóa hôm nay các vị
cảm thấy như thế nào, có chỗ nào cần cải tiến không. Thành thật cung kính thỉnh
giáo
, không qua loa, khách sáo. Ngoài ra còn phải thường hướng đến mỗi đồng tu
tham gia niệm Phật, hỏi nhiều ở họ, thỉnh giáo nhiều lần với họ, khiến đạo
tràng
chúng ta được cải tiến mỗi ngày. Cải sửa khuyết điểm thì mới tiến bộ.
Ngày ngày sửa, ngày ngày tiến bộ, vậy thì còn gì bằng, đạo tràng tự nhiên sẽ thành đạo tràng đệ nhất mô phạm của thế gian. Do đâu mà
có? Do ngày ngày cải tiến, phát hiện không thích hợp thì lập tức sửa đổi, sửa
không thích hợp lại sửa tiếp, như vậy mới khế cơ, mới gọi là “hằng thuận
chúng sanh
, t
ùy hỉ công đức”.


Hai câu nói của
Bồ Tát Phổ Hiền không phải tuỳ tiện nói, mà chân thật làm đến được khế cơ.
Chúng ta tu tịnh độ, lý luận chúng ta nương theo, phương pháp, cảnh giới, thảy
đều nương vào kinh Vô Lượng Thọ. Tương ưng kinh Vô Lượng Thọ là khế lý. Những
phương pháp thúc đẩy khiến mỗi vị đồng tu hoan hỉ tiếp nhận, pháp hỉ sung mãn,
thì niệm Phật đường này thành công. Đồng tu dẫn chúng không hề có chút ý riêng
của mình. Cũng vậy, lãnh tụ thế xuất thế gian chân thật hiền minh khôngý
nghĩ
riêng. Họ lắng nghe nhiều, sau đó bình lặng chọn lựa. Ý kiến nào tốt ta
chọn. Khi chọn lựa cũng phải trưng cầu sự đồng ý của mọi người. Bạn có trí tuệ,
năng lực, chọn lấy phương thức nào thì giải thích tỉ mỉ với mọi người, trưng
cầu tán đồng của mọi người, như vậy mà thúc đẩy phát huy.


Pháp đại thừa
và nhà Phật có thuật ngữ: “Không trụ hai
bên, ở trung đạo
”, đó chân thật là thiện lập phương tiện. Cái tâm đó mới
thanh tịnh, là chỗ mà chúng ta nên học theo. Trong lòng Phật Bồ Tát thanh tịnh
trừng thanh, vốn dĩ không một vật, không một ý kiến nào; một chút thành kiến
cũng không có.


Thích Ca Mâu Ni
Phật
chúng ta giảng kinh nói pháp suốt bốn mươi chín năm cũng không có ý
riêng. Việc này mọi người phải biết. Phật ở hội Bát Nhã nói, Ngài không giảng
kinh
, nếu có người nói Phật giảng kinhbáng Phật. Chúng ta xem chú giải kinh
Hoa Nghiêm
của đại sư Thanh Lương, Phật nói kinh là thuật lại chứ không sáng
tác
, Phật hoàn toàn không giảng kinh. Ngài chỉ nói ra những gì cổ Phật đã nói,
không phải chính Ngài nói, không có ý riêng của Ngài. Đó là thánh nhân xuất thế
gian
.


Thánh nhân thế
gian
như Khổng Lão Phu Tử của Trung Quốc, cả đời Phu Tử cũng có thái độ như
vậy, thuật lại chứ không sáng tác. Ông chuyển cáo của cổ thánh tiên hiền cho
mọi người, không có ý của riêng mình. Thích Ca Mâu Ni Phật nói bốn mươi chín
năm không phải là lời của chính mình. Nhưng xin nói với các vị, chân thật
chính mình. Vì sao? Những điều Ngài nói lưu xuất từ tự tánh, không phải lưu
xuất từ tâm ý thức. Lưu xuất từ tâm ý thức mới là có ý riêng. Những gì Ngài nói
đều từ chân như bổn tánh.


Các vị phải
biết, tâm ý thức mỗi người không giống nhau, nhưng chân như bổn tánh thì đều
như nhau. Do đây mà biết, từ tự tánh Thích Ca Mâu Ni Phật lưu xuất ra cũng là
từ tự tánh của chúng ta lưu xuất. Đến một ngày chúng ta minh tâm kiến tánh, sau
đó mở kinh điển thì thảy đều là thứ từ tự tánh của chính mình, mới biết kinh
quyển
không phải chuyên lợi của Thích Ca Mâu Ni Phật, mà tất cả chúng sanh đều
có. Bạn xem, mật thiết dường nào. Ngài kiến tánh rồi, chúng ta kiến tánh sẽ
cùng Ngài kiến tánh không hề khác biệt. Chúng ta đem công đức tu hành từ vô
lượng
kiếp của Ngài biến thành công đức của chính mình. Công đức chúng ta tu
tích được cũng có thể biến thành công đức của người khác. Đến lúc đó không còn
chướng ngại, “ta và người không hai”, “sanh Phật không hai”, tức
chúng sanh cùng Phật không hai.


Hiển thị
tam thừa
”. “Hiển” là minh hiển, “thị” là thị hiện. Pháp tam
thừa
thị hiện, là pháp phương tiện. Thế Tôn sau cùng trong kinh Pháp Hoa đưa
ra kết luận: “Duy hữu nhất
thừa pháp, vô nhị diệc vô tam, trừ Phật phương tiện thuyết
”. Chỗ này rất
rõ ràng, “tam thừa” là Phật phương tiện nói, còn chân thật nói thì chỉ
có pháp nhất thừa. Cái gì gọi là nhất thừa? Thành Phật gọi là nhất thừa. Bổn
nguyện của chư Phật Như Lai đều hy vọng chúng ta cùng tất cả chúng sanh ngay
một đời này thành Phật, không hề dạy chúng ta làm Bồ Tát, A La Hán. Kỳ vọng của
các Ngài đối với chúng ta rất đáng cảm kích. Vấn đềchúng ta có làm được hay
không. Đáp án phải khẳng định, tất cả chúng sanh nhất định đều có thể chứng quả
Phật cứu cánh viên mãn. Vấn đề ở chính bạn, bạn có chịu tin vào bản thân mình
hay không? Nếu không tin chính mình thì không còn cách nào.


Trong nhà Phật,
tíntrước tiên là tin chính mình. Trong A Di Đà kinh Yếu Giải của Ngẫu
Ích đại sư giảng sáu cái “tín”, thứ nhất là tin chính mình. Không có
lòng tin đối với chính mình, không tin tưởng ngay một đời này mình có thể làm
Phật
, thì tất cả chư Phật cũng không còn cách nào, bạn nhất định không thể
thành Phật. Mấu chốt này rất lớn, đây là điều kiện thứ nhất. Tín thứ hai mới là
tín tha”, tin tưởng Thích Ca Mâu Ni Phật, tin tưởng A Di Đà Phật. Tin
tưởng
lý luận, phương pháp, cảnh giớiThích Ca Mâu Ni Phật đã nói là chính
xác
, quyết không sai lầm. Ta chịu y giáo phụng hành, tin tưởng bốn mươi tám
nguyện
của A Di Đà Phật, nguyện nguyện đều hiện thực, ta y theo pháp môn này để
tu thì Ngài nhất định sẽ đến tiếp dẫn ta vãng sanh bất thoái thành Phật, đó là
tín tha.


Phật pháp không
giống các tôn giáo khác. Đối với tôn giáo khác, việc đầu tiên là phải tin Thần,
không tin chính mình. Có năm tôi hoằng pháp ở Hoa kỳ, gặp một số mục sư Ki Tô
giáo. Họ nói tịnh độ tông chúng ta rất giống Ki Tô giáo của họ. Tôi hỏi giống
chỗ nào? Họ nói: “Đều là chữ tín,
chúng tôi tin Thiên Chúa, các vị tin A Di Đà Phật
”. Tôi nói
không giống nhau. Họ hỏi tại sao không giống nhau? Tôi nói, chúng tôi trước tiên
tin chính mình, thứ hai mới tin A Di Đà Phật. Các vị hoàn toàn tin tưởng Thiên
Chúa, không có lòng tự tin thì làm sao như nhau được? Nhất định phải xây dựng
lòng tự tin, tin tưởng Phật đã nói. Phật chân thật hy vọng mọi người ngay trong
đời
viên mãn thành Phật, pháp môn tịnh độ chân thật là “thiện lập phương
tiện
”. Bốn chữ này nói được đến chỗ cứu cánh.


Lý luận của
pháp môn này, hiểu hay không hiểu không hề gì. Không hiểu cũng có thể thành
tựu
. Bạn nói xem, pháp này thuận tiệnthiện xảo dường nào! Không hiểu đều có
thể thành tựu, miễn thành thật mà niệm. Vậy vì sao chúng ta còn phải giảng
kinh? Chúng ta giảng kinh bởi vì mọi người không có phước. Thế nào mới là có
phước? Người thành thật niệm là có phước. Ngày ngày chỉ một câu A Di Đà Phật
không nghĩ đến bất cứ thứ gì. Chúng ta không có phước báu vì từ sớm đến tối
nghĩ tưởng xằng bậy, cho nên cần giảng kinh. Bạn nghe, bạn giác ngộ, tường tận,
sau đó một ngày từ sớm đến tối không còn nghĩ tưởng xằng bậy, không còn một
vọng niệm nào, chỉ có câu A Di Đà Phật, thì ba tạng, mười hai bộ đều xem thành
rác rưởi, không cần đến. Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh bốn mươi chín năm cũng
là lời thừa.


Cho nên Phật độ
chúng sanh có hai loại người dễ độ nhất. Một là thượng căn lợi trí, khuyên họ
thì họ liền thông đạt tường tận, một vọng niệm cũng không còn, cứ trung thực
niệm. Một loại nữa là người ngu hèn. Ngu hèn là gì? Họ không muốn hiểu, bảo họ
niệm thì họ trung thực niệm, một ngày từ sớm đến tối không có bất cứ vọng niệm
nào, loại người này có thể thành công. Khó độ nhất chính là ở giữa hai loại người này. Chúng ta
thuộc về loại người ở giữa, rất phiền phức. Cho nên, Thế Tôn bốn
mươi chín năm khổ cực cần lao đều vì loại người chúng ta. Ngài không thể không
đem đạo lý, phương pháp, cảnh giới nói một cách tỉ mỉ. Chúng ta thật tường tận,
thật thông suốt thì mới chịu buông bỏ. Buông bỏ chính là đại phước báu.


Thế gian, loại
người nào có phước báu lớn nhất? Người không vọng niệm là có phước báu, tuyệt
đối
không phải người địa vị cao, nhiều của cải, đó không phải phước báu. Hiện
tiền
tuy hưởng thụ đời sống vật chất nhưng bạn hưởng được mấy năm? Chết rồi làm
sao? Luân hồi ba cõi sáu đường, vậy sao xem là có phước. Còn người trong lòng
không một vọng tưởng, từ sớm đến tối nhớ Phật niệm Phật, qua vài năm họ liền
làm Phật, vậy mới gọi là đại phước báu. Chân thật thông hiểu tường tận, lúc đó
bạn mới biết niệm Phật đường công đức thù thắng không gì bằng. Cho nên Phật nói
tam thừaphương tiện nói, ngũ thừa càng không cần phải nói. Mục đích Phật
dạy chúng ta chỉ một đời thành Phật.


Có người hoài
nghi
bản thân ngu si,
tạo nghiệp chướng rất nặng, tội nghiệp rất sâu thì có thể thành hay không? Kinh
nói, một câu Phật hiệu tiêu tám mươi ức trọng tội sanh tử. Các vị niệm một ngày
một đêm bao nhiêu niệm? Theo đó tính xem số lượng niệm này tiêu được bao nhiêu
tội nghiệp? Không thể nghĩ bàn. Lời Phật nói là thật, không phải giả, đích thực
hiệu quả như vậy. Thế nhưng đã niệm một ngày một đêm rồi mà vì sao nghiệp
chướng
vẫn nặng. Vì nghiệp chướng của bạn quá nhiều, một ngày một đêm tiêu đáng
kể
nhưng nghiệp chướng nguyên gốc của bạn so với đây không biết gấp bao nhiêu
lần, bạn vẫn còn phải tiếp tục tiêu nghiệp. Ngày ngày đến niệm, ngày ngày tiêu
nghiệp, đạo lý chính là như vậy. Nghiệp chướng dù có nặng hơn nhưng nếu tiếp
tục
không ngừng, “không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn”, niệm
ba năm thì tội nghiệp vô lượng kiếp của bạn thảy đều tiêu hết.


Làm sao biết
tội nghiệp tiêu hết? Bạn vãng sanh tự tại, đứng mà đi, ngồi mà đi, sanh đến thế
giới
Tây Phương Cực Lạc không phải cõi
phàm thánh đồng cư
mà đều vãng sanh cõi thật báo. Trong kinh có nói ba bậc vãng
sanh
, bạn thuộc thượng
phẩm
vãng sanh, như
vậy mới biết câu Phật hiệu này tiêu nghiệp chướng không thể nghĩ bàn.


Khoảng năm Càn
Long đầu nhà Thanh, pháp sư Từ Vân Quán Đảnh nói trong chú giải kinh Quán Vô
Lượng Thọ
, còn gọi là
Quán kinh Trực Chỉ, thâu tập từ Đại tạng kinh. Ngài nói, nghiệp chướng của
chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay cực trọng, bất cứ kinh luận nào trong Phật
pháp
, bất cứ sám pháp nào đều không sám trừ được. Ví dụ một người bị bệnh nặng,
tất cả thuốc men đều vô hiệu, chỉ còn một phương pháp duy nhấtniệm Phật
thể tiêu trừ. Như vậy bạn mới biết công đức niệm Phật rất lớn, pháp môn niệm
Phật
thù thắng đến vậy.


Tôi đọc qua chú
giải
cảm thấy bội phục. Nếu Ngài không phải là người tái sanh thì không thể khế
nhập được cảnh giới và không thể nói ra câu nói này. Trong đạo Phật, pháp sư
Quán Đảnh được xem là nhà thông thái; Tông, Giáo, Hiển, Mật, Ngài đều quán
thông
. Trước tác của Ngài rất phong phú. Trong Vạn Tự Tục Tạng kinh thâu tập
khá đầy đủ, khoảng hơn ba mươi loại. Ngài có cả chú giải kinh Lăng Nghiêm. Từ
xưa đến nay, Lăng Nghiêm thần chú trong kinh Lăng Nghiêm không người nào chú
giải
, nhưng trong chú giải của Ngài, ngay đến Lăng Nghiêm thần chú Ngài cũng
chú giải, cho nên xưa nay chú giải Lăng Nghiêm thần chú chỉ có một mình Ngài.


Như vậy, tam
thừa
là Phật phương tiện nói, nhất thừa mới là nói thật. Pháp nhất thừa chính
niệm Phật vãng sanh tịnh độ. Mười phương tất cả chư Phật Như Lai đều khuyên
người niệm Phật, đều giảng kinh tịnh độ, các kinh điển khác không nhất thiết giảng vì phải xem khế
. Không khế cơ, Phật sẽ không nói, chỉ có tịnh độ ba kinh thì nhất định phải
nói. Vì sao? Vì khế cơ được tất cả chúng sanh, cho nên chư Phật Như Lai giảng
ba kinh tịnh độ, đồng thời khuyên người niệm Phật cầu sanh tịnh độ. Trừ khi bạn
không tin tưởng, không ưa thích thì Phật mới khai mở pháp môn khác, khai ba
thừa
. Điều này hiển thị rõ: “Phật thị môn trung, bất xả nhất nhân”. Bạn
không cầu vãng sanh mà cầu thứ khác cũng được, Phật vẫn dạy bạn. Thậm chí bạn
cho rằng làm người không tệ, Phật cũng dạy bạn đời sau có được thân người. Bạn
muốn sanh thiên, Phật liền dạy bạn phương pháp sanh thiên. Bạn thấy, Phật đích
thực không cố chấp, không thành kiến. Phật không yêu cầu chúng sanh tùy thuận
Ngài, ngược lại Ngài có thể tùy thuận tất cả chúng sanh.


Chỗ này chúng
ta
phải học tập để tùy thuận người khác, không nên yêu cầu người khác tùy thuận
mình. Không học thì thật đáng tiếc. Đây cũng là một điều trong mười đại nguyện
vương của Bồ Tát Phổ Hiền.


“Ư thử trung
hạ, nhi hiện diệt độ”


Đây là tướng
thứ tám, “Nhập Bát
Niết Bàn
”. Chỉ có hai câu mà ý nghĩa rất sâu rộng. Phật Bồ Tátdiệt độ
hay không? Xin nói với các vị, không có. Phật đã chứng không sanh không diệt
thì làm gì còn sanh tử. Sanh tử chỉ là thị hiện, giống như biểu diễn trên sân
khấu, lên đài xuống đài là biểu diễn, không phải thật. Vì “ư thử trung hạ”,
đối với người căn tánh trung hạ mà diệt độ, xuất sanh. Còn người căn tánh
thượng đẳng thì họ rất rõ ràng, Phật “đến mà không đến, đi mà không đi”.
Kinh Bát Nhã nói “Như Lai giả”, ý nghĩa Như Lai là “Không có chỗ đến,
cũng không có chỗ đi
”. Như Lai là xuất sanh, “sanh mà không sanh, diệt
mà không diệt
”, căn bản
không có sanh
diệt
. Chúng ta sẽ bàn tỉ mỉ khi giảng đoạn “không sanh không diệt” ở
kinh Hoa Nghiêm.


Chư Phật Như
Lai
không có sanh diệt,
vậy chúng tasanh diệt không? Chúng ta cũng không có sanh diệt. Giả như
chúng tasanh diệt, vậy chúng ta khác chư Phật Như Lai rồi. Chúng ta chỉ
khác chư Phật Như Laimê ngộ mà thôi. Ngoài mê ngộ ra, không có thứ
nào khác nhau. Thí dụ không sanh không diệt, chư Phật Như Lai rõ ràng tường
tận, vì các Ngài giác, còn
chúng ta không rõ ràng, không tường tận nên cho rằng thật có sanh diệt, vậy là hiểu sai.
Nói thật thì không người nào hiểu, mọi người sẽ kháng nghị, cho rằng tôi nói năng xằng bậy.
Còn tôi nói giả thì liền gật đầu thừa nhận. Bạn nghĩ xem, vậy còn cách nào?


Chư Phật Như
Lai
chỉ có ở trên hội Hoa Nghiêm nói thật với những vị pháp thân đại sĩ. Họ đều
gật đầu. Nói giả thì họ lắc đầu. Ngược lại trường hợp chúng ta, nói giả thì gật
đầu
, nói thật thì lắc đầu. Đây là điểm khác nhau giữa chúng ta với chư Phật Bồ
Tát
, đều ở hai chữ “mê ngộ”. Tất cả vạn sự vạn pháp, thể tánh, hiện
tướng
, tác dụng không liên quan với mê ngộ. Mê ngộ là ở người, mê ngộ
không ở pháp, hay nói cách khác, trong pháp khôngmê ngộ. Chính bởi đạo lý
này, nên Phật mới nói “chỉ nói pháp Nhất thừa”. Tất cả chúng sanh đích
thực có thể bình đẳng thành Phật. Trên từ Bồ Tát Đẳng Giác, dưới đến địa ngục A
Tỳ
đều bình đẳng thành Phật,
vậy thì còn gì sánh bằng.


Khiến tất cả
chúng sanh bình đẳng thành Phật thì nương vào pháp môn gì? Xin nói với các vị,
bất cứ pháp môn nào cũng làm đến được, “pháp môn bình đẳng, không phân cao
thấp
”. Thế nhưng căn tánh của chúng sanh không như nhau. Từ ở nơi căn tánh
của chúng sanh mà nói, để bình đẳng thành Phật chỉ có “pháp môn niệm Phật
thù thắng nhất. Còn nếu trên lý luận mà nói thì bất cứ pháp môn nào cũng đều
như nhau. Căn tánh, cơ duyên không như nhau, gặp các pháp môn đó vẫn không thể
thành tựu, không hề thuận tiệnthù thắng như pháp môn này. Cho nên Thế Tôn
thị hiện tám tướng thành đạo đều đối với người căn tánh trung, hạ mà thị hiện,
còn hàng thượng căn thì không. Chúng ta từ ngay trong biểu diễn của các Ngài mà
thể hội, giác ngộ, hay đại triệt đại ngộ.


“ĐẮC VÔ SANH VÔ DIỆT CHƯ TAM MA ĐỊA;
CẬP ĐẮC NHẤT THIẾT ĐÀ LA NI MÔN; TÙY THỜI NGỘ NHẬP HOA NGHIÊM TAM MUỘI; CỤ TÚC
TỔNG TRÌ BÁCH THIÊN TAM MUỘI”


“Đắc vô sanh vô
diệt
chư tam ma địa”


Đoạn nhỏ này
nói: “Định huệ đẳng
trì
”. Kinh văn tuy không dài nhưng ý nghĩa rất sâu rộng.
Những Bồ Tát này vì tất cả chúng sanh thị hiện tám tướng thành đạo. Phật pháp
Đại thừa nói, Bồ Tát Viên Giáo Sơ Trụ đã có năng lực này. Vậy thì công phu của
Bồ Tát Sơ Trụ đoạn được kiến tư phiền não, trần sa phiền não, phá một phẩm
minh
. Đáng dùng thân gì để độ, họ liền thị hiện ra thân phận đó. Phá một phẩm
vô minh, họ có thể ứng hoá trăm ngàn ức thân. Nếu chúng ta muốn thành tựu công
đức
lợi ích thù thắng như vậy thì không tu không được. Chúng ta ngưỡng vọng,
muốn nhanh đạt có được không? Được. Niệm Phật vãng sanh thế giới Tây Phương Cực
Lạc
thì đạt được, hơn nữa còn thù thắng hơn nhiều so với Bồ Tát Viên Giáo
Trụ
. Đó là điểm không thể nghĩ bàn của pháp môn tịnh độ.


Vãng sanh thế
giới
Tây Phương Cực Lạchạ hạ phẩm vãng sanh, thực tế kiến tư phiền não một
phẩm chưa phá thì dựa vào cái gì để vãng sanh? Dựa vào công phu nhớ Phật niệm
Phật
, làm cho phiền não bị khống chế, không phải đoạn phiền não. Đoạn phiền não
rất khó, một đời chúng ta không dễ gì làm được. Trong vô lượng pháp môn, tiêu
chuẩn
đều phải đoạn phiền não, chỉ có pháp môn niệm Phật không cần, mà chỉ yêu
cầu
bạn phục phiền não. Phục phiền não dễ hơn nhiều so với đoạn phiền não. Mỗi
vị đồng tu đều có thể làm được, vấn đề là bạn không chịu làm thì không cách gì.
Chỉ cần nhớ Phật niệm Phật, công phu sâu thì liền có thể phục phiền não.


Vừa rồi tôi nói
qua, có sự thật làm chứng cứ, bạn xem từ xưa đến nay người niệm Phậtniệm
Phật
đường niệm ba năm, năm năm thành tựu, số người quá đông không biết bao
nhiêu mà kể. Niệm Phật đường này nhất định đúng pháp, mọi người cùng ở với nhau
đều một phương hướng, một mục tiêu niệm Phật cầu sanh tịnh độ. Họ y theo
luận
nguyên tắc trong kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đàtu học. Niệm Phật
đường đúng lý đúng pháp chỉ ba đến năm năm thì thành tựu vượt bậc, thế gian
không gì có thể so sánh, thậm chí xuất thế gian Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát
cũng đều không thể so sánh.


Sanh đến thế
giới
Tây Phương Cực Lạc là như thế nào? Kinh giảng rất rõ: “Đều là A Duy
Việt Trí
Bồ Tát
”. Câu nói này ở trong bốn mươi tám nguyện, do A Di Đà
Phật
nói. Văn kinh thì do Thích Ca Mâu Ni Phật chuyển nói. Hai vị Phật đều
giảng như vậy, chúng ta còn không tin hay sao? A Duy Việt TríBồ Tát Thất
Địa
trở lên, tức một phẩm phiền não chưa đoạn, hạ hạ phẩm vãng sanh đến thế
giới
Tây Phương Cực Lạc, được oai thần bổn nguyện của A Di Đà Phật gia trì nên
trí tuệ, thiền định, thần thông, đạo lực của mình gần giống Bồ Tát Thất Bát
địa
. Đó không phải chính mình chân thật tu được, mà do oai thần bổn
nguyện của A Di Đà Phật gia trì.


Chúng ta chỉ
cần nỗ lực thời gian ba đến năm năm sẽ thành công. Người ta dùng ba đến năm năm
đi học Phật học viện, khi học ra vẫn là phàm phu sanh tử, còn trong niệm Phật
đường ba đến năm năm thì làm Phật. Không thể so sánh.


Cho nên lợi hại
được mất phải đưa lên bàn cân đong đo tính đếm cho kỹ lưỡng, sau đó mới chọn
lựa trí tuệ chân thật. Không nên theo pháp thế gian, chỉ ở niệm Phật đường ba
đến năm năm sẽ được niệm Phật tam muội. Công phu thành khối là hạ phẩm trong
niệm Phật tam muội. Sự nhất tâm bất loạntrung phẩm niệm Phật tam muội. Lý
nhất tâm bất loạnthượng phẩm niệm Phật tam muội. “Đắc vô sanh vô diệt
chư tam ma địa
” chính là niệm Phật tam muội, cũng là công phu thành khối,
lợi ích không thể nghĩ bàn.


Vãng sanh thế
giới
Tây Phương Cực Lạc là không sanh không diệt. Người niệm Phậtniệm Phật
đường nếu hạ quyết tâm thì hiện tại đã không sanh không diệt, không cần đến thế
giới
Tây Phương Cực Lạc mới không sanh không diệt. Cảnh giới này là cảnh giới
hiện chứng của chúng ta, liễu sanh tử ra ba cõi chính ở hiện tiền, như Phật và
Pháp Thân Đại Sĩ đã chứng.


Tam ma địa
là tiếng Phạn, dịch thành ý Trung Quốcchánh thọ, hay chánh định. Thọ là
hưởng thọ, vô số cảm thọ ngay cuộc sống thường ngày của chúng ta, cái thọ này
bình thường, còn giản biệt cái thọ của phàm phu sáu cõi thì không bình thường.
Chúng ta trong cuộc sống thường ngày có vô số cảm thọ, Phật đem vô lượng
biên
cảm thọ quy nạp thành năm loại lớn. Năm loại lớn này phân thành hai loại
thân và tâm.


Thân có khổ
thọ
, lạc thọ. Cảm thọ nhiều hơn cũng không ngoài hai loại lớn này. Trong tâm có
cảm thọ, chúng ta gọi là đời sống tinh thần. Phật quy nạp thành hai loại buồn
vui. Ngoài ra còn một loại gọi là “xả thọ”. Thân không khổ vui, tâm cũng
không buồn lo. Thọ của tất cả chúng sanh trong sáu cõi luôn không ngoài năm
loại lớn này. Thực tế, xả thọ chính là chánh thọ. Nhưng tại vì sao không gọi
chánh thọ mà lại gọi là xả thọ? Vì xả thọ thời gian rất ngắn, không thể giữ dài
lâu, chỉ tạm thời xả khổ vui lo mừng. Nó không phải là thiền định chân thật,
không phải chánh thọ chân thật.


Người trời sắc
giới
, trời vô sắc giới đều trụ ở xả thọ. Trời vô sắc, trời Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng
là cao nhất, thọ mạng tám vạn đại kiếp. Thời gian quá dài ngoài sức tưởng
tượng. Các vị nên biết, một đại kiếpmột lần thành trụ hoại không của thế
giới
. Thế giới này thành trụ hoại không tám vạn lần, họ xả thọ thời
gian
dài đến vậy. Sau tám vạn đại kiếp, họ lại khởi tâm động niệm, lại có lo
mừng khổ vui, không vĩnh hằng. Do đó tứ thiền bát định, thế gian thiền định
thảy đều thuộc về xả thọ. Đến lúc nào mới có thể trở thành chánh thọ? Siêu việt
sáu cõi luân hồi. Trên hội Lăng Nghiêm, Thế Tôn đã nói: “A La Hán chứng cửu
thứ đệ định
”. Bát địnhtrời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, định thứ chín
siêu việt ba cõi sáu đường, lúc này gọi là chánh thọ. Họ không còn thoái chuyển
mà được chánh định chánh thọTam ma địa”.


Thông thường
chúng ta nói tất cả thiền định đều có thể nhiếp tâm, làm tâm lìa vui buồn, thân
lìa khổ vui, thân tâm an ổn gọi là Tam ma địa. Tuy nhiên, Tam ma địa chỗ này
cao cấp hơn bởi vì không sanh không diệt. Phàm phu chúng ta một phẩm phiền não
chưa đoạn, nếu muốn được cảnh giới này thì pháp môn thuận tiện nhất chính là
niệm Phật cầu sanh tịnh độ. Chỉ cần sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, bạn
sẽ liền chứng được Tam ma địa. Sự chứng đắc không nương vào công phu của chính
mình, cho nên pháp môn tịnh độ mới được gọi là pháp môn nhị lực. Sức mạnh của
chính chúng ta là nhớ Phật niệm Phật, khống chế tập khí phiền não của mình, đạt
công phu thành khối. Sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạctha lực, là sức
mạnh
của A Di Đà Phật. Pháp môn nhị lực này không có trong các pháp môn khác mà
chỉ có riêng ở tịnh độ.


“Cập đắc nhất
thiết
Đà La Ni môn”


Đà La Ni
tiếng Phạn, dịch thành ý Trung Quốctổng trì. Tổng tất cả pháp, trì tất cả
ý. Dùng lời hiện tại mà nói thì tổng cương lĩnh của hết thảy Phật pháp gọi là
Đà La Ni môn. Nắm vững tổng cương lĩnh bạn sẽ đạt được. Thông thường giải thích
tổng cương lĩnh, chủ yếu là “tất cả ác không sanh, tất cả thiện thêm lớn”.
Tuy nhiên, ngày nay chúng ta niệm Phật thì tất cả Đà La Ni Môn chính là chấp
trì danh hiệu
. Các vị thử nghĩ xem, một ngày từ sớm đến tối một câu Nam Mô A Di
Đà Phật
, mọi ý niệm khác thảy đều không có, vậy ý niệm không có chính là việc
ác không sanh. Không cần nói tạo ác, ý niệm ác cũng không có. Chỉ một câu vạn
đức hồng danh
là thế xuất thế gian đệ nhất thiện pháp. Từng câu từng câu tiếp
tục
niệm là tăng trưởng thiện pháp.


Các vị bước vào
niệm Phật đường liền được Đà La Ni môn. Tuy khi rời khỏi niệm Phật đường công
phu
liền mất hết, hoặc sẽ loạn lên, nhưng trong một tuần lễthời gian một
ngày “không sanh không diệt các tam ma địa, tức đắc tất cả đà la ni môn
cũng coi như rất cừ khôi. Mỗi tuần đến luyện một lần. Sau hai, ba năm công phu
của bạn sẽ rất cao. Còn nếu rảnh rỗi, ngày ngày tiếp nhận huấn luyện thì ba năm
bạn liền thành Phật,
tội nghiệp trong vô lượng kiếp đều sẽ tiêu sạch trơn.


Trong vãng sanh
truyện
, chúng ta thấy rất nhiều người niệm Phật vãng sanh. Có người đứng mà đi,
ngồi mà đi, biết trước giờ chết, không bị bệnh. Họ ra đi hoan hỉ, tự tại, nhờ
công phu gì? Đều nhờ công phu niệm Phật thành tựu. Một số người lại bảo, vào
niệm Phật đường này niệm ba năm phải chết, không nên đi. Như vậy thì còn gì để
nói? Loại ý niệm mê hoặc điên đảo, xả không được sáu cõi luân hồi, xả không
được ba đường ác thì vẫn phải tiếp nối cảnh giới tham sống sợ chết. Vọng niệm
chưa xả bỏ chắc chắn sẽ còn sanh tử.


Pháp môn niệm
Phật
không có sanh tử, bạn không nên cho rằng đó là chết. Vãng sanh là sống mà
vãng sanh, chết thì không thể vãng sanh, nên pháp môn này mới gọi là không sanh
không
diệt. Khi vãng sanh, bạn rõ ràng tường tận, thông suốt thấu đáo. Phật đến
tiếp dẫn, ta cùng đi với Phật, không cần túi da thối này nữa. Đến thế giới Tây
Phương Cực Lạc
phải đổi thân kim sắc tử ma, tướng mạo trang nghiêm giống y
tướng mạo của A Di Đà Phật. Thân vô lượng tướng, tướng vô lượng vẻ đẹp.


Tướng của chúng
ta
thật quá xấu, đến nơi đâu cũng không có người hoan nghênh nên chúng ta phải
đổi thân này thành thân tướng hảo. Đến thế giới Tây Phương Cực Lạc là sống mà
ra đi, quyết không phải chết mà đi. Cho nên tôi thường nói, pháp môn của chúng
ta
pháp môn không già, không bệnh, không chết. Chỉ cần bạn niệm Phật đến tâm
địa
thanh tịnh thì bất cứ bệnh khổ nào cũng sẽ niệm tiêu, bạn sẽ không bị bệnh,
cũng không già yếu, ngày ngày hoan hỉ. Hoan hỉ thì sẽ trẻ trung.


Vì sao con
người
già? Lo buồn thì già. Người xưa cũng nói: “Lo có thể khiến
cho người già
”. Bạn hay lo buồn sẽ dễ dàng lão hoá. Hay hoan hỉ thì
làm sao già! Ở niệm Phật
đường buông bỏ tất cả thân tâm thế giới, pháp hỉ sung mãn, bạn sẽ không già
không bệnh không chết mà đi làm Phật. Hơn nữa, khi công phu chín muồi thì sanh
tử
tự tại, muốn lúc nào đi ngay lúc đó, muốn ở thêm vài năm cũng không ngại gì.
Sau khi công phu thuần thục, đó không phải là thân nghiệp báo. Ngày nay chúng
ta
muốn ở thêm vài năm cũng không được. Thọ mạng đến rồi không đi không được,
đi không tự tại, hoặc thọ mạng chưa đến muốn chết cũng không chết được, rất
phiền phức.


Công phu niệm
Phật
thành tựu, bạn liền tự tại, lúc đó bạn biết chính mình phải làm thế nào.
Có ở thêm vài năm nữa trên thế gian cũng chỉ vì lý do độ chúng sanh. Bạn vì
giúp đỡ những chúng sanh có duyên với mình nên ở thêm vài năm, đó mới là lý do.
Quyết không phải do ham thích hưởng thụ. Hưởng thụ thế gian làm gì sánh được
với thế giới Tây Phương Cực Lạc. Chỗ này của chúng ta, phòng ốc đều không tệ,
nhưng ở thế giới Tây Phương Cực Lạc thì phòng này không có người nào muốn ở.
Tất cả đều là cung điện bằng bảy báu. Bên trên phòng chúng ta chỉ họa một số
phù điêu, thiếp vàng trên giấy vàng rất mỏng dán một lớp. Còn những đồ vật ở
thế giới Tây Phương Cực Lạc đều thuần vàng. Đất bằng lưu ly. Lưu ly chính là
ngọc tỉ thúy màu xanh trong suốt, loại quý nhất trong các loại ngọc. Từ mặt đất
có thể nhìn thấu xuống lòng đất. Vàng ròng để đắp đường. Như vậy bạn còn gì lưu
luyến
thế gian này.


Việc ăn uống,
kinh nói, ý niệm vừa nghĩ muốn ăn thứ gì thì đồ ăn đã bày ra trước mắt. Chúng
ta
không còn là phàm phu sáu cõi; ý niệm muốn ăn là tập khí ở sáu cõi; khi tập
khí
khởi lên, nó tự nhiên liền hiện hành. Vừa giác ngộ thì lập tức không còn,
biến mất sạch sẽ tinh khiết. Cho nên thế giới Tây Phương Cực Lạc không có nhà
bếp, cũng không có rác rưởi. Vô cùng tự tại.


Cung điện của
bạn ở sạch sẽ tinh khiết, trống rỗng không có bất cứ thứ gì. Bạn muốn thứ nào
thì thứ đó hiện ra, khi không cần nữa thì không còn. Làm gì giống chúng ta hiện
tại
đồ đạc để lộn xộn rối rắm, dọn dẹp cũng rất phiền.


Tuy nhiên,
người đã công phu tới tại sao không mau đi hưởng phước mà cứ lưu lại nơi đây? Đó là họ xả
mình vì người, giúp đỡ một số chúng sanh, có duyên mang theo nhiều người cùng
đi. Còn nếu họ không có những duyên phận này với chúng sanh thì khi công phu
thành tựu, không ai không chịu đi sớm.


Người thông
thường chúng ta muốn đi không được. Chân thậtnăng lực thì ai mà chẳng hy
vọng
đi sớm để sớm một ngày thấy Phật. Sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc,
mỗi ngày bạn không chỉ cúng dường mười vạn ức Phật như trên kinh, mà thực tế
mỗi ngày bạn cúng dường vô lượng vô biên chư Phật. Thế Tôn nói mười vạn ức là
chúng sanh thế giới mà nói. Vì chúng sanh thế giới này tình chấp sâu nặng,
sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc luôn nghĩ đến địa cầu từ trước là quê
hương của mình, nên cần quan tâm một chút đến quê hương hiện tại. Lúc nào bạn
cũng có thể quay lại địa cầu để thăm viếng. Phật nói pháp dụng ý ở chỗ này, năng
lực
thực tế siêu vượt hơn đây rất nhiều lần. Thế giới Tây Phương tốt đẹp như
vậy, đến đó thành tựu thù thắng như vậy, vì sao chúng ta không chịu đi?


Nếu chúng ta tu
các pháp môn khác sẽ không dễ gì đạt, nhưng tu pháp môn tịnh độ thì rất dễ đạt.
Cho nên đối với các pháp môn khác, Bồ Tát trong các pháp môn khác nói chân thật
là pháp khó tin. Không vào cảnh giới thì họ không tin, “nan tín chi pháp”.
Chúng tôi nói với mọi người, niệm Phật đường này thù thắng. Họ nghe không tin,
đến khi ở đây niệm Phật vài ngày họ mới tin tưởng. Ngay đến việc nhỏ xíu như
vậy mà họ còn khó tin, huống hồ kinh Phật nói cảnh giới viên mãn thù thắng. Cho
nên tỉ mỉ mà thể hội, đem việc nhỏ so sánh với những việc thù thắng, chúng ta
mới có thể thể hội một chút, tăng thêm một chút tín tâm, tăng thêm nguyện lực.
Tín nguyện niệm Phật cầu sanh tịnh độ nhất định sẽ thành tựu.


(Còn tiếp …)


KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC


Pháp sư: HT. TỊNH KHÔNG


Biên dịch: Vọng Tây cư sĩ


Biên
tập
: PT. Giác Minh Duyên