Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 21)

0
10

KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 21)



Pháp
Tịnh Không


 


Nguyện
thứ bảy, “Thỉnh Phật trụ thế”


Điều
này cũng vô cùng quan trọng. Hiện tại Phật không còn ở thế gian cho nên chúng
ta
chỉ có thể đắp nắn tượng Phật để cúng dường, tượng trưng cho Phật pháp
thường trụ thế gian. Những vị pháp sư đại đức thay Phật nói pháp, chúng ta phải
mời họ lưu lại nơi này để giảng kinh nói pháp lâu dài thì chúng ta mới nhận
được lợi ích chân thật. Các vị thử nghĩ xem, có mấy người nghe một bộ kinh liền
khai ngộ? Không hề có, vậy phải làm sao? Ngày ngày phải nghe. Chúng ta ngày
nay, phước báu không bằng người xưa. Thời xưatòng lâm tự viện của Trung
Quốc
, mỗi ngày giảng kinh không hề gián đoạn. Tự viện luôn có giảng đường.


Lịch
sử
ghi chép, đại sư Thanh Lương năm xưa giảng kinh Hoa Nghiêm, có thể nói trước
đó và sau đó không ai giảng bằng ngài. Cả đời đại sư giảng qua năm mươi lần.
Người thân cận với đại sư Thanh Lương nếu có lòng nhẫn nại nghe qua năm mươi lần
thì có lý nào không thành tựu. Một biến giảng qua chí ít là một năm. Nghe năm
mươi biến phải mất năm mươi năm. Năm mươi năm, ngày ngày huân tập thì có lý nào
mà không khai ngộ.


Chúng
ta
ngày nay nghe kinh khó khăn là do đâu? Một ngày nóng, đến mười ngày lạnh,
mỗi ngày giảng kinh, huân tập không quá hai giờ đồng hồ. Hai mươi bốn giờ chỉ
hai giờ nghe kinh, vẫn còn hai mươi hai giờ khởi vọng tưởng, bạn nói xem làm gì
thành tựu. Pháp sư tòng lâm thời xưa mỗi ngày giảng kinh tám giờ đồng hồ.
Một bộ kinh Hoa Nghiêm giảng tám giờ mỗi ngày, một năm giảng được viên mãn cả
bộ. Chúng ta mỗi ngày giảng hai giờ thì phải bốn năm mới được viên mãn. Đại sư
Thanh Lương quả thật hơn người, ngài sống trên trăm tuổi, người thời đó gọi là
Bồ tát Hoa Nghiêm. Ngoài ra, ngài và đại chúng còn ở niệm Phật đường, niệm Phật
tám giờ, làm gì còn thời gian để khởi vọng tưởng. Họ ở trong loại đạo tràng này
ba năm hiệu quả hơn chúng ta ngày nay tu hành ba mươi năm, đây gọi là “trường
kỳ
huân tu
”, sức huân tập quá lớn.


Vào
đầu năm dân quốc, đạo tràng Trung Quốc đại khái chỉ còn một nơi, đó là đạo
tràng
niệm Phật của Đại Sư Ấn Quang ở Chùa Linh Nham, Sơn Tô Châu. Đạo tràng
ngài không giảng kinh, không có pháp hội, không có kinh sám pháp sự, nhưng Phật
thất
suốt năm, một câu Phật hiệu niệm đến cùng. Mỗi ngày sáu cây hương, mỗi cây
hương một tiếng rưỡi. Sáu cây hương là chín giờ đồng hồ. Mỗi ngày niệm Phật
chín giờ. Ngày đêm không gián đoạn, buối tối thay phiên. Suốt năm tinh tấn Phật
thất
. Tinh tấn Phật thất của ngài là bảy lần bảy liên kết lại với nhau, thêm
chín thời hương niệm Phật. Cho nên phàm hễ ở trong niệm Phật đường Ấn tổ niệm
Phật
vài năm, không luận tại gia xuất gia đều vãng sanh có tướng tốt lạ. Sau
khi Ấn tổ vãng sanh, những lão pháp sư Diệu Chân, Đức Sâm kế thừa quy củ, duy
trì
được một khoảng thời gian. Sau năm kháng chiến, đạo tràng suy vi. Hiện tại
nếu chúng ta muốn xây dựng một đạo tràng mới đều không đủ cơ duyên. Chỉ có đạo
tràng
như vậy mới có thể rèn luyện được chúng sanh, mới chân thật thành tựu
chúng sanh
.


Cho
nên xây dựng đạo tràng công đức vô lượng vô biên. Phải xây dựng một đạo tràng
chân thật tu học, chân thật có người ở đó thành Phật, vãng sanh bất thoái thành
Phật
, thì công đức của đạo tràng đó sẽ rất lớn, thu hút đông đảo thiện tri thức
quan tâm và sẽ làm theo. Làm thế nào để thiện tri thức lưu lại nơi đây? Người
chân thật học Phật tu hành không có tình riêng, không nói nhân tình, cho nên
không dùng cách tiếp đãi tốt để giữ họ lại. Chúng ta dùng phương pháp y giáo
phụng hành. Chúng ta thật muốn học, thật muốn tu, mọi người cùng phát thật tâm,
cho dù không tìm được thiện hữu thì Phật Bồ Tát cũng sẽ hoá thân đến đây. Nhà
Phật thường nói “Phật thị môn trung, bất xả nhất nhân”, vậy người đó là
người thế nào? Chân thật muốn học, chân thật muốn tu, chân thật muốn ngay đời này
thành Phật. Đây chính là đại tâm phàm phuHoa Nghiêm đã nói. Đã đại tâm phàm
phu
thì làm gì có chuyện chư Phật Như Lai không chiếu cố, vấn đềchúng ta
phát ra chân tâm không, như vậy mới có thể cảm động thiện tri thức thường trụ
khu vực này, để chúng tacơ duyên huân tu lâu dài, mới có thể được lợi ích
chân thật.


Thành
lập
kênh truyền hình Phật pháp


Ngày
nay khoa học phát triển, người ta hiểu hộ pháp quá ít. Hộ phápBồ tát, không
phải người thường. Hiện tại người thật có đại trí tuệ, đại phước báu, không cần
xây đạo tràng, mà nên xây đài truyền hình vệ tinh, giảng kinh hai mươi bốn giờ
không ngừng nghỉ để người trên toàn thế giới đều xem được. Họ không cần đến đạo
tràng
mà chỉ ở nhà mở truyền hình. Nếu họ chân thật muốn học Phật, mỗi ngày có
thể nghe kinh tám giờ đồng hồ.


Bồi
dưỡng
một số pháp sư cũng giống như tổ chức một đoàn hoằng pháp. Chỉ cần mười
mấy, hai mươi vị là đủ. Những vị pháp sư này ngày ngày trong phòng thu âm,
giảng kinh ghi hình. Sau đó băng ghi hình được mang đến đài truyền hình vệ tinh
phát sóng. Đó là đại đạo tràng khoa học kỹ thuật cao. Chúng ta phải xây dựng
như vậy. Không nên tốn nhiều tiền xây chùa, đem tiền chôn xuống đất thật đáng
tiếc, không có tác dụng lớn. Chúng ta phải đem số tiền đó dùng vào nơi hữu
dụng. Quan trọng nhất là bồi dưỡng giảng sư, thu âm giảng kinh ghi hình. Thiết
bị phòng thu âm phải chuyên nghiệp. Ngoài ra, ngày thường chúng ta cũng cúng
dường
những vị pháp sư này trên đời sống vật chất để họ không hề lo lắng, tâm
có thể an địnhnghiên cứu Phật pháp Đại thừa, giảng từng bộ đều ghi hình thu
âm, tương lai sẽ là một bộ Đại Tạng kinh sống. Bạn nghĩ xem ý nghĩa đến dường
nào, bất cứ nơi nào, chúng sanh thích nghe kinh gì thì chúng ta liền phát ra
kinh luận đó.


Ngoài
giảng kinh nói pháp, chúng ta còn giúp người niệm Phật. Hai mươi bốn giờ Phật
hiệu
không gián đoạn, tượng Phật trang nghiêm nhất hiển thị trên màn hình tivi.
Khán giả xem thấy Phật A Di Đà, nghe được Phật hiệu của A Di Đà liền theo đó mà
niệm. Ở nhà cũng có thể tu Phật thất, cũng có thể một ngày nghe kinh tám giờ,
niệm Phật tám giờ. Bạn thấy phước báu của chúng ta không hề khác biệt người
xưa. Người xưa tốn nhiều sức lực xây dựng rất nhiều đạo tràng mới có thể phổ độ
chúng sanh
. Ngày nay chúng ta dùng một đài truyền hình vệ tinh là đủ. Không mua
kênh của người khác, vì sẽ phải bị người ta khống chế thời gian. Nếu các vị
chân thậttài lực, có loại trí tuệ này thì nên làm một kênh chuyên nghiệp,
truyền thanh truyền hình vệ tinh của Phật giáo, phát sóng trên toàn thế giới.


Ngày
nay chúng ta chưa đủ sức thì cũng đem cách nghĩ cấu tưởng này truyền đạt cho
mỗi vị đồng tu. Mọi người đều có chung ý niệm, mỗi người thường hay nghĩ thì sự
việc sẽ thành công, tâm tưởng sự thành. Nếu chỉ có một người nghĩ thì sức mạnh
rất yếu kém. Mọi người cùng nghĩ đến thì Phật sẽ giúp. Lý cư sĩ thường nói, tuy
chúng ta không có phước báu nhưng Phật A Di Đà có phước báu. Xây dựng một đạo
tràng
lớn như vậy cần tốn bao nhiêu tài lực?, dù không dám nghĩ đến tài lực
nhưng chúng ta vẫn cứ tiếp tục nghĩ. Phật A Di Đà sẽ đưa tiền đến, cần bao
nhiêu ngài sẽ đưa đến bấy nhiêu, nhất định sẽ thành tựu. Đó là mục đíchthỉnh
Phật trụ thế
”, một việc vô cùng quan trọng.


Thành
lập
viện dịch kinh


Thế
giới
hiện tại do vì giao thông thuận tiện, các mặt đời sống mở rộng, mỗi khu
vực đều cần phảiPhật pháp. Chúng ta làm gì có nhiều giảng sư đến các nơi để
giảng kinh nói pháp. Việc đó vô cùng khó khăn. Cho nên nhờ vào khoa học kỹ
thuật, số ít giảng sư cũng có thể đem Phật pháp phổ biến đến toàn thế giới. Nếu
cơ duyên hơn nữa, chúng ta có thể phiên dịch hoa ngữ thành mấy loại ngôn ngữ
cần thiết để hoằng pháp trên toàn cầu, để mọi người đều được lợi ích thù thắng
của Phật pháp, giá trị ý nghĩa này sẽ càng sâu rộng. Hiện tại nhờ khoa học nên
thuận tiện hơn ngày trước rất nhiều.


Ngày
nay chúng ta thiếu kém chính là thiếu kém hộ pháp, không có người phát tâm hộ
trì
. Vì không có người phát tâm hộ trì, nên công trình phiên dịch tương đối
gian nan. Dịch kinh phải theo qui củ xưa, nhất định không thể một hai người độc
lập
dịch một bộ kinh. Ngày trước Trung Quốc dịch kinh đều do tập thể cùng nhau
làm. Phàm hễ tham gia dịch kinh, đó là một pháp hội. Thỉnh giảng sư đến giảng
bộ kinh này, người dịch kinh thảy đều tham gia nghe giảng, chân thật nghe hiểu,
tường tận rồi mới khởi bản thảo. Có nghi hoặc lập tức phải hỏi. Sau khi dịch
xong bản thảo, phải đọc cho mọi người nghe, xem đại chúngý kiến gì không,
từ ý hay hơn không để nhuận văn, tu đính, làm cho bản dịch được tận thiện
tận mỹ, mọi người tiếp xúc quyển kinh đều có thể sanh tâm hoan hỉ. Cho nên bản
dịch không nên do một người làm mà là sáng tác của tập thể. Chúng ta xem thấy
kinh Phật đều có tên người phiên dịch trên đề kinh. Người trên đề kinh là chủ
biên trong đạo tràng dịch kinh đó, không nhất định do ông ấy dịch. Phải nêu tên
tuổi
ông ấy để gánh trách nhiệm đối với bản dịch này, cũng nhằm chứng minh bản
dịch này không sai, có thể lưu thông, được họ hoàn toàn chịu trách nhiệm.


Lịch
sử
ghi chép, dịch trường của đại sư La Thập hơn bốn trăm người, dịch trường của
đại sư Huyền Trang hơn sáu trăm người, đều là chuyên chức. Ngày trước cư sĩ
Thẩm Gia Trinh ở Hoa Kỳ, một người có tâm, đã mời không ít người dịch kinh điển
chữ Hoa thành chữ Anh, tốn kém khá nhiều tiền. Số lượng dịch ra cũng tương đối
khả quan. Khi tôi đến Newyork, ông dẫn tôi tham quan thư viện của đại học
Newyork. Ông đã mượn mấy căn phòng trong thư viện làm thành thư viện Phật giáo.
Ông nói với tôi, nhiều năm nay ông đã mời người đến phiên dịch kinh Phật sang
tiếng Anh, được một đống lớn bản thảo nhưng đều không thể dùng. Tôi gật đầu,
đích thực không thể dùng, vì sao? Chỉ tìm một số người biết Trung văn lẫn Anh
văn để phiên dịch. Người phiên dịch không hiểu Phật pháp nên chỉ dịch ý nghĩa,
cũng giống như cuốn Anh Văn Phật học Từ Điển của người nước ngoài phiên dịch.


Trước
đây lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam nói với tôi, có một học giả Phật học Hoa Kỳ đến Đài
Loan
tham quan du lịch. Nghe nói Đài Trung có một lão cư sĩ Lý Bỉnh Namđại
đức
Phật học, ông liền đến thỉnh giáo lão cư sĩ và đưa ra một số câu hỏi. Lão
giải thích cho ông ấy, nhưng con người này rất không hài lòng, lắc đầu tỏ
ra
không vừa ý. Lão sư Lý liền thỉnh giáo với ông ấy thông qua phiên dịch, sau
đó lão sư Lý cũng lắc đầu không đồng ý. Cuộc trao đổi rất khó khăn, may mắn ông
ấy có mang theo một quyển sách Phật Học Từ Điển dịch ra tiếng Anh. Lão sư Lý đề
nghị ông tra thử “nhị túc tôn” là gì. Chúng ta đã biết quy y Phật nhị
túc tôn
, nhưng tra thử xem cách giải thíchnhị túc tôn” trong từ điển
Phật học tiếng Anh như thế nào? Ông ấy liền dịch lại, “nhị túc tôn” là
hai cái chân tôn quý nhất. Không sai. “Nhị” là hai, “túc” là
chân, “tôn” là tôn quý. Lão sư Lý nghe rồi liền cười, không nói nữa.
Cuối cùngông đi được rồi, Phật pháp nước ngoài của các ông tôi hiểu rồi”.
Đó là biết Hoa lẫn Anh nhưng không biết Phật pháp, hoàn toàn dựa trên mặt chữ
để dịch. Thật đúng như Phật đã nói “Y văn giải nghĩa, tam thế Phật oan”.
Ba đời chư Phật đều bị hàm oan. Trong kệ khai kinh đã giảng “Nguyện giải Như
Lai
chân thật nghĩa
”, thật không dễ dàng.


Ngay
lúc đó tôi liền kiến nghị với cư sĩ Thẩm Gia Trinh rằng ông đã làm sai, phiên
dịch
rất quan trọng. Bạn muốn dịch một bộ kinh thì trước tiên phải tìm đại đức
có tu có học đối với bộ kinh này; mời ông ấy đến giảng; đồng thời mời người
tham gia công tác dịch kinh đến nghe. Phải nghe qua một cách tường tận thông
suốt
; có bất cứ nghi vấn nào phải hỏi ngay, sau đó mới có thể hạ bút khởi bản
thảo. Khi bản thảo thành tựu vẫn phải tiếp tục thảo luận tu đính lại. Tốt nhất
phát
tặng bản thảo cho những đại đứcnghiên cứu có tu có học xem. Mời họ đến
đính chính, sau đó mới làm thành một quyển hoàn thiện, có vậy thì việc lưu
thông
sẽ không gặp vấn đề.


Dịch
kinh
rất khó và rất quan trọng, dịch kinh Hoa Nghiêm lại càng khó hơn. Trong
mỗi câu mỗi chữ của Hoa Nghiêm đều mang ý nghĩa biểu pháp sâu sắc. Nếu bạn
không hiểu nó thì toàn văn lại biến thànhhai chân cao quý”, chẳng ra
thứ gì. Cho nên phiên dịch quyết không được vài người ngồi trong gian phòng nhỏ
nhất định phải như Trung Quốc ngày xưa. Tức là công khai tổ chức thành
viện dịch kinh, chuyên môn bồi dưỡng nhân tài dịch kinh, mời cao tăng đại đức
chuyên nghiên cứu kinh đó đến giảng, mọi người cùng đến nghe, cùng học tập, sau
đó mới có thể hạ bút viết bản thảo. Không thể khinh xuất tốn một ít tiền mời
người đến phiên dịch là được.


Tôi
không biết tiếng Anh, nên tôi rất khó tin tưởng quyển kinh dịch sang tiếng Anh,
vì thế tôi luôn phân vân chọn lựa. Một lần, tôi đề nghị cư sĩ Thẩm Gia Trinh
rằng tôi nhận thấy thiên Niệm Phật Luận của Đàm Hư lão pháp sư đại khái có lẽ
không đến nỗi vấn đề gì lớn. Đó không phải là kinh. Thiên khai thị này là ghi
chép của pháp sư Ấn Quang, rất dễ hiểu. Bên Thẩm cư sĩ lại sẵn có bản tiếng
Anh, tôi đề nghị lấy thiên tiếng Anh này. Năm đầu in kinh Vô Lượng Thọ số lượng
không nhiều, rất mỏng, tôi liền đem Niệm Phật luận, bản Trung Anh, để vào phía
sau kinh Vô Lượng Thọ, cùng lưu thông một lúc. Khi đó tôi in mười ngàn cuốn
truyền đến các nước. Một thời gian sau, tôi đi giảng kinh ở Vancouver, Canada,
có một bác sĩ người Cannada đến nói với tôi rằng không nên in phần sách phía
sau nữa. Tôi hỏi vì sao. Ông ấy nói: “Phần tiếng Anh này, người nước Anh xem
không hiểu, người Trung Quốc xem cũng không hiểu
”. Tôi nghe thật đau lòng.
Về sau hễ là bản dịch tiếng Anh, tôi đều không dám in, hãy cứ để người ngoại
quốc tự lưu thông, còn tôi không dám in nữa.


Do
đó chúng ta cần bồi dưỡng nhân tài dịch kinh, họ phải chân thật vừa có tu học
nơi Phật pháp vừa thông đạt hai loại ngôn ngữ mới có thể đảm nhiệm công tác
này. Nếu không thông đạt Phật phápkinh luận thì dù cơ bản văn học tốt đến
đâu cũng đều không thể đảm nhiệm công tác này. Kinh Hoa Nghiêm đã nói “Phật
pháp
không người nói, tuy có trí cũng không thể hiểu
”. Người thế gian
thông minh trí tuệ cỡ nào cũng không cách gì hiểu được Phật pháp, bởi vì kinh
điển
của Phật luôn luôn là ý ở ngoài lời, mỗi một chữ trong một câu nói đều bao
hàm rất nhiều ý nghĩa.


Ba
nguyện sau cùng


Mười
nguyện của Bồ tát Phổ Hiền thực ra chỉ có bảy: lễ kính, xưng tán, cúng dường,
sám hối, tuỳ hỉ, thỉnh chuyển pháp luân, và thỉnh Phật trụ thế. Ba nguyện sau
cùng là hồi hướng. “Thường tuỳ Phật họchồi hướng chánh giác, “Hằng
thuận chúng sanh
hồi hướng chúng sanh, “Phổ giai hồi hướng” là hồi hướng
pháp giới. Hồi hướng chánh giác, hồi hướng chúng sanh, hồi hướng pháp giới, là
hồi hướng tự tánh, hồi hướng chân như. Do đó, chân như, tự tánh, và pháp giới
có cùng một ý nghĩa.


Cái
gì gọi là pháp giới? Nhất tâm chính là pháp giới. Giới gồm hai ý nghĩa: một là
phần, một là tánh. Phần là giới tuyến, ví dụ quốc gia với quốc gia có giới
tuyến; tỉnh với tỉnh, hay huyện với huyện cũng có giới tuyến. Tánh là tự tánh,
nhà Phật gọi là nhất chân pháp giới, cũng chính là chân như.


Tóm
lại
, chúng ta thành tựu chính mình, vô biên công đức, quyết không tạo tội
nghiệp
. Đó là cách phá bỏ tập khí đố kỵ ngạo mạn từ vô thỉ kiếp. Thỉnh giảng sư
giảng kinh và thỉnh pháp sư thường trụ vẫn phải dùng đến khoa học kỹ thuật cao
mới có thể đem Phật pháp phát triển đến toàn thế giới. Từng bước bồi dưỡng nhân
tài
hoằng pháp, bồi dưỡng nhân tài phiên dịch, số người không cần nhiều nhưng
đó đích thực là viện nghiên cứu mô hình nhỏ. Những người tham gia phải chân
thật
chịu phát tâm, chân thật tu hành. Kinh Hoa Nghiêm nói tiêu chuẩn phải là
đại tâm phàm phu.



sao phàm phu học Phật không thể thành tựu? Không phải bạn không phát tâm, không
phải bạn không phát nguyện, cũng không phải do bạn không có dụng công. Mỗi ngày
bạn phát nguyện trước Phật Bồ Tát một cách rất nỗ lực, rất dụng công, nhưng vì
sao không hiệu quả? Vì tâm lượng quá nhỏ. Tâm lượng của bạn không cách gì đột
phá được sáu cõi luân hồi. Sáu cõi luân hồi là một giới tuyến. Tâm lượng bạn
nhỏ trong giới hạn của nó nên bị nó bao lấy, làm cho bạn không thể đột phá ra.


Chúng
ta
tu hành vô lượng kiếp, đời đời kiếp kiếp đến nay vẫn rơi vào bước này, phải
hiểu rõ lỗi lầm cuối cùng do đâu? chính do tâm lượng quá nhỏ, nên nhất định
phải phát đại tâm. Đại tâm mới phá vỡ sáu cõi. Đã phá vỡ chẳng phải vượt khỏi
sao? Ta lớn hơn so với nó thì ta sẽ vượt qua dễ dàng. A La Hán, Bích Chi Phật,
Bồ tát vì sao có thể vượt ra khỏi tam giới? Vì tâm lượng các ngài còn lớn hơn
tam giới sáu cõi nên các ngài có thể vượt qua.


Phương
pháp
vi diệu là đoạn phiền não vượt tam giới. Tuy nhiên, phương pháp này vừa
khổ, lại rất khó tu. Phật dạy chúng ta, tâm lượng vừa mở rộng thì liền đột phá.
Dù bên ngoài vẫn còn một ải là mười pháp giới nhưng tâm lượng vẫn cứ mở rộng,
chúng ta cũng có thể vượt hơn. Cho nên Phật cùng pháp thân đại sĩ, tâm bao thái
lượng khắp pháp giới. Mười pháp giới ở trong tâm lượng của họ, vậy là họ siêu
việt
, bao gồm tất cả phiền não tập khí không dừng tự nhiên biến mất, vì sao?
Phiền não tập khí đều từ tâm lượng nhỏ hẹp mà biến hiện ra. Khi tâm lượng lớn,
phiền não tập khí từ vô lượng kiếp đến nay không cần phá, tự nhiên liền không
còn. Phương pháp này thật xảo diệu.


Từ
đó chúng ta mới chân thật tin tưởng, thế tônchúng sanh thế giới của chúng
ta
nói pháp, “chỉ có pháp nhất thừa, không hai cũng không ba”. Lời nói
này của Phật không hề sai, Phật vì chúng ta nói pháp chính là dạy chúng ta
ngay cuộc sống này viên mãn làm Phật. Bạn làm Bồ tát, Phật đều lắc đầu vì như
thế chưa đủ. Không những muốn bạn làm Phật mà còn muốn bạn phải làm Phật cứu
cánh
viên mãn. Bốn giáo của tông Thiên thai, Tạng Giáo Phật, Thông Giáo Phật,
Biệt Giáo Phật đều không làm. Trở thành Viên Giáo Phật mới là mục đích chân
thật
để thế tôn xuất hiệnthế gian. Ngài giáo huấn tất cả chúng sanh, nếu
chúng ta không thông hiểu ý nghĩa, không thể đạt đến trình độ này thì chúng ta
không phải là đệ tử của thế tôn. Đã là học trò thì nhất định không phụ lòng kỳ
vọng của thầy giáo, ngay một đời nhất định phải làm Phật. Nếu y theo Hoa Nghiêm
kinh Vô Lượng Thọ thì chắc chắn sẽ không có vấn đề. Hai bộ kinh này chính là
bảo bối, là pháp bảo vô thượng. Hy vọng đồng tu chúng ta người người đều trân trọng.


Mười
nguyện của Phổ Hiền, trong đó bảy điều phía trước từ lễ kính, xưng tán, cúng
dường
, sám hối, tuỳ hỉ, cho đến thỉnh chuyển pháp luân, và thỉnh Phật trụ thế,
đều là nguyện. Hơn nữa trong mỗi điều đều đầy đủ những điều khác, đó mới là
giáo nghĩa của Hoa Nghiêm. Ba nguyện phía sau thuộc về hồi hướng.


Nguyện
thứ tám, “Thường tùy Phật học”


Thường
tùy Phật học
” là hồi hướng Bồ Đề, hay nói cách khác là học Phật. Buổi chiều
hôm nay Lý cư sĩ giới thiệu hai vị đồng tu đến thăm tôi. Hiện tại họ đang làm
công tác phúc lợi xã hội, thế nhưng lại ít nghe nói đến Phật pháp hoá đời sống.
Đến khi nghe tôi giảng kinh, họ thấy dường như Phật pháp đều có thể áp dụng
ngay trong đời sống nên rất hoan hỉ, tán thán. Tôi nói với họ rằng, việc Phật
pháp
hoá đời sống không phải do tôi mà do Thích Ca Mâu Ni Phật vốn dĩ đã nói
như vậy. Chúng ta làm sao có thể đoạt lấy công đức của Phật làm của riêng mình.


Người
thế gian thông thường nghĩ đến học Phật đều cảm thấy kỳ lạ, con người vì sao
phải học Phật, cứ làm người tốt, thì tại sao phải học Phật? Từ đó, học Phật gần
như là việc không bình thường, rồi họ sanh ra hiểu lầm to lớn đối với Phật
pháp
, họ không biết Phật là gì?


Phật
trí tuệ, học Phật là học trí tuệ, học giác ngộ; nói cách khác, học Phật
chính là học tập một đời sống trí tuệ cao độ chân thật giác ngộ. Đây là việc
rất bình thường. Thực ra, xã hội hiểu lầm đối với Phật pháp do chúng ta chưa
đem giáo nghĩa và nguyên ý của Phật pháp nói cho mọi người nghe. Vậy phải làm
thế nào để tuyên dương? Nhất định phải “Tuân tu Phổ Hiền Đại sĩ chi đức”.
Tuân là tuân thủ, tu là học tập. Bồ Tát Phổ Hiền chính là mô phạm tốt cho chúng
ta
.


Trong
Phật pháp Đại thừa, các vị cần biết, ba vị Bồ tát đại diện tổng cương lĩnh tu
học
Phật pháp gồm ngài Phổ Hiền, Quán Âm, Văn Thù. Bồ Tát Phổ Hiền đại biểu
thực tiễn, nói được phải làm được, thấy được phải làm được. Văn Thù biểu thị
trí tuệ, Quan Âm biểu thị từ bi. Thế Tôn trong kinh Đại thừa nói, “Mười
phương
ba đời tất cả chư Phật Như Lai đều nhờ tu học ba pháp môn này mới thành
tựu
được Phật quả vô thượng
”. Phật quả vô thượngtrí tuệ cứu cánh viên
mãn
. Chúng ta dùng cụm từ “Phật quả vô thượng”, người thông thường nghe
không thể lý giải nổi. Họ không thể biết được hàm nghĩa chính xác trong cụm từ
này, nên cứ hiểu sai cho rằng nó là thành tựu trong tôn giáo. Họ không biết
được đó là học vấn của chính mình. Cho nên những danh từ thuật ngữ chuyên môn
trong nhà Phật cần được trình bày rõ hơn để phù hợp với cách nói của người hiện
tại
và tránh bị hiểu lầm.


Tóm
lại
, ở nguyện thứ tám, hồi hướng chính là mong cầu, hồi hướng Bồ Đề. Chúng ta
phải truy cầu trí tuệ cao độ cứu cánh viên mãn.


Nguyện
thứ chín, “Hằng thuận chúng sanh”


Ý
nghĩa
của điều này rất rõ ràng, hồi hướng chúng sanh. Vì sao phải hồi hướng
chúng sanh? Tôi đã từng nói qua với các vị, trong kinh Hoa Nghiêm, tận hư không
khắp pháp giới, tất cả chúng sanh cùng với chúng tamột thể, cùng một tự
tánh
, cùng một chân tâm, cùng một lý thể biến hiện ra. Cảnh giới tuy không
giống nhau nhưng thể tương đồng, giống như thân thể chúng ta. Nếu muốn nói thân
thể
này là tự thể của chính mình thì mọi người dễ hiểu, trong thân thể có rất
nhiều tổ hợp tế bào, mỗi tế bào đều là chính mình, không phải là người khác.
Móng tay của chúng ta là chính mình, tóc của chúng ta cũng là chính mình. Nhưng
vì sao phải cắt bỏ nó, chẳng phải nó đều là chính mình sao? Sau khi hiểu rõ đạo
thô cạn này, bạn tỉ mỉ mà nghĩ và quan sát. Kinh Phật nói, mười pháp
giới
y chánh trang nghiêm tất cả là do ta. Tự – tha không hai, sanh – Phật bình
đẳng
, chúng sanh và Phật là bình đẳng, cũng là một thể. Cho nên nhất định phải
biết hồi hướng cho chúng sanh.


Hồi
hướng
thế nào? Tạm dùng lời đơn giản để nói là lấy tâm chân thành, thanh tịnh,
bình đẳng, từ bi quan tâm tất cả chúng sanh; yêu thương và toàn tâm toàn lực
giúp đỡ như giúp đỡ chính mình. Người không biết quan tâm giúp đỡ chúng sanh
chứng tỏ người này không biết quan tâm chính mình. Thế gian thường nói, con
người
phải biết tự yêu thương, vậy cái gì là chính mình? Đó tận hư không khắp
pháp giới, thế nhưng rất ít người hiểu được. Nếu chúng ta không lướt qua kinh
giáo
Đại thừa thì chúng ta cũng không hiểu. Chúng taduyên phận tiếp xúc với
kinh giáo Đại thừa, đó là thiện căn phước đức nhân duyên từ vô lượng kiếp đã
chín muồi mới có cơ hội thù thắng như vậy. Sau khi thông hiểu, nhất định chúng
ta
phải làm cho được, phải biết quan tâm xã hội, thương yêu toàn thế giới, hơn
nữa còn phải dùng tâm bình đẳng, không thể có “đây nồng kia nhạt”. Đó là
đạo lý.


Còn
trên sự thì sao? Trên sự đích thực có xa gần khác biệt, vì duyên khác nhau.
Kinh Hoa Nghiêm nói “Ngũ châu nhân quả”, trong Ngũ châu nhân quảnhân
quả
khác biệt, bình đẳng. Tâm của chúng ta bình đẳng, nguyện là bình đẳng, hiểu
bình đẳng, tánh bình đẳng, thế nhưng trong gia đình, cha mẹ rất gần với
chúng ta, đó là duyên phận, vậy chúng ta phải thương yêu, giúp đỡ họ. Đương
nhiên đầu tiên giúp đỡ cha mẹ, sau đó người trong nhà, hàng xóm lân cận, bà con
trong làng, rồi tiến ra xa một chút, vì duyên không bình đẳng. Trên lý nhất
định
phải bình đẳng, ngay trong bình đẳng có khác biệt, ngay trong khác biệt có
bình đẳng, nên gọi là “viên dung không ngại hành bố, hành bố không ngại viên
dung
”. Chúng ta phải tu học, phải hoằng pháp lợi sanh như vậy, mới là hồi
hướng
chúng sanh


Nguyện
thứ mười, “Phổ giai hồi hướng”


Phổ
giai hồi hướng
hồi hướng tự tánh, hồi hướng chân như, cũng chính là nói
chúng ta khởi tâm động niệm, lời nói việc làm, đều tương ưng với tự tánh thì
mới đúng.


“ĐỨC”


Chủ
đề
tổng cương lĩnh giảng kinh là “tác sư tác phạm”, học vi nhân sư, hành
vi
thế phạm. Chư Phật Bồ Tát trong chín pháp giới thị hiện ra nhiều hình tướng,
nhằm giúp tất cả chúng sanh chưa từng giác ngộ, vẫn còn đang trong tình huống
mê hoặc; các ngài biểu diễn ra một người giác ngộ, biểu diễn một đời sống trí
tuệ
cao độ để chúng ta xem thấy, nghe thấy, và tiếp xúc được, trong lòng liền
cảm ngộ, có thể sanh tín tâm, sanh hoan hỉ, và tương lai học tập với các ngài.
Đó chính là đức của Đại sĩ, đức của Phật Bồ Tát, và thế giới Tây Phương Cực
Lạc
. Như vậy, mười phương thế giới chư Phật, phàm hễ dùng tâm thanh tịnh niệm
Phật
cầu sanh Tịnh Độ, tâm hạnh tất nhiên cũng tương ưng với hạnh của Bồ Tát
Phổ Hiền
, chúng ta gọi là cùng một phương hướng, cùng một mục tiêu.


“CỤ
TÚC VÔ LƯỢNG HẠNH NGUYỆN”



lượng
là không cách gì tính đếm, vô lượnghạnh”, vô lượngnguyện”.
Hạnh cùng nguyện bao gồm cả thảy đời sống của chúng ta, không chỉ một đời này
mà còn đời quá khứ và đời vị lai, quá khứ vô cùng vị lai vô tận. Cho nên bên
trên mới để hai chữ “vô lượng”. Hiện tại hạnh của chúng tahành vi
đời sống, Phật pháp thường dùng ba chữ để khái quát, “thân khẩu ý”,
chúng ta gọi là hành vi ba nghiệp. Thân là tạo tác của thân thể, ngữ là ngôn
ngữ
, ý là tư tưởng, kiến giải. Chúng ta khởi tâm động niệm bao gồm tất cả hành
vi
. Hành vi vô lượng vô biên đều không ngoài ba loại lớn này, còn gọi là hành
vi
ba nghiệp, phải tương ưng với mười cương lĩnh của Bồ tát Phổ Hiền. Nếu trái
với
mười đại nguyện hay mười cương lĩnh thì hành vi này coi như sai lầm, còn
nếu tư tưởng hành vi của chúng ta thảy đều tương ưng với mười nguyện của Bồ tát
Phổ Hiền
, thì cho dù không thể làm đến được tương ưng đầy đủ cũng có thể đạt
được một trình độ tương ưng nào đó. Giống như chúng ta học sơ học, dù chưa đạt
trình độ cấp bậc nào nhưng có định hướng mục tiêu, vậy cũng được. Tuy bạn chưa
đi, chưa khởi bước nhưng phương hướng của bạn đã rất chính xác, hạnh nguyện của
bạn chính xác, đó là hạnh Phổ Hiền. Tất nhiên tiêu chuẩn hạnh Phổ Hiền khá cao,
người tu học thông thường chúng ta rất khó đạt đến tiêu chuẩn của ngài. Tiêu
chuẩn
của ngài cũng có rất thấp, nhưng mức thấp nhất chúng ta cũng không thể
đạt
đến, vậy phải làm thế nào? Phải thuận theo phương hướng, thuận theo mục
tiêu
.


Cụ
túc
vô lượng hạnh nguyện an trụ nhất thiết pháp trung
”, câu kinh văn này
hàm nghĩa rất sâu rộng. Ở đây chúng ta chỉ tiết lượt một số cương lĩnh tu học,
tiện lợi ngay trong cuộc sống thường ngày; đem những hành vi sai lầm của chúng
ta
, y theo điều mục này để sửa đổi. Chúng ta nói qua tam phước, lục hoà, tam
học
, lục độ, sau cùng là mười nguyện Phổ Hiền. Khi Tịnh tông học hội của chúng
ta
thành lập, tuyển chọn năm khoá mục này, rất dễ ghi nhớ. Mỗi giờ mỗi phút đều
y theo mười điều mục này để tu học. Năm khoá mục này bao gồm hành môn
lượng
vô biên của Bồ Tát. Học Phật nếu chúng ta xem thường việc tu sửa tư tưởng
hành vi thì trong Phật pháp, không luận nỗ lực dụng công thế nào để cầu giải,
thậm chí nói pháp được hoa trời rơi rụng cũng không ích gì. Lão sư Lý thường
nói “đáng sanh tử thế nào thì vẫn phải sanh tử như thế”, chính là nói so
với liễu thoát sanh tử và ra khỏi ra cõi không có liên quan.


(Còn
tiếp …)


KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC


Pháp
: HT. TỊNH KHÔNG


Biên
dịch
: Vọng Tây cư sĩ


Biên
tập
: PT. Giác Minh Duyên