Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 19)

0
9

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 19)



Pháp Sư Tịnh Không


 


Thứ
chín, Phật dạy niệm Phậtnghịch thuận thập tâm”, không hề dạy chúng ta
phải niệm một vị Phật nào. Ngài dạy chúng taNiệm mười phương Phật”,
cách niệm “mười phương Phật” như thế nào? Mười phương Phật chính là Phật
A Di Đà. Phật Thích Ca Mâu Ni nói, mười phương tất cả chư Phật Như Lai đều niệm
A Di Đà Phật. Chúng ta niệm A Di Đà Phật chẳng phải là niệm mười phương Phật
sao. Nếu bạn không tin tưởng, ngày ngày đi lạy Vạn Phật Danh kinh, mỗi ngày đọc
mười hai ngàn danh hiệu Phật, mệt chết người nhưng có đủ được mười phương Phật
hay không? Mười phương chư Phật vô lượng vô biên, bạn mới niệm mười hai ngàn
danh hiệu, như vậy còn sót lọt rất nhiều. Do đó xin thưa với các bạn, bạn chỉ
niệm một câu A Di Đà Phật thì không sót một vị Phật nào, vì sao? Phật nói rất
rõ ràng, mười phương ba đời tất cả chư Phật đều niệm A Di Đà Phật, cho nên bạn
tụng kinh Vô Lượng Thọ là tụng hết tất cả kinh mà chư Phật đã giảng. Mười
phương
ba đời tất cả chư Phật, không một vị Phật nào không giảng kinh Vô Lượng
Thọ
, các kinh khác không nhất thiết giảng, chúng ta phải hiểu đạo lý này. Bộ
kinh
Vô Lượng Thọ giới thiệu thế giới Tây Phương Cực Lạc chính là khuyên chúng
ta
niệm Phật A Di Đà cầu sanh Tịnh Độ, chúng ta phải ở ngay chỗ này mà xây dựng
tín tâm kiên cố.


Thứ
mười, Phật dạy “Quán tội tánh không”, đây là trí tuệ chân thật. Chúng ta
thường nói “Vạn pháp giai không” xin nói với các vị, tội nghiệp cũng là
một trong vạn pháp, tội báo cũng là một trong vạn pháp, nó có phải là “không
không vậy? Nếu một không tất cả không, vậy tội của bạn chân thật được diệt.
Phía trước tôi đã nói qua, sám hối thông thường có ba loại: phục nghiệp, chuyển
nghiệp, và diệt nghiệp. Quán tội tánh khôngdiệt nghiệp sám. Ngay chỗ này
chúng ta phải rất tỉ mỉ thể hội, hiểu sai ý nghĩa thì phiền phức sẽ rất lớn, cứ
nghĩ là Phật nói quán tội tánh không nên không cần lo, làm tội nhiều cũng không
hề hấn gì, vậy thì hỏng. Ngày nay bạn có quán không được không? Nếu quán không,
việc đầu tiên, ngã không, nhân không, vạn pháp đều không thì mới được, có pháp
nào không không thì tội nghiệp liền có, quả báo liền hiện tiền, vạn nhất không
nên hiểu sai ý. Cho nên Phật đem câu nói này xếp ở sau cùng, chân thật bạn có thể
niệm Phật đến lý nhất tâm bất loạn, cộng với quán tội tánh không mới được. Nói
cách khác, bạn đã đoạn kiếnphiền não, đoạn trần sa phiền não, phần phá
minh
, siêu việt mười pháp giới, vãng sanh Tây Phương là sanh cõi thật báo trang
nghiêm
, cõi Thường Tịch Quang, vậy mới có thể tu diệt nghiệp sám, tức là tiêu
diệt
tội nghiệp.


Thực
tế
mà nói, ở hiện tiền chúng ta, chuyển nghiệp sám là thù thắng nhất, cao minh
nhất. Trường hợp của cư sĩ Lý Mộc Nguyên là chuyển nghiệp sám. Ông bị bệnh, đó
nghiệp báo nhưng ông có thể chuyển. Nếu ông có thể chuyển thì ta cũng có thể
chuyển. Tôi nhớ ngày trước ở Singapore giảng kinh đã từng nói qua với các vị,
tôi cũng đoản mạng. Rất nhiều người xem tướng đoán mạng cho tôi đều nói tôi
không thể sống được 45 tuổi, cho nên tôi cũng chuyển nghiệp. Cả đời này tôi học
Phật thì ngay đời này chuyển, đích thực có thể chuyển, thậm chí tôi chuyển còn
nhẹ nhàng hơn Lý Mộc Nguyên. Đến nay ông vẫn còn mang chút bệnh nhưng tôi chỉ
bệnh
một tháng. Năm 45 tuổi, tôi đã bị bệnh hết một tháng, bởi vì tôi biết tuổi
thọ đến rồi, tuy không có người nào nói với tôi. Cho nên tôi không tìm bác sĩ,
cũng không uống thuốc, mỗi ngày ăn ít cháo lỏng với ít rau, chỉ niệm A Di Đà
Phật
chờ vãng sanh. Tôi niệm được một tháng thì hết bệnh, đó là chuyển nghiệp.
Chúng ta đích thực có thể chuyển, chỉ cần chân thật chịu phát tâm.


Tóm
lại
Thế Tôn nói, nếu một người y theo lời răn dạy của Phật, tu “Nghịch thuận
mười tâm
”, nhận biết mười loại tâm thuận sanh tử, chúng ta thường gọi là
tâm luân hồi, sau đó tu mười loại tâm đoạn nghiệp luân hồi thì sẽ siêu việt ba
cõi
sáu đường. Loại phương pháp tu hành này nhất định phải rất chăm chỉ nỗ lực,
lúc đó tội nghiệp của chúng ta từ quá khứ cho đến đời này đều có thể sám trừ.
Thực tế trong sáu đường, mỗi một chúng sanh từ quá khứ vô lượng kiếp đã không
ác nào không làm, tạo tác tội nghiệp quá nhiều. Nếu không tạo tội nghiệp thì
làm sao được cái thân này, làm sao có thể chịu quả báo này? Ngày nay chúng ta
được thân này, thường hay sanh bệnh, chỗ nào vừa bị đau nhức là nghiệp báo hiện
tiền
, những nghiệp báo đều có nhân chính là nhân của đời quá khứ đã tạo. Cho
nên hiểu tường tận thì từ rày về sau phải dùng ba nghiệp thân ngữ ý y theo răn
dạy của Phật Đà.


Khi
sám hối, nếu các vị không nhớ lời dạy của Phật, cũng không nhớ 20 điều tôi đã
giảng mấy ngày nay thì vẫn còn một phương pháp rất đơn giản bao gồm cả 20 điều
trong đó. Chính là niệm Phật, miệng niệm A Di Đà Phật, tâm tưởng A Di Đà Phật,
thân lạy A Di Đà Phật, ba nghiệp của chúng ta đều cung kính A Di Đà Phật thì
những buổi giảng vừa rồi của tôi toàn bộ thảy đều trong đó, rất có hiệu quả.
Trong nhà cúng một tượng A Di Đà Phật, thường hay tưởng một vị Phật này, trong
lòng của bạn liền có Phật. Chỉ cúng một vị, không nên thay đổi, giả sử bạn
tưởng vị này rồi lại tưởng vị kia, đến khi lâm chung, rốt cuộc Phật A Di Đà
hiện ra tướng gì để tiếp dẫn? Cho nên tốt nhất cả đời chỉ cúng một tôn tượng
của Phật A Di Đà.


Khi
tôi mới bắt đầu học Phật, có một vị lão cư sĩ tặng tôi một tượng Phật A Di Đà.
Chính là tượng này trước mặt tôi đây, làm bằng sứ cũng rất nổi tiếng, từ đầu
năm nhà Thanh đến nay đại khái cũng khoảng hơn 300 năm lịch sử. Hiện tại cúng
tại Đài Loan, trong thư viện Hoa Tạng. Tôn tượng này rất hiếm, chúng ta thường
đi khắp nơi, cho nên tôi đem tượng Phật thỉnh ra, chụp lại rồi in ấn số lượng
lớn, khoảng một trăm mấy chục ngàn tấm, phân tặng cúng dường mọi người. Hiện
tại
đi đến bất cứ nơi đâu, tôi đều mang một cuộn, không luận nơi nào, tôi đều
nhìn thấy tượng Phật này nên ấn tượng rất sâu. Mấy năm gần đây nhất, Đài Loan
điêu khắc tượng Phậttiến bộ. Họ chiếu theo kiểu dáng đó, khắc ra cho tôi
một tượng cũng rất giống. Hiện tại Đài Loan đã có khoảng một hai trăm tượng,
điêu khắc rất đẹp.


Cho
nên thường hay tưởng Phật, không nên khởi vọng tưởng, không nên nghĩ thứ khác.
Nghĩ thứ khác là tạo tội nghiệp, chúng ta ngày ngày tưởng Phật, niệm Phật, lạy
Phật
. Người trung niên trở lên hiện tại vận động quá ít, bước ra cửa là ngồi
xe, ở nhà thì ngồi sa lon thoải mái, do ít vận động nên bộ máy cơ thể dần dần
lão hoá, sanh ra bệnh tật. Lạy Phật là cách vận động tốt nhất, mỗi ngày lạy một
trăm lạy, sáng sớm năm mươi lạy, buổi tối năm mươi lạy. Lạy Phật mang đến
hội vận động tốt mà không rời khỏi ba nghiệp cung kính, thân động tâm không
động, tâm luôn tưởng Phật, nhớ Phật, niệm Phật, đó cũng là pháp sám hối thù
thắng
.


Những
năm đầu nhà Thanh, Từ Vân Quán Đảnhpháp sư có trước tác rất phong phú. Vạn
Tục Tạng kinh, Nhật Bản, thu thập mấy mươi loại trước tác của ông, trong đó có
một bộ sớ kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, chính là chú giải của kinh Quán Vô Lượng
Thọ Phật
. Trong đó ngài nói, tất cả chúng sanh tạo tội nghiệp ngũ nghịch cực
trọng, bất cứ kinh luận sám pháp nào đều không cách gì sám trừ tội nghiệp. Tuy
nhiên
còn có một cách duy nhất, niệm A Di Đà Phật, có thể sám trừ tội nghiệp
của bạn. Cho nên các vị muốn cầu sám hối, muốn cầu tiêu tai diệt tội thì pháp
niệm “A Di Đà Phật” là hiệu quả nhất.


Lời
nói
của ngài hoàn toàn có căn cứ, không phải nói tùy tiện. Ngài chú giải kinh
Quán Vô Lượng Thọ Phật
, công án này ở ngay trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật.
Bạn xem, vua A Xà Thế nghe lời xúi giục của Đề Bà Đạt Đa, vốn là kẻ hay đố kỵ
với thành tựu hoằng pháp lợi sanh của Thích Ca Mâu Ni Phật. Đề Bà Đạt Đa cũng
rất thông minh, luôn tìm mọi cách phá hoại Phật pháp, trừ bỏ Thích Ca Mâu Ni
Phật
để tự mình thay thế vào. Lúc A Xà Thế còn là thái tử, bá đồ của Đề Bà Đạt
Đa
xúi giục A Xà Thế mưu hại đồng thời lật đổ ngôi vua của cha. A Xà Thế nhất
thời
hồ đồ đã giết phụ thân, hại mẫu thân, tự tấn phong mình lên làm quốc
vương
. Đề Đà Đạt Đa nói: “Ngài làm tân quốc vương, ta làm Phật, hai chúng ta
hợp tác thống trị quốc gia
”, từ đó ông tạo tội ngũ nghịch thập ác, giết cha
hại mẹ, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật ra máu. Tội nghiệp như vậy, cho dù tất
cả pháp sám hối trong kinh luận của Phật cũng đều không cách gì có thể sám trừ.
Đến lúc lâm chung, vua A Xà Thế mới hối hận, sám hối, một lòng niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ. Ông thật đã được vãng sanh.


Cho
nên pháp môn Tịnh Độ rất thù thắng. Tạo tội nghiệp ngũ nghịch thập ác phải đọa
A Tỳ địa ngục, thế mà chỉ cần bạn chân thật sám hối, chân thật hồi đầu. Trong
Đại Tạng kinh có một bộ A Xà Thế Vương kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật giảng những
sự tích trong đời của ông, ông vãng sanh phẩm vị tương đối cao, thượng phẩm
trung sanh
. Chúng ta nghe Phật nói mà không thể tưởng tượng được, phẩm vị cao
như vậy khiến chúng ta phải sâu sắc cảm nhận, không dám khinh khi những người
ác tạo tác tội nghiệpthế gian, vì sao? Đến lúc lâm chung họ có thể sẽ sám
hối
vãng sanh, phẩm vị còn cao hơn chúng ta. Do đó vãng sanh thế giới Tây Phương
Cực Lạc
có hai hạng người: một loại bình thường niệm Phật, đoạn ác tu thiện,
tích công bồi đức, chín phẩm vãng sanh; còn một loại là khi lâm chung sám tội
vãng sanh, phẩm vị vãng sanh của những người này không thể nghĩ bàn. Đấy là
trường hợp vua A Xà Thế vãng sanh được ghi chép trong kinh.


Trong
lịch sử
Trung Quốc, việc vãng sanh của pháp sư Oánh Kha tuy chúng ta không biết
ở phẩm vị nào nhưng có thể đoán phẩm vị nhất định không thấp. Đó là sám tội
vãng sanh, chính mình chân thật biết được mình làm sai. Ông là một người không
giữ thanh qui, không giữ giới luật, một người xuất gia tạo tội nghiệp, nhưng
rất may là ông tin tưởng nhân quả báo ứng. Ông biết những gì mình đã làm, tương
lai nhất định đọa địa ngục. Nghĩ đến địa ngục, ông liền lo sợ, đó là cái tốt của
người này. Hiện tại có rất nhiều người khi nói đến địa ngục, họ không sợ, gan
to như vậy ta không thể không bội phục họ. Oánh Kha nghĩ đến đọa địa ngục liền
lo sợ. Ông thỉnh giáo các đồng đạo tìm biện pháp giúp. Một đồng đạo bèn đưa ông
quyển “Vãng Sanh truyện”. Xem thấy những người niệm Phật vãng sanh trong
Vãng Sanh truyện”, ông rất cảm động, thế là chính mình hạ quyết tâm,
đóng phòng lại, chỉ niệm A Di Đà Phật. Ông không ngủ, cũng không ăn, không
uống, chỉ một mạch niệm A Di Đà Phật suốt ba ngày ba đêm. Quả nhiên niệm A Di
Đà Phật
thành tắc linh, Phật A Di Đà đến nói với ông rằng ông vẫn còn mười năm
dương thọ, khuyên ông cố gắng tu học, sau mười năm, đến khi lâm chung, Phật sẽ
đến tiếp dẫn. Pháp sư Oánh Kha nghe rồi liền yêu cầu với Phật A Di Đà: “Con
biết tập khí của chính mình quá nặng, không cưỡng nổi mê hoặc, bên ngoài vừa
dẫn dụ sẽ lại tạo tội nghiệp, cho nên dương thọ mười năm không cần nữa. Hiện
tại
con muốn đi theo ngài, nếu không thì trong mười năm tới không biết sẽ tạo
thêm bao nhiêu tội nghiệp
”. Phật A Di Đà nghe rồi, gật đầu nhận lời ông.
Ngài hẹn sau ba ngày nữa sẽ trở lại tiếp dẫn. Việc này ông vô cùng hoan hỉ,
liền mở cửa phòng báo với đại chúng trong chùa rằng ba ngày sau Phật A Di Đà sẽ
đến tiếp dẫn ông vãng sanh. Người trong chùa nghi ngờ đầu óc ông có vấn đề, một
con người xuất gia xấu đến vậy làm sao có thể vãng sanh? Tuy nhiên, mọi người
vẫn chờ xem ba ngày sau thế nào. Đến ngày thứ ba, ông đi tắm thay bộ quần áo
mới, chay giới thanh tịnh. Khi tụng khoá sớm, ông yêu cầu các đồng tu đưa tiễn,
không tụng theo thời khoá thông thường mà tụng kinh A Di Đà, niệm A Di Đà Phật
để tiễn ông. Các bạn đồng tu đương nhiên cũng rất hoan hỉ chỉ niệm A Di Đà
Phật
. Niệm đại khái khoảng một khắc, chừng mười lăm phút, pháp sư Oánh Kha quay
ra nói với mọi người: “Phật A Di Đà đến rồi, từ biệt mọi người” ông liền
đi.


Bạn
xem, ông không hề có bệnh, chỉ niệm ba ngày ba đêm, thời gian không dài, vì sao
ông có thể vãng sanh? Các vị thử nghĩ xem, ba ngày ba đêm này cùng với nguyên
tắc trên kinh Vô Lượng Thọ đã nói là hoàn toàn tương ưng. Phát tâm Bồ Đề một
lòng chuyên niệm A Di Đà Phật, Đại Thế Chí Bồ Tát nói “Gom nhiếp sáu căn,
tịnh niệm liên tục
” cũng hoàn toàn tương ưng. Ba ngày ba đêm một câu Phật
hiệu
không xen tạp, không hoài nghi, không gián đoạn, đích thực tịnh niệm liên
tục
, cho nên tội của ông đều tiêu hết, cảm được Phật đến tiếp dẫn.


Việc
sám tội không thể không sám trừ, vấn đề là bạn có thật phát tâm hay không, có
chân thật muốn sám hối hay không. Bạn phải học pháp sư Óanh Kha, chính mình tạo
tội nghiệp không che giấu người, có dũng khí dám nói ra, biết lo sợ khi nghĩ
đến địa ngục, và chân thật cầu sám hối. Ông đã thành công, trở thành tấm gương
tốt
cho chúng ta. Những bậc thánh nhân thế xuất thế gian như Khổng Lão Phu Tử
còn dạy bảo chúng ta trong cuộc sống thường ngày, “Dĩ trực báo oán, dĩ đức
báo đức
”, huống hồ nhà Phật dạy chúng taĐại từ đại bi, oán thân bình
đẳng
”, đó là ở ngay trong cuộc sống tu pháp sám hối. Người khác đối tốt với
ta, chúng ta phải tri ân báo ân. Hiện tại, vì sao người thế gian vong ân phụ
nghĩa nhiều đến như vậy, vì họ không biết ân đức, nói lời khó nghe, không biết
tốt xấu. Không những người thông thường khó phân biệt mà người nhận qua giáo
dục
cao đẳng, thậm chí nhận học vị tiến sĩ, có địa vị tương đối trong xã hội
cũng không biết ân nghĩa, không biết cái gì gọi là ân đức, báo ân. Họ thấy lợi
quên nghĩa, mặc dù làm việc rất ưu tú trong công ty, họ có năng lực nhưng khi
bị công ty khác đến dụ dỗ mua chuộc với những lời hứa hẹn sẽ đãi ngộ tốt, họ
liền bỏ bên này mà qua bên kia. Họ không biết rằng thân phận địa vị của mình
hiện nay là do đâu mà có, do người ta mang đến cho bạn, sau khi bạn có rồi thì
liền thấy lợi quên nghĩa, không biết ân đức, đó chính là tạo tác tội nghiệp.


Cho
nên ngay đến thánh nhân thế gian cũng đều dạy chúng taDĩ trực báo oán, dĩ
đức báo đức
”, chúng ta phải tri ân báo ân. Cho dù người khác hủy báng, nhục
mạ, hay hãm hại chúng ta, chúng ta cũng dùng tâm thanh tịnh đối đãi với họ, đó
là dĩ trực báo oán. Cái trực này chính là trực tâm mà nhà Phật nói, chính là
chân thành cung kính. Chúng ta dùng tâm chân thành tâm cung kính đối với họ, đó
đạo lý làm người. Tuyệt đối không kết oán thù với người khác, phải biết sau
khi kết oán thù, đời đời kiếp kiếp báo không cùng tận, tương báo lẫn nhau,
không biết lúc nào mới kết thúc. Ngày nay người khác hủy báng, nhục mạ, hay hãm
hại ta, đó là quả báo của chúng ta. Vì sao họ không huỷ báng người khác, không
hãm hại người khác mà lại hãm hại ta? Nhất định trong đời quá khứ ta đã huỷ
báng, hãm hại họ, nên ngày nay họ gặp lại ta, tương báo lẫn nhau thì phải nên
tiếp nhận. Cái nợ này chẳng phải đã trả xong, ta không còn mang tâm oán hận,
báo thù nữa, nợ này đến đây kết thúc. Cho nên chúng ta phải dùng tâm cung kính,
chân thành để đối đãi với những người này, nợ liền trả xong. Không nên đời đời
kiếp kiếp báo tới báo lui, thật phiền não. Đó mới chân thậtphương pháp
thông minh trí tuệđức Phật đã dạy. Không nên làm cho vấn đề trở nên phức
tạp
hơn, phải đem nó giải mở thoả đáng, viên mãn, chúng ta trên đạo bồ đề mới
được thuận buồm xuôi gió, mới không có chướng ngại.


Kinh
Phật còn nói “Ư nhất thiết xứ, nhi bất trụ tướng”, kinh Bát Nhã thường
nói “Ly nhất thiết tướng, tức nhất thiết pháp”, không nên đem những pháp
tướng
này để trong lòng, đối với tất cả hiện tượng, không nên sanh ưa ghét.
Thuận với ý mình, không nên có tâm tham ái; không thuận theo ý mình cũng không
nên có tâm sân hận. Ở trong thuận cảnh hay nghịch cảnh, người thiện hay người
ác, cứ tu tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng của chính mình, đó gọi là thật tu hành.
Cho nên đời sống chân thật hạnh phúc mỹ mãn là tâm an lý đắc, không luận ở bất
cứ hoàn cảnh nào, tâm của bạn vĩnh viễn an định, vĩnh viễn không bị cảnh giới
bên ngoài dao động. Người xưa Trung Quốc thường nói “Đạm bạc minh trí”,
đời sống càng đơn giản thì càng khoẻ mạnh, then chốt nhất chính là tâm đại
thanh
tịnh, không nhiễm một trần.


Hiện
tại thế
gian này ô nhiễm rất nghiêm trọng, ô nhiễm trong tâm, ô nhiễm tinh
thần
, ô nhiễm tư tưởng, ô nhiễm kiến giải, vậy phải dùng phương pháp gì để
phòng bị, phương pháp gì để đối trị? Phương pháp tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng.
Tâm địa chúng ta thanh tịnh thì không bị ô nhiễm, trước sau giữ gìn tâm thanh
tịnh
, giữ gìn tâm bình đẳng. Trong tâm bình đẳng, quan trọng nhất là oán thân
bình đẳng
, oán thân có thể bình đẳng thì tất cả những thứ khác đều bình đẳng.
Hiện tại chúng taphàm phu, khi mới học, chúng ta sẽ bị ảnh hưởng từ hoàn
cảnh, cho nên đối với hoàn cảnh không thể không xem trọng. Đến khi bạn chân
thật
công phu thì hoàn cảnh sẽ không ảnh hưởng bạn. Việc này chính là phong
thủy mà con người chúng ta thường hay nói đến. Phong thuỷ là gì? Là ảnh hưởng
của hoàn cảnh. Nếu chúng ta muốn thân tâm an ổn, bình bình an an thì nơi hoàn
cảnh
của chúng ta ở phải bình.


Nếu
các vị chịu lưu ý một chút, thời xưa Trung Quốc, người xưa xây một căn nhà, một
nhà vườn tiếp nối nhiều đời. Nếu bạn thiết kế xây một căn nhà không duy trì
được 300 năm thì người ta sẽ không mời bạn đến xây. Bạn xây dựng một ngôi nhà
chí ít cũng phải sử dụng được 300 năm. Bạn làm một cái ghế chí ít phải có thể
dùng được một trăm năm. Những đồ gia dụng của Trung Quốc hiện tại gọi là đồ cổ,
không phải dùng vài ngày rồi đổi cái khác, làm gì có chuyện xa xỉ vậy. Bạn có
phước báu bao lớn, cho nên người Trung Quốc rất xem trọng hoàn cảnh nơi ở, biết
xây dựng nhà phải tứ bình bát ổn. Người ở trong đó thân tâm yên ổn. Chúng ta
thấy nhà cửa của người nước ngoài không như vậy, nhà ở nước ngoài rất kỳ lạ,
đặc biệt có rất nhiều đầu nhọn, như vậy người ở trong đó tâm sẽ không bình. Cho
nên người nước ngoài ở một vài năm thì họ bán nhà dọn đi, như dân du mục, họ
không có gốc, không có cố hương. Còn người Trung Quốc có cố hương. Người nước
ngoài ở một nơi hiếm khi qua được 5 năm, thường thì hai ba năm là họ dọn nhà.
Hiện tại một số người Trung Quốc trẻ tuổi làm nghề xây dựng cũng học người
ngoại quốc xây nhà một cách kỳ lạ, cho nên người ở trong đó có tâm cũng kỳ kỳ
quái quái, như vậy xã hội đó làm sao có thể an ổn? Nếu Phật Bồ Tát ở thì không
vấn đề gì, các ngài không bị ảnh hưởng, nhưng phàm phu chúng ta bị hoàn cảnh
ảnh hưởng, cái hoàn cảnh hiện tại nhà khoa học gọi là từ trường. Họ bị từ
trường ảnh hưởng, việc này chúng ta không thể không chú ý.


Cho
nên các vị muốn mua nhà, căn nhà phải được xây dựng bình ổn, không nên có quá
nhiều góc cạnh, góc nhiều thì phiền não lớn, nhà ở không là hình vuông mà phải
là hình chữ nhật, hình tròn cũng được, không nên có góc. Rất nhiều nhà của nước
ngoài, chỗ cửa cái bị cắt đi một góc, loại nhà như vậy người ở trong đó không
quá một trăm ngày, nhất định sẽ nghĩ tưởng xằng bậy. Cho nên căn phòng đó chỉ
nên làm phòng khách, vạn nhất không nên ở vì nếu ở nhất định sẽ khởi vọng
tưởng
. Phải chánh đại quang minh, qui củ trật tự, giảng đường phải là hình chữ
nhật, không nên cắt đi một góc. Chúng ta còn bị ảnh hưởng của hoàn cảnh nên
phải chọn lựa hoàn cảnh tốt, chọn lựa thức ăn khoẻ mạnh. Ăn uống không cần
nhiều, không nên nhiều màu sắc cũng không cần phải cao quí bổ dưỡng gì. Đồ bổ
cao quí là bổ cho người khác nhưng chịu thiệt ở nơi mình. Mình cực khổ kiếm
tiền mua những thứ này để họ kiếm lời to, và phát tài. Khi mang về, thực tế đều
là giả. Tổ yến nơi đây giá tiền rất cao, nhưng có dinh dưỡng hay không? Không
hề có. Chưng một tổ yến với đường phèn nhưng thực tế dinh dưỡng nằm ở đường
phèn, như vậy chẳng phải tiền của bạn đã bị người gạt đi mất. Cuối cùng bổ cho
người bán tổ yến. Người hiện tại chúng ta phần lớn thích nghe gạt, không thích
nghe khuyên. Khuyên thì bạn không tin, lừa gạt thì bạn tin. Báo chí tạp chí
đăng quảng cáo cũng toàn là gạt người. Cho nên đời sống càng đơn giản bình dị
càng tốt, tâm địa thanh tịnh, ăn uống giản dị đơn sơ, khỏe mạnh sống lâu.


Chúng
ta
hy vọng được khoẻ mạnh sống lâu thì nhất định phải hiểu phương pháp tu học.
Muốn trải qua đời sống khoẻ mạnh sống lâu thì danh lợi phải càng đạm bạc, dưỡng
tâm càng thanh tịnh. Kinh nói, nếu ở mọi nơi, đi đứng nằm ngồi thuần nhất chánh
tâm, luôn giữ gìn tâm địa thanh tịnh bình đẳng, thì đó chính là đạo tràng bất
động
, là Tịnh Độ chân thật, “tâm tịnh thì cõi nước tịnh”. Tịnh Độ chân
thật
chính ở ngay tâm. Hiện tại bạn ở Tịnh Độ, tương lai khi xả báo thân, nhất
định
vãng sanh Tịnh Độ Di Đà. Cái Tịnh Độ này cùng Tịnh Độ kia cảm ứng. Có thể
giữ nguyên tắc kinh Kim Cang nói “Bất thủ ư tướng, như như bất động”,
ngoài không dính mắc, trong không động tâm, đó gọi là nhất tướng Tam Muội.
Trong cảnh giới phải bình đẳng, trong thuận cảnh không khởi ưa thích, tâm bình
lặng; trong nghịch cảnh không khởi sân hận. Cảnh giới dù thuận hay nghịch, bạn
đều có thể giữ được tâm thanh tịnh, bình đẳng, đó chính là “Nhất tướng Tam
Muội
, nhất hành Tam Muội
”.


Trên
kinh Phật nói, hạt giống nếu được gieo vào đất tốt, thổ nhưỡng phì nhiêu, hạt
giống
nhất định bám rễ nẩy mầm, tươi hoa kết trái. Thí dụ này là dành cho người
tu hành chúng ta. Bạn phải tuân thủ kinh giáo của Phật, đem những đạo lý, những
phương pháp này ứng dụng trong đời sống. Đạo lý trong kinh Phật là đạo lý làm
người, đạo lý làm việc, những đối nhân xử thế tiếp vật. Những đạo lý này có
liên quan mật thiết với đời sống hiện thực của chúng ta, không hề tách rời
nhau. Bạn học rồi thì bạn lập tức có thể dùng ngay trong cuộc sống. Còn nếu đã
học mà không thể dùng thì chúng ta học nó để làm gì, Phật làm sao có thể được
gọi là trí tuệ viên mãn? Thế gian không ít người có trí tuệ, có học vấn, đã
giảng cho chúng ta nghe rất nhiều đại đạo lý. Thế nhưng những đại đạo lý này
không liên quan gì với đời sống, không dùng được, đó gọi là huyền đàm thuyết
diệu.


Vào
thời đại Nguỵ Tấn Nam Bắc triều, “Thanh Đàm”, không hợp với đời sống,
tuy nói rất huyền diệu, rất cao nhưng người học không dùng được thứ nào, đó
không phải là trí tuệ cứu cánh viên mãn. Trí tuệ cứu cánh viên mãn là dạy cho
tất cả chúng sanh, sau khi học xong liền được lợi ích, liền có thể dùng được
ngay. Phật là trí tuệ cứu cánh viên mãn. Những gì Phật giảng trong tất cả kinh,
nếu tách rời với đời sống của chúng ta, ăn mặc đi đứng của chúng ta thì những
kinh điển này của Phật không thể được gọi là trí tuệ cao độ. Chỗ này chúng ta
phải đem bản chất của Phật pháp nhận biết cho tường tận, sau đó mới biết được
Phật pháp có quan hệ gì với chúng ta, và vì sao phải học nó.


Ngày
trước đại sư Âu Dương nói rất hay “Phật pháp là thứ đời nay cần đến”, “cần
đến
” chính là không thể thiếu được. Mỗi một người đều không thể thiếu,
không luận bạn là nam nữ già trẻ, bạn trải qua đời sống như thế nào, bạn từ
công việc nghề nghiệp nào, thảy đều cần đến, không có ai ngoại lệ, thậm chí
người học các tôn giáo khác cũng không thể rời khỏi. Nếu bạn rời khỏi thì bạn
sẽ không học được thứ gì, còn nếu bạn học được thì đó là trí tuệ chân thật cứu
cánh
viên mãn. Chỉ có trí tuệ chân thật cứu cánh viên mãn mới có thể mang lại
cho bạn một đời hạnh phúc chân thật. Món quà tốt đến vậy, nếu chúng ta không
chăm chỉ học tập, đó chẳng phải là tự cam đọa lạc hay sao? Vậy đâu phải là
người thông minh? Làm gì là người có trí tuệ?.


Chúng
ta
học Phật, thấu suốt lợi ích chân thật của Phật pháp thì cũng nên giới thiệu
cho bạn bè thân thích, những người mà chúng ta thường hay tiếp xúc để cùng
hưởng với họ. Đem công đức lợi ích thù thắng của Phật pháp giới thiệu cho họ
chính là độ chúng sanh, là lợi ích chúng sanh. Mọi người đều có thể y theo Phật
pháp
tu học, xã hội chúng ta liền thái bình, đời sống phồn vinh hưng vượng.
Cho nên lợi tha sau cùng vẫn là tự lợi, ta giúp đỡ mọi người, mọi người giúp đỡ
ta, cùng nhau tạo thành một xã hội mỹ mãn, an định, phồn vinh, giàu có, mọi
người
cùng nhau hưởng thụ. Đó là lợi ích hiện tiền của Phật pháp. Lợi ích hiện
tiền
chúng ta không hưởng thụ được, vậy nếu nói, đợi đến tương lai sẽ càng
thù thắng hơn, thì ai có thể tin tưởng được? Hiện tiền được lợi ích, về sau
loại lợi ích thù thắng đó chúng ta mới có thể tin được, mới có thể tiếp
nhận


(Còn
tiếp …)


KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC


Pháp
: HT. TỊNH KHÔNG


Biên
dịch
: Vọng Tây cư sĩ


Biên
tập
: PT. Giác Minh Duyên