Giảng Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ (Phần 06)

0
11

KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ (PHẦN 6)


Pháp
Tịnh Không


 


10. Tín Huệ Bồ tát, Nguyện Huệ Bồ
tát
, Hương Tượng Bồ tát

Ba vị Bồ tát này đại biểu ba điều kiện tu hành của Tịnh Tông “Tín-Nguyện-Hạnh”.


Hành giả phải thật tin tưởng Phật A
Di Đà
và Phật Thích Ca Mâu Ni. Kinh Vô Lượng Thọ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
giới
thiệu cho chúng ta thế giới Tây Phương Cực Lạc, Phật A Di Đà nói qua y
chánh trang nghiêm của thế giới Cực Lạc trong đó có tánh, tướng, lý, sự, nhân,
quả, chúng ta thảy đều tin tưởng, mỗi câu mỗi chữ đều tin sâu không nghi, như
vậy mới gọi là tín. Không tín thì dù niệm Phật nhiều, tu hành nhiều nhưng vẫn
không được vãng sanh. Cái tin phải thành thật không khách sáo; có thể xem như
mê tín. Mê tín nếu thật mê thì có thể vãng sanh, giả mê vẫn không thể vãng
sanh
.


Thật
mê là không có hai niệm, bảo niệm Phật A Di Đà thì trong lòng chỉ có Phật
A Di Đà, một ngày từ sớm đến tối chỉ Phật A Di Đà, ngoài ra không có bất kỳ
vọng niệm nào khác. Như vậy mới có thể vãng sanh, thậm chí vãng sanh phẩm vị
tương đối cao. Còn người tuy tin tưởng nhưng một ngày từ sớm đến tối thường
nghĩ tưởng xằng bậy, còn nhiều phân biệt chấp trước, còn thị phi nhân ngã, tham
sân si
mạn xen tạp thì không thể vãng sanh. Người vãng sanh nhất định phải tin
tưởng
trọn vẹn từng câu từng chữ trong bộ kinh này và thực tiễn ngay trong cuộc
sống.



nơi đây tôi diễn giảng bộ kinh Vô Lượng Thọ không giới hạn thời gian, giảng hai
ba năm cũng không hề gì. Các vị đồng tu cùng đến nghe, không nhất thiết phải
nghe hết. Nghe một lần thì thọ dụng một lần, một lần hiểu, một lần ghi nhớ, một
lần
có thể phụng hành thì cả đời thọ dụng khôn cùng tận, huống hồ người đến
nghe vào mỗi kỳ giảng, lợi ích vô biên. Đó cũng đều do thời tiết nhân duyên
được. Bản thân tôi cũng chưa bao giờ nghĩ mình có thể giảng tỉ mỉ đến như vậy.
Chắc chắn do Tam Bảo gia trì, không phải sức người. Người nghe được hoan hỉ
cũng là do được Tam Bảo gia trì. Không có Tam Bảo gia trì, có nghe cũng sẽ
không hiểu. Do đó khi chân thật nghe hiểu thấu suốt, được Phật Bồ tát gia trì,
chúng ta có thể thấy mình cùng thế giới Tây Phương, Phật A Di Đà có duyên rất
sâu. Chỉ cần đem thiện căn phước đức vô lượng kiếp của chính mình đào tìm được,
ngay đời này chúng ta liền có thể vĩnh thoát luân hồi, liền có thể thành Phật
làm tổ, tham gia trở thành hội viên câu lạc bộ A Di Đà Phật, hạnh phúc biết
bao, tự tại dường nào.


Cho
nên tín không đơn giản, năm xưa tôi học Phật bảy năm mới xuất gia. Khi vừa
xuất gia thì liền đến Phật học viện giảng kinh. Sau đó hai năm mới thọ giới,
thọ giới rồi đến Đài Trung bái lạy thầy cư sĩ Lý Bỉnh Nam. Vừa thấy mặt tôi,
thầy liền chỉ vào và nói: “ông phải tin Phật”, tôi ngẩn người không
hiểu. Thầy liền giải thích, có rất nhiều người xuất gia từ nhỏ đến tám mươi
tuổi vẫn chưa tin Phật. Họ cũng biết giảng kinh như hoa trời rơi rụng, nhưng
những gì Phật nói trong kinh một chữ họ cũng không làm được. Đó là không tin
Phật. Vì không có tín nên cũng không có nguyện hạnh, làm sao có thể vãng sanh?
Cho nên thầy nói “việc này vô cùng quan trọng”, lão sư đặc biệt nhắc nhở
cảnh sách, nhất định phải tin tưởng. Chân thật có thể lý giải, có thể thông
suốt
, có thể y giáo phụng hành mới gọi là tín. Hay nói cách khác “Tín,
Nguyện, Hạnh
” tuy một mà ba, tuy ba mà một. Nói tín mà không có nguyện,
hạnh, vậy tín đó là giả. Cũng vậy nói có nguyện, nhưng không có tín, hạnh thì
cái nguyện này cũng là giả. Một ngày niệm Phật A Di Đà nhưng nếu không có tín, nguyện
thì việc niệm Phật A Di Đà cũng là giả. Trong tín nhất định phải có nguyện
hạnh
, trong nguyện nhất địnhtín hạnh, trong hạnh nhất định phải có tín
nguyện
. Như cái đảnh ba chân, thiếu một cái thì ngã đổ.


Do
đó đối với từng câu từng chữ trên kinh này hành giả phải thâm tín không hoài
nghi
, quyết không trái phạm. Phật dạy chúng ta làm thì nỗ lực mà làm; Phật nói
những gì không nên làm thì quyết không nên làm, vậy mới được gọi là “chân
tín, chân nguyện, chân hạnh
”, mới là học trò tốt của Phật A Di Đà, được
Phật A Di Đà hộ niệm. Khi được Phật A Di Đà hộ niệm, hành giả được tất cả chư
Phật đều tôn kính, đồng ngưỡng mộ, “Quang trung cực tôn, Phật trung chi
vương
”. Còn gì mà không chịu buông bỏ?


Tiền
tài, của cải, nhà đất của chúng ta bị người khác xâm chiếm, cướp đoạt, người
chân thật tín nguyện hạnh sẽ không lo lắng. Phật thường dạy chúng ta buông bỏ
thì đây chính là lúc để buông bỏ. Khi chưa có người đến cướp đoạt, ta không thể
buông bỏ; khi vừa bị đoạt lấy, đó chẳng phải là tăng thượng duyên? Một lòng niệm
Phật
coi không hề có việc gì. Người ta đến giúp ta nâng cao thêm một bước, cho
nên ta không những không hận người cướp đoạt, trái lại còn cảm kích, cảm ân, vì
không có họ, ta rất khó xả. Xả ra tức là tiến gần thêm một bước với Phật Di Đà.
Thử nghĩ “Mọi thứ không thể đem, chỉ có nghiệp theo mình”. Đến lúc lâm
chung
không ai mang được thứ gì, phải xả hết, thế thì hiện tại xả không phải
càng tốt hơn sao?


Kinh
Phật nói, đồ vật của chúng ta bị kẻ khác cướp thì đồ vật đó trở thành
của họ, chúng ta không thể tìm lại được. Nếu cố tình tìm về coi như chúng ta đã
phạm giới trộm cắp. Họ cướp của ta nghĩa là họ phạm giới trộm cắp, nếu ta tìm
trở lại thì chính ta lại phạm giới trộm. Cho nên sau khi xả thì không nên
nghĩ nữa, họ trộm có nhân quả của họ, chúng ta giựt trở lại sẽ phải đọa lạc, do
sự và lý tương đối vi tế, không thể không biết. Người thế gian đều cho rằng bị
giựt thì phải giựt lại mới là hợp lý, thế nhưng Phật nói không hợp lý, chúng ta
phải tỉ mỉ suy xét đạo lý Phật dạy, nhất định phải tuân thủ giáo huấn.


Một
lần
tôi đến đây từ Úc châu, buổi tối hôm đó, Nha Long cúp điện mấy tiếng
đồng hồ, nơi cửa tam quan có ba cây Tiên Nhân Chưởng nở ra hai mươi mấy đóa
hoa. Việc này trước đây chưa từng thấy vì cây Tiên Nhân Chưởng rất hiếm nở hoa.
Lần này hoa nở màu trắng giống như hoa sen. Tôi liền bảo pháp sư Ngộ Hạnh chụp
hình. Thầy đã chụp hai mươi mấy tấm, sau đó rửa ra. Thật ngạc nhiên trong hình
không hề thấy hoa. Tôi bảo mọi người xem có ngộ điều gì chưa. Dường như không
ai ngộ. Tôi nhìn hoa này, liền cảnh giác cao độ, vạn pháp vô thường, sát na
sanh diệt. Về sau vĩnh viễn cũng không còn thấy tấm phim đó nữa. Chính ngay lúc
ấn máy chụp hình, ngay sát na đó ta mới biết sinh mạng ngắn ngủi đến như vậy
thì
tại sao phải tạo nghiệp. Sinh mạng chúng sanh chúng ta chính là một sát na,
chúng ta gọi là tướng tiếp nối. Kinh Kim Cang nói: “như sương cũng như chớp”,
như chớp” là nói chân tướng, “như sương” là nói tướng tiếp nối,
cho nên không có thứ nào không đang nói pháp.


Tiên
Nhân
Chưởng nở hoa nói pháp cho chúng ta: “vạn pháp vô thường, như
sương cũng như chớp
”, chẳng phải đang nói kinh Kim Cang? Kinh Kim Cang, Kim
Cang
Bát Nhã, tâm luôn nghĩ vẩn vơ chính là chỗ khác nhau giữa học Phật và
không học Phật. Chúng ta có thể thâm nhập như vậy mới biết được sáu căn tiếp
xúc
cảnh giới sáu trần, cảnh giới nào cũng là “Đại Phương Quảng”, cảnh
giới
nào cũng là “Phật Hoa Nghiêm”, “Vô Lượng Thọ”, “Thanh
tịnh
Bình đẳng Giác
”, chỉ do chúng ta không nhận ra. Nếu nhận ra mới hiểu
được những gì kinh Hoa Nghiêm nói. Chư Phật Như Lai giảng kinh nói pháp, trần
thuyết
, sát thuyết từ trước đến giờ chưa từng gián đoạn. Tận hư không khắp pháp
giới
bất cứ lúc nào nơi nào cũng đều đang nói pháp. Tất cả pháp chính ngay
trong sáu căn tiếp xúc với cảnh giới sáu trần, tiếc là chúng ta không nhìn thấy.
Giống như tia chớp sáng lên một tí, chớp lên một cái rồi lại tối đen, lại
muội
. Chúng ta làm sao gìn giữ một niệm sáng suốt, đó gọi là công phu; gìn giữ
một niệm trí tuệ, một niệm cảnh giác, đó chính là trí tuệ cao độ.


Cho
nên tín nguyện hạnh, nguyện là quyết định phải sanh Tây Phương Tịnh Độ.
Không sanh Tây Phương Tịnh Độ, cho dù ra khỏi mười pháp giới chứng được Pháp
Thân Đại Sĩ
còn phải trải qua ba a tăng kỳ kiếp mới có thể viên thành Phật đạo,
huống hồ chúng ta không dễ dàng thoát khỏi mười pháp giới, thậm chí chỉ thoát
khỏi
sáu cõi cũng đã không dễ dàng. Một điều hơi khó nghe nhưng nhất định phải
nên biết, thoát khỏi ba đường ác rất khó khăn. Ngày nay rất đông chúng sanh tạo
tội nghiệp ba đường ác. Kinh Đại Tiểu thừa, Phật đều nói như vậy, mỗi ngày Phật
nhắc nhở chúng tanăm giới mười thiện”. Thân còn tạo sát sanh, trộm
cắp
, tà dâm; khẩu còn uống rượu, “vọng ngữ” là nói hai lời, khiêu khích,
ức hiếp chúng sanh, không thành thật; “ỷ ngữ” là lời nói bóng bẩy lừa
gạt, “ác khẩu” là nói thô lỗ, mắng người; ý có tham sân si, tạo mười ác
nghiệp
này, quả báo sẽ ở ba đường khổ. Hiện tại tuy chưa đọa vào ba đường nhưng
đã đánh dấu tương lai sẽ thọ báo. Ai không tạo mười ác nghiệp, trái lại còn tu
mười thiện nghiệp: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng
ngữ
, không hai lời, không ác khẩu, không thêu dệt, không tham, không sân, không
si, thì thượng phẩm mười thiện sanh lên trời, trung phẩm mười thiện phước báu ở
đời sau. Đời sau vẫn được thân người, hưởng phước nhân gian. Hiện tại thế gian
có nhiều người hưởng phước do quá khứ có công tu năm giới mười thiện, nên hiện
tại
phú quý này là phước báu của họ.


Nhân
duyên
quả báo chân thật bất hư, không lọt mảy trần, tất cả kinh Phật đều
nói như vậy. Nếu chúng ta không chăm chỉ làm đúng thì đó là tự cam đọa lạc, tín
nguyện
hạnh thảy đều không có. Hành là thành thật niệm Phật. Khi không có việc
gì, trong lòng trì một câu Phật hiệu không gián đoạn, điểm này rất quan trọng.
Người niệm Phật không sợ chết, sợ chết thì tín nguyện hạnh là giả. Mục đích
chính của người niệm Phật là đến thế giới Cực Lạc, thân cận Phật Di Đà, càng đi
sớm càng tốt cho nên không sợ chết. Thế gian không đáng lưu luyến, đời ác năm
trược, ở lại thế gian một ngày là chịu thêm một ngày tội, thay vì thế đi sớm
một ngày đến thế giới Tây Phương Cực Lạc để hưởng phước. Kinh nói “Thanh hư
chi thân, vô cực chi thể
”, không như thân ô uế này, một ngày không tắm gội,
lỗ chân lông đều tiết ra mùi hôi thối. Biết thân này bất tịnh, không sạch sẽ,
sanh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, thân tướng y như Phật, đều thân tử ma sắc
vàng, tại sao không chịu đổi cái thân, còn lưu luyến cái túi da thối này?


Cho
nên người chân thật niệm Phật thường hay nghĩ cái chết, không muốn sống nhiều
hơn ở thế gian này nữa. Niệm Phật đường của lão pháp sư Ấn Quang đáng để chúng
sanh
học tập. Đại sư Ấn Quang tu hành, trong gian phòng của ngài không có bất
cứ thứ gì, chỉ có miếng che thay đồ phơi quần áo. Trong Phật đường nhỏ của ngài
chỉ có một tôn Phật tượng, một quyển kinh Di Đà. Phía sau tượng Phật viết một
chữ “chết” thật to. Đại sư dạy chúng ta làm thế nào tu tín nguyện hạnh,
làm thế nào ngay trong đời này nhất định vãng sanh. Học phương pháp của ngài,
chúng ta không sợ chết mà mỗi ngày nghĩ chết. Người thế gian cho rằng cái chết
rất đáng sợ, còn chúng ta chết thì vãng sanh. Cái chết của chúng ta thực chất
chỉ là sự di dân, thoát khỏi thế giới Ta Bà di dân đến thế giới Cực Lạc, hân
hoan
vui thích. Chúng ta xả bỏ thân ô uế để được thân kim cang bất hoại, xả bỏ
hoàn cảnh đời sống xấu ác để đến Tây Phương trải qua hoàn cảnh thanh tịnh. Vậy
mới là phát nguyện, vậy mới gọi là thật tu hành. Mỗi tối lên gường liền nghĩ
Phật đến tiếp dẫn, mắt nhìn vào vách xem thử Phật có đến hay không. Ngày ngày
nghĩ Phật đến, giờ giờ nghĩ Phật đến, buổi trưa ngủ cũng nghĩ Phật đến, luôn
luôn hy vọng, trông mong vào ngài. Nếu hiện tại Phật chưa đến, chúng ta còn
chút việc phải tranh thủ đem kinh này giảng giải, giúp đỡ chúng sanh để khi
chúng ta đi đến thế giới Tây Phương Cực Lạc có thể dẫn thêm được vài người đi
cùng. Đó là việc làm vô cùng ý nghĩa.


Sau
tín là huệ, sau nguyện cũng có huệ. Tín mà không có trí tuệ thì không phải
chánh tín. Trong tín đó có tà tín, tư tưởng kiến giảisai biệt. Nguyện cũng
phải có huệ, nguyện mà không có huệ thì không phải thật nguyện. “Tin sâu nguyện
chắc
” là cách chúng ta gọi huệ này. Huệ thực tiễn ngay trong bộ kinh
Lượng Thọ
, chúng ta đọc tụng, lý giải, y giáo phụng hành, huệ liền đầy đủ.


Hương
Tượng
đại biểu cho hạnh. Trong chú giải của người xưa, khí lực của “Hương
Tượng”
rất lớn. Thời xưa khoa học chưa phát triển, vận chuyển đều nhờ vào
sức động vật. Sức mạnh lớn nhất bấy giờ là đại tượng, mạnh hơn rất nhiều so với
trâu ngựa. Cho nên tượng đại biểu cho sức mạnh, luôn được dùng để ví dụ. Nguyện
hạnh
của chúng ta vô biên, nguyện hạnhđại lực, biểu thị ý này. “Tín
nguyện
hạnh
” là ba điều kiện tu hành cần thiết của Tịnh Độ, không thể thiếu
một trong ba. Phải đầy đủ viên mãn thì hành giả nhất định sẽ vãng sanh.


11.
Bảo Anh Bồ tát


Anh
là tinh hoa, Bảo Anh chính là tinh hoa trong Bảo, đại biểu Di Đà
nguyện hải. Tất cả chư Phật Bồ tát phát đại nguyện đều lấy nguyện của Phật A Di
Đà
làm tinh hoa. Bồ tát Bảo Anh biểu thị ý nghĩa này cũng chính là nói, người
đầy đủ tin sâu nguyện chắc, thành thật niệm Phật, nhất định vào biển nguyện Di
Đà
, thành tựu đại viên mãn. Bồ tát ngay đây chẳng phải đã thọ ký cho tất cả
chúng ta sao? Thọ ký vãng sanh làm Phật, loại thọ ký này, không luận là Hiển
giáo
, Mật giáo, mà bao gồm tất cả thọ ký.


12.
Trung Trụ Bồ tát


Chúng
ta
mong cầu vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc, tham dự đại pháp hội của
Phật A Di Đà, đó là Di Đà nguyện hải. Chúng ta cũng hiểu rõ những đạo lý này,
nắm vững cương lĩnh, tu hành thế nào. Thế nhưng hiện tại chúng ta vẫn chưa đi,
thân thể vẫn còn ở thế gian này, vậy phải sinh họat ra sao? phải làm việc thế
nào? Làm thế nào đối nhân xử thế tiếp vật tương ưng với lý luận cảnh giới trong
kinh mà không hề trái phạm?. Điều này vô cùng quan trọng. Hay nói cách khác,
hiện tại chúng ta chưa đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, chúng ta phải trải qua
đời sống như các thượng thiện nhân của thế giới Tây Phương Cực Lạc, như vậy mới
tương ưng. Cho nên ở nơi đây, Phật dùng Bồ tát Trung Trụ để biểu thị.


Tâm
chúng ta phải ở nơi trung đạo, không có tâm thiên lệch. Tất cả đều phải nắm
được trung, cái trung này không thiên vào không cũng không thiên vào có, không
thiên vào chánh cũng không thiên vào tà. Những chân giả, tà chánh, thiện ác,
phải quấy, chúng ta đều nói hai bên. Phật dạy phải đi vào trung đạo, đó chính
là biểu hiện đời sống trí tuệ cao đẳng. Phải tiếp cận chánh pháp, cũng không
thể bài trừ tà pháp. Chuyển tà quay về đường chánh, đó là tạo công đức, trí
tuệ
. Nếu có phát tâm, tâm thừa mà sức không đủ để chuyển tà quay về đường
chánh, như vậy công đức cũng đã hoàn thành, như trên kinh Lăng Nghiêm Phật nói
phát ý viên thành”, thì xem như cũng được viên mãn công đức. Cho nên
phải biết dùng “Trung đạokết hợp đời sống tu hànhTịnh Niệm liên
tục
” mà Bồ tát Đại Thế Chí đã nói. Đây là ý nghĩa mà “Trung Trụ
biểu thị.


Tịnh
niệm là niệm Phật, không nhất định phải niệm ra tiếng. Miệng niệm không ra
tiếng thông thường gọi là Kim Cang trì. Còn có một loại hoàn toàn niệm thầm,
miệng cũng không động, trong lòng đích thực rõ ràngA Di Đà Phật, A Di Đà
Phật
” không gián đoạn, quyết không dễ dàng xen tạp. Một câu Phật hiệu tiếp
một câu Phật hiệu, không những tất cả pháp thế gian không xen tạp, mà thân tâm
thế giới tất cả buông bỏ, niệm Phật như vậy liền cảm ứng. Pháp sư học giảng
kinh
, khi đang niệm Phật thì không nên nghĩ đến việc học giảng kinh, kinh văn
cũng không nên nghĩ tưởng, cách giảng thế nào cũng không nên nghĩ, không nghĩ
tưởng
bất cứ thứ gì, chỉ một câu Phật hiệu niệm đến cùng. Phật hiệu niệm xong
sẽ có cảm ứng, hành giả liền được Phật lực gia trì, khai mở trí tuệ.


Vạn
lần không nên một mặt niệm Phật một mặt nghĩ đến kinh này cách giảng phải thế
nào, phải nghiên cứu ra sao. Vậy thì hỏng, Phật niệm không tốt, kinh cũng không
nghiên cứu xong, đó gọi là không khéo dụng tâm. Người khéo dụng tâm chỉ dùng
một tâm. Khi niệm Phật một lòng niệm Phật, khi nghiên cứu một lòng nghiên cứu.
Mở quyển kinh ra nghiên cứu thì tuyệt đối không niệm Phật, tâm phải chuyên nhất
một công việc, Phật nói “để tâm vào một chỗ thì việc gì chẳng xong”. Y
theo
cách dạy này của Phật nhất địnhthành tựu.


Bản
thân
tôi có thể để tâm vào một chỗ, không luận làm việc gì nhất định một
lòng mà làm, đang làm việc này quyết không nghĩ đến việc kia. Cho nên tôi làm
việc rất nhanh, rất tự tại. Nhờ lão sư Lý, Chương Gia đại sư làm gương cho tôi
xem, tôi nhìn dáng vẻ của họ, học tập với họ. Gần đại sư Chương Gia ba năm,
thân cận lão sư Lý mười năm, mỗi ngày tôi nhìn họ. Lão sư thường chăm sóc tôi,
chỗ nào sai lầm, họ giúp tôi sửa đổi. Chính mình tâm chánh, ngôn chánh, hạnh
chánh, người bên ngoài có nói thế nào cũng không ảnh hưởng. Thế gian làm gì có
ai có thể vừa lòng tất cả mọi người. Phật còn không làm được. Thế gian này có
biết bao người mắng Phật Thích Ca, mắng Phật A Di Đà. Phật còn bị người mắng
thì ta bị người khác mắng có can hệ gì. Phật tiếp nhận người ta mắng, chúng ta
cũng phải tiếp nhận người ta mắng, không nên một câu biện bạch. Đối với người,
chúng ta chân thành cung kính tán thán. Người ta hủy báng, nhục mạ, hãm hại,
chúng ta vẫn cần tán thán, cảm ân họ. Như vậy mới tiêu nghiệp chướng, tăng
phước huệ của chính mình. Thường giữ tâm “Trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ
ba đường
”, đó mới là Bồ tát Trung Trụ.


Cho
nên phải học “Tịnh Niệm Liên Tục”, trong niệm có tịnh, tịnh là
không xen tạp. “Tương tục” là công phu không gián đọan. Từ nơi công phu
mà nói có thể đạt đến “Tức Niệm Ly Niệm”, công phu liền có kết quả, liền
được thuần thục. “Tức Niệm Ly Niệm” chính là “niệm mà không niệm,
không niệm mà niệm
”. Không niệm cùng niệm là một, không phải là hai. Vào
pháp môn không hai, phiền não không hai là cảnh giới của pháp thân đại sĩ. Có
thể vào được pháp môn không hai thì không cần nói sáu cõi mà có thể siêu việt
luôn mười pháp giới, biết tất cả pháp thế xuất thế gian đều là pháp bất nhị,
biết được kinh Phật đều là lời thật.


Phàm
phu
luôn cho rằng chính mình cùng người khác là đối lập. Không phải vậy, tận
không
khắp pháp giới là chính mình, đó là chân tướng chúng ta có thể thấy được,
có thể khẳng định. Kinh Phật nói, chứng được pháp thân thanh tịnh, hành giả
liền thành Phật, mức độ thấp nhất là Viên Giáo Sơ Trụ Bồ tát, minh tâm kiến
tánh
, kiến tánh thành Phật, họ thành Phật thật, không phải Phật giả. Trong phán
giáo
, đại sư Thiên Thai nói “Phần Chứng Tức Phật”, tuy chưa viên mãn
nhưng họ chứng thật. Vậy chứng được cái gì? Họ thừa nhận tận hư không khắp pháp
giới
đều là chính mình, tâm đại từ bi sanh khởi đối với tất cả chúng sanh
điều kiện. “Vô duyên đại từ”, cái duyên đó gọi là điều kiện. Từ là quan
tâm
, thương yêu, tôn trọng, toàn tâm toàn lực chăm sóc tất cả chúng sanh. “Đồng
Thể Đại Bi
”, bi là nhìn thấy tất cả chúng sanh khổ nạn, giúp họ thoát ly
khổ nạn cũng không có điều kiện, vì đồng thểbao gồm tất cả chúng sanh đồng
một thể với chính mình, một tâm một pháp giới, cho nên pháp giới gọi là nhất
chân
. Bồ Tát Trung Trụ ở đây biểu thị ý nghĩa rất sâu, đó là lý còn gọi là nhìn
thấu.


13.
Chế Hành Bồ tát


Hành
là hành vi sinh hoạt của chúng ta. Hành vi sinh họat không sao tránh khỏi
sai lầm. Chính mình phải biết tiết chế, sửa lỗi tự làm mới, đó là chân thật tu
hành
. Thánh hiền Trung Quốc xưa dạy, “không phải thánh hiền thì sao không
lỗi
”. Mỗi người đều có lỗi lầm, “lỗi mà có thể sửa còn việc gì tốt hơn”.
Biết sửa lỗi, người đó chính là Bồ tát, không chịu sửa lỗi thì là phàm phu. Sửa
lỗi
giác ngộ, là công phu. Trung Trụ biểu thị học vấn, Chế Hành biểu thị
công phu. Ngay trong cuộc sống thường ngày, chúng ta phải tuân thủ nguyên tắc
này, không luận từ công việc nghề nghiệp nào, tuân thủ, nắm chắc nguyên tắc này
chính là ta đang trải qua đời sống của Bồ tát.


14.
Giải Thoát Bồ tát


Giải
là giải trừ phiền não, lo lắng, vướng bận, thoát khỏi tất cả ưu bi khổ não
ngay hiện tại. Giáo học của Phật pháp có thể thể hội được, có thể quan sát
được, nó đích thực giúp đỡ chúng ta hiện tiền đạt hạnh phúc, gia đình mỹ mãn,
sự nghiệp thuận lợi thành công, xã hội an lành, mọi người tôn kính lẫn nhau, lễ
nhường, hợp tác lẫn nhau, cùng tồn tại phát triển, quốc gia giàu mạnh, thế giới
hòa bình. Đó cũng là mong mỏi của các lãnh đạo chính trị gia, khoa học gia,
công thương nghiệp, thậm chí đến các lãnh đạo giới học thuật, giới tôn giáo.
Vào năm 70, nhà triết học lịch sử nước Anh đã chỉ điểm trên thế giới chỉ còn
một đường đi, ông nói: “Muốn cứu vãn thế kỷ 21 đạt đến hòa bình cùng tồn
tại
, chỉ có học thuyết của nhà Nho cùng Phật pháp Đại Thừa
”. Câu nói phát
ra từ miệng của một người nước ngoài, một con người cừ khôi học vấn. Ông đã
nhìn thấy thế kỷ 21 là một xã hội rất phức tạp.


Ngày
trước mỗi quốc gia khu vực đều đóng cửa, không hề qua lại với nhau. Mỗi người
phạm vi nhỏ của mỗi người. Đến thế kỷ 21 khoa học kỹ thuật thông tin phát
triển, mỗi người đều có vi tính. Học sinh tiểu học nước Mỹ đều dùng vi tính
trên lớp, tin tức toàn thế giới đều ở ngay trước mắt, lúc nào cũng có thể du
lịch khắp nơi, chánh thức tiếp xúc mặt đối mặt. Ngày trước văn hóa không đồng,
vừa tiếp xúc liền nảy sinh xung đột, bất đồng quan điểm do phương thức đời sống
tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, khó có thể thích ứng. Tuy nhiên học thuyết
nhà Nho cùng Phật pháp Đại Thừa có thể giải quyết ổn thỏa. Những năm trước, Anh
quốc đã đem Phật học vào giáo trình trường học. Các bậc tiểu học, trung học,
đại học đều có kinh Phật trong giáo trình. Nước Anh là quốc gia Ki To giáo, họ
dẫn đầu sự kiện này.


Hiện
tại
Úc châu cũng đã mở hội thảo tập hợp các nhân vật lãnh đạo giới tôn giáo,
giới học thuật, học giả chuyên gia đến thảo luận nghiên cứu môn học thích ứng
thế kỷ 21. Tôi đã tham dự buổi hội thảo, thăm viếng một số trường đại học của
họ. Bậc đại học ở đó rất chú trọng đến vấn đề này, bởi vì chính sách hiện tại
của Úc châu là mở rộng di dân từ các nơi khác nhau trên thế giới đến. Từ bối
cảnh văn hóa, tư tưởng, tín ngưỡng không giống nhau, họ phải cùng người Úc châu
chung sống trong một xã hội, tuy nhiên phải làm thế nào gạt bỏ được những ngăn
cách, gạt bỏ hiểu lầm, đạt đến hợp tác lẫn nhau cùng tồn tại phát triển. Một
viện trưởng của học viện đến hỏi tôi câu hỏi này, tôi nói: “Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm kinh
”, họ nghe hoan hỉ và muốn tôi đến mở lớp. Nhưng ở
Singapore, tôi bị Lý Mộc Nguyên giữ lại, ông ấy xây dựng đạo tràng to lớn tốn
kém
khá nhiều, tôi phải giữ đạo nghĩa, không phụ lòng ông ấy. Dù hoàn cảnh bên
ngoài có tốt hơn, tôi vẫn phải đi cùng ông ấy mà xả bỏ lời đề nghị của đại học
Úc châu, không thể lưỡng toàn kỳ mỹ. Chúng ta đã có mười năm gắn bó, một phần
ân đức nghĩa tình trong đó nên quyết không thể thấy trăng quên đèn, để lại
gương không tốt cho mọi người, tạo động loạn bất an của xã hội. Giữ gìn đạo
nghĩa
, dù lợi íchtốt hơn, chúng ta cũng không động tâm, đó là kiến lập một
gương tốt chính diện cho xã hội. Mọi người nhìn vào đều giảm ham thích danh
vọng
lợi dưỡng, vinh hoa phú quý, trải qua đời sống hạnh phúc. Điều này quan
trọng hơn bất cứ thứ gì, cũng là lời dạy trong kinh Phật, làm sao có thể trái
phạm.


Giải thoát chính là quả báo của hiện tại, còn quả báo vị laivĩnh viễn thoát khỏi
sáu cõi luân hồi, không những thoát khỏi sáu cõi luân hồi mà còn siêu việt mười
pháp giới, chứng pháp giới nhất chân tức thế giới Tây Phương Cực Lạc, nhất chân
trong nhất chân, thù thắng không gì bằng. Cho nên mười phương chư Phật tán
thán
. Chúng ta trong một đời gặp được thì phải hạ quyết tâm bắt lấy, nhất định
phải y giáo phụng hành. Mỗi ngày đọc bộ kinh này, thấu triệt được lý giải, đem
tập khí phiền não từ vô lượng kiếp đến nay vứt bỏ hết.


Năm
trước tôi giảng bộ kinh này, khi giảng đến ba bậc chín phẩm, tôi
có cách nói hơi khác cách nói của người xưa có thể giúp mọi người dễ
hiểu
. Nếu chúng ta y giáo từng câu từng chữ trong kinh, nhất định sẽ được
thượng thượng phẩm vãng sanh, vì “tâm nguyện giải hạnh” của chúng ta
hoàn toàn tương ưng với Phật A Di Đà. Nếu y theo 90%, hành giả sẽ vãng sanh
thượng phẩm trung sanh. Làm đến 80% thì bị giáng xuống một bậc, thượng phẩm hạ
sanh. Làm được 70%, thì trung phẩm thượng sanh, cứ như vậy mà hướng xuống đến
hạ phẩm hạ sanh. Nếu không làm được 20% thì đó chỉ là kết duyên với Phật A Di
Đà
, đời này không thể đi được. Việc niệm Phật này người xưa nói, “Đau mồm
rát họng chỉ uổng công”
, đời này không thể vãng sanh. Tôi đã dùng biện pháp
phân tích chín phẩm vãng sanh để lý giải vì sao chúng ta phải nỗ lực làm đến
100%, điều đó hoàn toàn không khó.


Khó
khăn là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước không chịu buông bỏ. Vọng tưởng, phân
biệt
, chấp trước đều là giả, toàn là không, chân thật buông bỏ thì mới thượng
thượng phẩm
vãng sanh. Do đó đời này chúng ta phải tranh thủ. Những thứ khác
đều giả huyễn. Đạt đến ngôi vị quốc vương, thiên vương cũng đều là giả, không
phải thật. Vinh hoa phú quý cuối cùng cũng không thể giữ được, vẫn phải chết,
chết rồi vẫn phải chịu luân hồi, đó là không có trí tuệ.


“Nhi
vi thượng thủ”


Mười
sáu vị Bồ tátưu điểmsở trường riêng. Chúng ta thảy đều học được, sau đó
trở thành Bồ tát viên mãnđức hạnh của từng vị. Mười sáu vị Bồ tát đều là
lão sư của chúng ta nên phải cố gắng nỗ lực học tập với họ. Mười sáu vị Bồ tát
này biểu thị kinh văn của toàn kinh. Danh hiệu các ngài là tổng cương lĩnh của
toàn kinh. Do đây có thể biết, lão cư sĩ Hạ Liên Cư từ ngay đoạn này phân thành
một phẩm, rất có đạo lý. Biểu pháp của tỳ kheo Bồ tát phía trước là biểu pháp
thông
thường của Đại Thừa, biểu pháp chung đại biểu toàn thể Phật pháp, biểu
pháp nghiêng nặng về pháp môn Tịnh Độ. Còn biểu thị của mười sáu vị Bồ tát tại
gia
này là nội dung thiết yếu của bổn kinh, chính là mười sáu cương lĩnh.


Hàm
cộng tuân tu Phổ Hiền Đại Sĩ chi đức


Phổ Hiền Đại Sĩ chi đức là “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh”.
Bồ tát Phổ Hiền xếp thứ nhất, Bồ tát Văn Thù xếp thứ hai, cho nên ngài đại biểu
là “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh”. Do đây có thể biết kinh này
cũng là rút gọn, là tinh hoa của kinh Hoa Nghiêm.


Một
cách tỉ mỉ thì kinh Hoa Nghiêm nói rộng nghĩa của kinh Vô Lượng Thọ. Hành giả
có thể khế nhập sâu rộng, sau đó giảng kinh Di Đà. Nội dung sâu sắc, lời lẽ dễ
hiểu
mới có sức mạnhcông lực. Cho nên “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
Kinh”
, có giảng mấy năm cũng không hết. Câu này lấy từ kinh Hoa Nghiêm, mất
năm năm cũng không giảng xong.


Bồ tát Phổ Hiền trong Hạnh Phổ Hiềncương lĩnh quan trọng nhất, đó là “mười
đại nguyện vương
”, mười đại cương tu hành của Hoa Nghiêm. Bồ tát Phổ Hiền
đã tu vô lượng vô biên đức hạnh, quy nạp lại không thể vượt qua mười tổng cương
lĩnh
này. Mọi người tụng rất quen thuộc mười tổng cương lĩnh này, tuy đọc nhưng
phần lớn lại không hiểu ý nghĩa.


Thứ nhất, “Lễ kính chư Phật”


Giáo
học nhà Phật, lễ kính đứng hàng đầu, giáo học nhà Nho cũng dạy lễ kính trước
tiên
. Lễ kính là tánh đức, là lưu xuất tự nhiên từ tánh đức của con người,
không phải từ bên ngoài. Mỗi một hành môn của hạnh Phổ Hiền đều tương ưng với
tự tánh, đều lưu xuất tự nhiên từ trong tự tánh. Cho nên ngài có thể viên thành
Phật đạo. Kinh Phật thường nói “Bồ tát không tu hạnh Phổ Hiền thì không thể
viên thành Phật đạo
”, đạo lý ngay chỗ này. “Lễ Ký” của nhà Nho, câu
thứ nhất Điển lễ viết: “Vô bất kính”. “Vô bất kínhđồng ý nghĩa
với “Lễ kính chư Phật”. Những thánh hiền Nho giáo và chư phật Bồ tát của
Phật giáo dù chưa hề gặp mặt nhau, chưa từng hội đàm với nhau nhưng lý luận
quan niệm phương pháp giáo học gần như giống nhau. Đúng như chúng ta
thường nói “Anh hùng sở kiến, đại lượt tương đồng”.


Lễ kính của nhà Nho bao gồm ba nghiệp thân khẩu ý. Thân kính, miệng tán
thán
, ý giữ sự chân thành. Phật pháp giảng càng thấu triệt hơn. “Lễ”,
biểu hiện bên ngoài là cung cung kính kính. “Kính”, giữ ở trong lòng,
tâm chân thành, ý kính. “Chư Phật” là đối tượng chúng ta lễ kính. Chư
Phật là ai? Trên kinh Phật nói “Quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật đều
là chư Phật
”. Trên kinh điển, Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói về quá khứ Phật,
cũng không ít lần giới thiệu về hiện tại Phật, mọi người đều rất quen thuộc.
Thế giới Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà, thế giới Lưu Ly phương Đông Dược
Sư Như Lai
Phật hiện tại. Vị lai Phật là tất cả chúng sanh. Do đó phạm vi lễ
kính
khá rộng. Chúng ta cung kính Phật A Di Đà như thế nào thì đối với tất cả
chúng sanh cũng đồng một tâm cung kính như vậy. Nếu lòng cung kính có sự khác
biệt, đó không phải tu hạnh Phổ Hiền. Cung kính tất cả chúng sanh bằng tâm cung
kính
hoàn toàn bình đẳng với Phật A Di Đà, như vậy mới gọi là tu hạnh Phổ Hiền.
Chúng sanh có ân hay có oán, giúp đỡ hay nhục mạ đều là Phật, không thể có khác
biệt.


Nhiều
người cho rằng việc này rất khó làm. Dù rất khó nhưng cũng phải làm cho bằng
được, làm không được thì không phải tu hạnh Phổ Hiền. Tất cả chúng sanh đều có
Phật tánh, đã có Phật tánh thì họ chính là Phật. Chúng ta lễ kính họ không phải
con người họ mà ở việc họ đang làm. Chúng ta tôn trọng Phật tánh của họ, xem
Phật tánh của họ cùng tất cả chư Phật Như Lai như nhau. Phật nói, ngoài chúng
sanh hữu tình
, chúng sanh vô tình là vạn vật trong thế gian cũng có pháp tánh.
Pháp tánh cùng Phật tánh là một tánh. Phật vì khác biệt hữu tình và vô tình nên
mới gọi Phật tánhpháp tánh, kỳ thật là một tánh. Kinh Hoa Nghiêm, Phật nói
Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí”, nói cách khác, chúng sanh vô tình
cũng là Phật, cũng phải được cung kính giống như Phật A Di Đà không hề khác
biệt.


Ví như cái bàn để ngay trước mặt, trên bàn có những thứ dơ bẩn, chúng ta lập tức
lau sạch sẽ dù cái bàn này có phải của ta hay không, ta có dùng nó hay không.
Bàn để không ngay thẳng, chúng ta lập tức sửa lại, ghế cũng phải lau thật sạch
sẽ, xếp ngay thẳng chỉnh tề. Ngồi trên ghế không ngay thẳng là không tôn kính,
tu “Lễ kính chư Phậtthể hiện ý này. Hội Hoa Nghiêm có bốn mươi mốt vị
pháp thân đại sĩ đều tu, không có ngoại lệ. Chư thượng thiện nhân phàm hễ vãng
sanh
đến thế giới Cực Lạc, từ thượng thượng phẩm đến hạ hạ phẩm mỗi người đều
tu. Hiện tại chúng ta chưa đi thì bây giờ tu, tập thành thói quen, khi đến thế
giới
Tây Phương Cực Lạc sẽ rất thuận tiện. Nếu hiện tại chưa tập thành thói
quen
, tập khí còn nặng, đến thế giới Tây Phương Cực Lạc sẽ bị người ta khai
trừ, thật là hổ thẹn. Thực ra, thế giới Tây Phương Cực Lạc sẽ không khai trừ
ai, chẳng qua chúng ta không thể đến đó được. Kinh nói A Di Đà Phật cùng những
bậc thượng thiện nhân là “thiên nhãn đồng thị, thiên nhĩ triệt thính”.
Chúng ta không thấy được các ngài nhưng các ngài thấy được chúng ta. Công phu
tu hành của chúng ta nơi đây, chính mình không hề biết nhưng các ngài thấy
ràng
tường tận. Sau đó các ngài lựa chọn người có thể đến và người không thể
đến. Người trúng tuyển là người phù hợp với điều kiện của các ngài. Hiện tại
chúng ta hãy nỗ lực tu hành, các ngài xem thấy liền hoan hỉ. Nhất định khi lâm
chung
được chư Phật Bồ tát tiếp dẫn, mở đại hội hoan nghênh, vô cùng hạnh phúc.


(Còn
tiếp …)


KINH
ĐẠI THỪA
VÔ LƯỢNG THỌ TRANG NGHIÊM THANH TỊNH BÌNH ĐẲNG GIÁC


Pháp
: HT. TỊNH KHÔNG


Biên
dịch
: Vọng Tây cư sĩ


Biên
tập
: PT. Giác Minh Duyên