GÁNH NẶNG ĐÃ ĐẶT XUỐNG
Quảng Tánh

Kinh điểnPhật giáo có ảnh dụnổi tiếng là qua sông rồi thì hãy bỏ bè. Nếu đã qua sông mà còn cố gánh chiếc bè, không dám buông bỏ thì chẳng phải người trí. Còn chưa qua sông mà toan bỏ bè thì ắt hẳn trôi sông, không tránh được họa chìm nghỉm. Thành ra, chiếc bè chỉ là phương tiện để qua sông. Khi đã qua sông sinh tử, sang bờ kia (đáo bỉ ngạn) rồi thì buông bè; không xả thì bè trở nên chướng ngại.
Cũng vậy, nỗ lựccông phu kệ kinh, tọa thiền nhằm tích công bồi đức để đoạn trừ phiền não chỉ là giai đoạn dụng công tu, lúc chưa dự phầnThánh quả. Khi chứng đắcgiải thoát rồi (bậc A-la-hán), phiền não đã diệt sạch rồi thì “việc nên làm, đã làm”, “gánh nặng đã đặt xuống”. Bấy giờ thì bậc Thánh buông hết mọi thứ, thuận với tự nhiên “đói ăn mệt ngủ”, thong dongtự tại. Với tâm giải thoát và tuệ giải thoátthường trực, các ngài tùy duyêngiáo hóa, làm hết các thiện pháp mà như không làm. Kể cả việc chính yếuđọc kinh, tọa thiền cũng buông, tự dotự tại, tùy duyênvô ngại.
“Một thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo du hành trong nhân gian, nghỉ lại trong một khu rừng, siêng tụng kinh, siêng giảng thuyết, tinh tấntư duy, đắc quả A-la-hán. Sau khi chứng quả rồi, không còn siêng tụng kinh, giảng thuyết nữa. Khi ấy có vị Thiên thần đang ở trong rừng đó, nói kệ:
Tỳ-kheo! Ngài trước kia
Ngày đêm siêng tụng tập
Luôn vì các Tỳ-kheo
Cùng luận nghĩaquyết định.
Nay, ngài đối Pháp cú
Im lặng không mở lời
Không vì các Tỳ-kheo
Cùng luận nghĩaquyết định.
Lúc ấy, Tỳ-kheo kia nói kệ đáp:
Xưa, vì chưa lìa dục
Tâm thường ưa Pháp cú
Nay, vì đã lìa dục
Việc tụng thuyết đã xong.
Trước, biết đạo đã đủ
Thấy, nghe đạo làm gì?
Các thấy, nghe thế gian
Bằng chánh trí buông hết.
Sau khi Thiên thần nghe những gì Tỳ-kheo nói, hoan hỷ, tùy hỷ, liền biến mất”.
(Kinh Tạp A-hàm, kinh số 1337)
Đạo quảgiải thoátvô cùng cao xa, bặt hết dấu tích, đến nỗi Thiên thần cũng không lần ra. Với con mắt phàm tình, chúng tavô cùng kính ngưỡng các bậc phạm hạnhchân tu, chăm chỉ học pháp, tinh tấncông phu, miệt màithiền tập. Những người có tâm và hạnh như vậy là hạt giống chắc, đáng tôn kính trong hàng ngũ đệ tử của Thế Tôn. Tuy vậy, chư vị này chỉ đang ở giai đoạn “việc nên làm, đang làm”.
Đến khi bước sang địa hạt “việc nên làm, đã làm” thì khác hẳn, “gánh nặng đã đặt xuống” nghỉ ngơi hoàn toàn mà làm hết thảy Phật sự, không làm gì cả mà lợi ích chúng sinhvô sốhằng sa. Giáo hóachúng sinh một cách thong dong nhưng hiệu quảvô cùng mới đúng là hành đạo. Còn chúng ta hầu hết đều gắng sứchành đạo nên lắm khi bị đạo hành. Phụng đạo theo cách này cũng quý nhưng phải thường xuyên dè chừng, bị đạo hành rồi chướng ngại đường tu cũng chưa phải là điều hay.
Thế nên chúng tacẩn trọng khi phán xét người tu hành, nhất là về phương diệntinh tấn, nỗ lực. Khi ta thấy một hành giả không tận lực dụng công nữa, sống tùy duyên, cũng có thể họ quá mệt mỏi và rơi vào giải đãi nhưng cũng có thể họ đã làm xong phận sự của mình. Chỉ cần tinh ý, sống gần và lâu với vị ấy một thời gian, nếu thấy các phẩm chất giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến lưu lộ ra thì đích thị đó là bậc Hiền Thánh, cần tuyệt đối kính ngưỡng và thân cận những bậc ấy đến suốt đời.
























