Toàn Không
(Tăng Nhất A Hàm, quyển 2, phẩm Lực, từ trang 533)
1)- NHÂN DUYÊN:
Một trời đức Phật ngự tại rừng trúc Ca Lan
Đà thành La Duyệt cùng 500 đệ tử. Khi ấy vua A Xà Thế cho sửa soạn xe rồi đến
chỗ đức Phật, tới nơi đi bộ vào cúi lễ rồi thưa:
–
Cúi mong Thế Tôn nhận lời thỉnh của con ở lại đây nhập hạ ba tháng.
Đức Phật im lặng nhận lời, Vua A Xà Thế
thấy đức Phật im lặng nhận lời thỉnh, liền từ chỗ ngồi đứng lên cúi lạy rồi lui
đi. Vua A Xà Thế tùy thời cúng dàng thức ăn áo mặc, thuốc men v.v…
Khi ấy, tại thành Tỳ Xá Ly nhân dân chết
rất nhiều, có ngày chết cả trăm người, người nào mặt mũi vàng khè trải qua ba
bốn ngày liền chết, không có thuốc nào trị được. Nhân dân trong thành kinh
hoàng, họ tập trung bàn luận về sự lạ ấy rằng:
–
Thành này rất thịnh đạt, dân chúng giàu có vui sướng, ít có nơi nào sánh kịp.
Ngày nay tự nhiên bị tai họa này, đây là do Quỷ Thần La Sát hãm hại. Nếu không
có cách nào đối phó ngăn chặn, chắc dân thành này dần dần chết hết, rồi thành
này sẽ thành hoang địa mất thôi!
Lúc ấy có người nói:
– Nghe
nói có Sa Môn Cù Đàm hễ đi tới đâu thì những Quỷ Thần tàn ác đều bị hàng phục
và chạy trốn. Nếu Sa Môn Cù Đàm đến đây thì tai họa này có thể ngừng. Lại nghe
nói Sa Môn Cù Đàm hiện đang ở rừng Ca Lan Đà thành La Duyệt nước Ma Kiệt được
Vua A Xà Thế cúng dường, sợ rằng Ngài không đến đây.
Lại có người khác nói:
–
Nghe nói Sa Môn Cù Đàm là người nhân đức từ bi rộng lớn, xem khắp tất cả, cứu
độ người yêu cầu, không bỏ chúng sanh, như mẹ đối với con. Nếu có người đến chỗ
ấy thưa thỉnh, chắc là Ngài sẽ đến ngay, Vua A Xà Thế chẳng thể giữ chân Ngài
được. Vậy ai có đủ uy tín biết nói năng, chịu đến rừng Ca Lan Đà bạch xin Ngài
chiếu cố thành Tỳ Xá Ly, thì chúng ta mới hy vọng qua khỏi tai họa này.
Khi
ấy, mọi người nhìn khắp, thấy có Trưởng giả Tối Đại ở trong chúng ấy, họ biết
Trưởng giả là người có thể đại diện dân thành Tỳ Xá Ly đi thỉnh Sa Môn Cu Đàm,
nên họ đều đồng loạt đề nghị Trưởng giả đại diện đi, Trưởng giả im lặng nhận
lời của mọi người, ông về nhà sửa soạn hành trang.
2)- TRƯỞNG GIẢ TỐI ĐẠI CẦU PHẬT: Trưởng gia
Tối Đại dẫn một người giúp việc đi theo, rồi cùng đi đến rừng Ca Lan Đà. Khi
tới nơi, Trưởng giả cúi lễ Phật xong, xưng tên họ và thưa:
–
Nhân dân trong thành Tỳ Xá Ly đang gặp nạn lớn, người chết rất nhiều, có ngày
chết cả trăm người. Hễ người nào bị vàng da chỉ trong ba bốn ngày thì chết,
không có thuốc nào trị khỏi, đây là do La Sát hãm hại. Cúi xin Thế Tôn thương
xót tiếp độ chúng con, để cho những người còn sống được yên ổn. Vì chúng con
nghe đức Thế Tôn đi đến đâu Thiên Long Quỷ Thần không dám quấy nhiễu. Kính mong
Ngài chiếu cố chúng con đến thành Tỳ Xá Ly, độ chúng con khỏi sợ hãi.
Đức Phật bảo:
–
Ta đã nhận lời của Vua A Xà Thế ở lại đây ba tháng, chư Phật, Như Lai chẳng bao
giờ nói hai lời. Nếu Vua A Xà Thế bằng lòng thì Ta sẽ đến đó.
Trưởng giả thưa:
–
Việc này rất khó, chắc chắn Vua A Xà Thế chẳng để đức Thế Tôn qua nước chúng
con đâu, tại sao? Vì Vua A Xà Thế chẳng có tí thiện cảm với nước chúng con. Nếu
ông ta trông thấy con là giết ngay, huống là chịu cho việc này. Nếu ông ta nghe
được nhân dân nước con bị Quỷ Thần La Sát hại mạng nhiều như thế, chắc là ông
ta mừng lắm. Xin Thế Tôn thương xót chúng con.
Đức Phật bảo:
–
Chớ nản lòng, chớ sợ hãi! Ông hãy bình tĩnh đến tâu Vua A Xà Thế như sau: “Như
Lai vừa nói với tôi: Như Lai thụ ký cho Vua A Xà Thế hoàn toàn không hư dối
không hai lời rằng phụ Vương Ngài vô tội mà bị giết, đáng lẽ phải đọa địa ngục
A Tỳ, nhưng ngày nay Vua đã sửa đổi hối lỗi, có lòng tin đối với giáo pháp của
Như Lai, nên được giảm tội. Khi Vua qua đời sẽ sinh vào địa ngục Phách Cừu, chết
ở đó sẽ sinh lên cõi cõi Tứ Thiên Vương, rồi sinh lên cõi Diệm Thiên, rồi cõi
Đâu Suất, cõi Hóa Tự Tại, cõi Tha Hóa Tư Tại, rồi trở lại cõi Tứ Thiên Vương.
Trong hai mươi kiếp không đọa đường dữ hằng sinh trong loài Trời, Người. Thân
cuối cùng, do lòng tin kiên cố, cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo, thành Bích
Chi Phật Trừ Ác”. Vua A Xà Thế nghe xong sẽ mừng rỡ mà bảo Ông rằng: “Tùy Ông
xin điều gì, ta sẽ không trái ý”
Trưởng giả Tối Đại thưa:
–
Con sẽ nương oai thần của Như Lai để đến gặp Vua A Xà Thế.
Rồi Trưởng gia cúi đầu lạy Phật, xong lui
đến cung Vua.
LỜI BÀN:
Điều đầu tiên chúng ta để ý là Vua A Xà
Thế là người ra lệnh bắt cha giam giữ không cho ăn rồi sau sai người giết, một
trọng tội trong ngũ nghịch, đó là: Giết cha, giết mẹ, giết bậc Thánh A La Hán,
làm chảy máu Phật, phá hoại Tăng đoàn. Tội ngũ nghịch bị đọa địa ngục A Tỳ là
địa ngục chịu cực hình nặng nhất, lâu dài tới một đại kiếp (1 tỉ 344 triệu
năm). Nhưng vì Vua đã ăn năn hối cải sám hối tội đã làm, lại làm nhiều việc
lành như cúng dàng Phật Tăng, tin sâu giáo pháp của Phật v.v… nên sau khi
chết tuy bị đọa địa ngục Phách Cừu, nhưng ít khổ hơn, thời gian ngắn hơn chừng hơn 100 ngàn năm thôi; cũng
vì các việc làm thiện ấy mà sau Vua được sinh cõi Trời cõi Người nhiều đời
nhiều kiếp cho tới khi tu hành thành bậc Bích Chi Phật lâu xa sau này.
Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng làm ác phải
bị đọa cõi dữ, làm lành được đến chỗ tốt. Đã biết như thế rồi, thì cố gắng cư
xử ở đời sao cho được tốt đẹp, không để cho tham lam sân hận giận hờn tác oai
tác quái, không để cho cái ngã cái kiêu mạn hoành hành chúng ta nữa.
3)- TRƯỞNG GIẢ TỐI ĐẠI GẶP VUA.
Khi ấy Vua A Xà Thế cùng quần Thần đang
bàn luận, có Quan giữ cổng thành dẫn một người đến và thưa truyền vào có người
nước Tỳ Xá Ly muốn được vào yết kiến Đại Vương. Vua từ xa trông thấy, bảo quần
Thần:
–
Người của nước kia đến đây, các Ông muốn bắt làm gì?
Các quần Thần, có người nói; “bắt cho xẻo
5 chỗ”, có người nói: “sẽ bêu đầu”. Vua nói:
–
Các ông cứ truyền lệnh cho bắt giết đi, chẳng cần gặp ta.
Trưởng gia Tối Đại nghe lệnh truyền bắt
giết thì kinh sợ, vội lớn tiếng rằng:
–
Tôi là sứ giả của Phật, tôi là sứ giả của Phật đến nói với Vua việc quan trọng.
Vua vừa nghe nói tiếng “Phật”, liền xuống
tòa, quỳ gối hướng đến rừng Ca Lan Đà vái lạy, xong Vua truyền lệnh cho dẫn
người ấy vào trước mặt Vua, rồi hỏi:
–
Đức Thế Tôn dạy điều gì?
Trưởng giả nói tất cả những điều đức Phật
đã dặn bảo ở trên, Vua A Xà Thế nghe xong mừng rỡ, liền bảo Trưởng giả:
–
Ông muốn xin điều gì? Ta sẽ cho.
Trưởng giả thưa:
–
Xin Đại Vương đừng trái lời hứa.
Vua bảo:
–
Ông muốn xin điều gì? Ta chẳng trái ý đâu.
Trưởng gia Tối Đại tâu Vua:
–
Nay dân thành Tỳ Xá Ly đang gặp đại nạn, bị Quỷ Thần La Sát làm hại, chết vô số
người, cúi mong Đại Vương để Thế Tôn qua nước chúng tôi cho Quỷ Thần tiêu tan,
vì từng nghe Thế Tôn đi đến đâu thì Trời Rồng Quỷ Thần chẳng dám gây ác hại.
Cúi mong Đại Vương chấp thuận lời thỉnh cầu của chúng tôi, để Thế Tôn qua nước
chúng tôi, ân đức của Đại Vương chúng tôi nhớ mãi mãi.
Vua nghe xong thở dài nói:
–
Điều yêu cầu này rất là lớn lao, chẳng phải tầm thường đâu, nếu Ông xin thành
quách, xóm làng, của cải Quốc gia, ta chẳng tiếc. Ta không ngờ Ông xin đến Thế
Tôn! Thật là khó nghĩ quá! Thôi được, ta đã hứa thì đành theo ý Ông vậy.
Trưởng giả hết sức vui mừng liền vái lễ
Vua, rồi cáo lui đến chỗ đức Phật, sau khi lễ lạy, ông thưa:
–
Bạch đức Thế Tôn! nhờ oai thần của Ngài, Vua A Xà Thế đã đồng ý để Thế Tôn đến
nước con rồi.
Đức Phật bảo:
–
Trưởng giả cứ về trước, Như Lai tự biết đúng thời.
Trưởng giả Tối Đại cúi lạy, đi nhiễu ba
vòng quanh Phật, rồi lui về trong lòng vô cùng mừng vui.
LỜI BÀN:
Chúng ta nên biết rằng sự xung đột ghét
nhau giữa hai nước Ma Kiệt và Tỳ Xá Ly rất sâu đậm, nhưng khi Vua A Xà Thế nghe
người nước thù địch nói là sứ giả của Phật, liền xuống khỏi ngai Vua quỳ gối
cung kính, chứng tỏ bậc Đế Vương khét tiếng ác ấy đã có tâm nhu nhuyễn đối với
đức Phật như thế nào rồi. Đến khi nghe Trưởng giả Tối Đại nói những lời Phật
thụ ký xong, Vua liền vui mừng về tương lai của mình, nên Vua đã không còn một
tí trở ngại nào trong việc chấp thuận lời thỉnh cầu của Trưởng giả Tối Đại nữa.
Chúng ta thấy sự độ chúng sinh của đức Phật thật là hiệu nghiệm biết nhường
nào, biến kẻ ác thành người thiện, Đức Phật đã tùy căn cơ, tùy trường hợp để độ
chúng sanh là vậy.
4)- ĐỨC PHẬT MỈM CƯỜI:
Sáng sớm hôm sau, đức Phật cùng 500 đệ tử
vây quanh trước sau ra khỏi rừng trúc Ca Lan Đà đến thành Tỳ Xá Ly, đi ngang
qua thành La Duyệt. Vua A Xà Thế ở trên lầu cao trông thấy đoàn chúng Tỳ Kheo
đi về phía thành kia thì thở dài than:
–
Chúng ta bị Trưởng giả kia lừa rồi, nay ta sống làm gì mà để Thế Tôn ra khỏi
nước?
Vua liền ra lênh đem 500 lọng để che đức
Phật và chúng Tỳ Kheo để khỏi nắng bụi, người trong thành La Duyệt cũng đem 500
lọng theo sau đức Phật. Vua Trời Đế Thích cũng cho Thiên Thần đem 500 lọng báu
cõi Trời che ở trên hư không. Các Quỷ Thần cũng đem 500 lọng báu đi ở trên
không, nhân dân thành Tỳ Xá Ly cũng đem 500 lọng đi rước đức Phật và đại chúng
Tỳ Kheo đến nước mình.
Khi đức Phật thấy các lọng báu từ trên
Trời tới dưới đất, rừng rừng lớp lớp như thế, Ngài bèn mỉm cười, miệng phóng ra
hào quang năm màu “Xanh vàng trắng cam đỏ”, Thị giả A Nan Đà thấy thế liền
nghĩ: “Đây là có duyên gì? Thế Tôn mỉm cười ắt có lý do”. Nghĩ xong, Tôn giả A
Nan Đà liền cúi đầu vái Phật rồi thưa:
–
Thế Tôn không mỉm cười vô duyên cớ, xin Ngài giải thích cho con về sự mỉm cười
của Ngài vừa rồi.
Đức Phật hỏi Tôn giả:
–
Thầy có thấy rất nhiều lọng báu không?
Tôn giả A Nan Đà trả lời:
–
Con có thấy.
Đức Phật nói tiếp:
Đó là lọng báu của Vua A Xà Thế, Nhân dân
La Duyệt, Vua Trời Đế Thích, Quỷ Thần, và Nhân dân thành Tỳ Xá Ly, mỗi mỗi đều
500 lọng, cộng lại là 2500 lọng.
Nếu Ta không xuất gia tu hành thành Phật,
thì trong 2500 kiếp sống sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương cai trị nhân dân, nhưng
bây giờ Ta đã thành Phật không nhận các lọng báu này.
A Nan nên biết, đời quá khứ lâu xa về
trước, có Vua tên Thiện Hóa trì vì ở nước Mật Hi La dùng chính pháp cai trị,
nhân dân đều mến phục. Vua có rất nhiều vợ, vợ cả (vợ lớn) tên Nhật Quang không
có con, các vợ khác đều không có con, Vua thường nghĩ: “Ta cai trị thiên hạ mà
không có con, nên Vua thường cầu khẩn van vái Trời Đất Thần Thánh mong có một
đứa con.
Một hôm người vợ cả Nhật Quang nói với Vua
rằng mình đã có thai (có mang), Vua rất vui mừng. Qua 9 tháng 10 ngày sinh được
một Thái tử” đẹp đẽ, Vua và tất cả phu nhân (vợ), quần Thần đều vui mừng, vì
Thái tử rất đẹp đẽ khác người nên Vua đặt tên là Ái Niệm. Vua rất thương yêu Ái
Niệm, nên Vua cho xây nhà ba mùa, chọn các con gái nết na đẹp đẽ đến vui chơi
với Thái tử.
Được ít lâu sau, Thái tử nghĩ: “Các người
con gái này có trẻ mãi đẹp mãi như thế này không? Ta thấy họ chẳng trẻ đẹp mãi
như thế này, chẳng ai có thể trẻ đẹp mãi ở đời, những cái đẹp này chỉ là tạm
thời, không lâu bền, không chân thật, giả dối, thế thì yêu thích sao được; ta
phải xa lìa sớm, nếu không sẽ không kịp nữa, ta phải rời bỏ họ mà học đạo”.
Ngay ngày đó, Thái tử cạo râu tóc, mặc áo
vải, chuyên tâm học đạo tu hành ngày đêm, Thái tử suy nghĩ các việc có nguyên
nhân đều là sinh diệt, mọi ái nhiễm đều do si mê mà ra.
Một đêm nọ, Thái tử dứt hết mọi trói buộc,
rồi thành Bích Chi Phật, Ngài liền nói kệ:
Dục là pháp vô thường,
Không chắc thật, biến đổi,
Biết đây là hoạn lớn,
Một mình, không chung đường.
Phật Bích Chi liền bay lên không trung đi
quanh trên thành Mật Hi La ba vòng. Vua cha không biết Thái tử thành Phật Bích
Chi, trông thấy Thái tử đi trên hư không hết sức kinh ngạc vui mừng bảo các
cung nữ: “Thái tử của ta bay trên hư không như chim bay”. Rồi Vua nói lớn bảo
Thái tử:
–
“Con hạ xuống điện này cùng cha vui chơi”.
Bấy giờ Phật Bích Chi muốn độ cho cha mẹ,
nên hạ xuống điện Vua, Vua hỏi:
–
“Vì sao hôm nay con mặc quần áo khác lạ? Lại cạo râu tóc khác thường như thế?”
Phật Bích Chi đáp:
–
“Nay con mặc đơn giản thanh nhã, chẳng phải theo lối người thường”.
Vua bảo:
–
“Vì sao đã lâu không vào cung?”
Phật Bích Chi đáp:
–
“Từ nay về sau con không ưa “năm dục”, không hành dục nữa”
Vua bảo:
–
“Nếu không ưa “ngũ dục” thì con đến ở căn nhà ở vườn sau của ta”
Rồi Vua liền cho sơn sửa trang trí lại căn
nhà ấy, Phật Bích Chi muốn độ cho cha mẹ nên đến ở trong vườn sau ấy, nhận sự
cúng dàng của cha mẹ một thời gian rồi nhập vô dư Niết Bàn.
Vua cho đem thân xá lợi trà tỳ (thiêu),
rồi lập Thần tự (chỗ thờ) tại đó; một ngày kia, Vua đến vườn xem xét, thấy Thần
tự hư hỏng điêu tàn, liền nghĩ: “Đây là Thần tự của con ta nay bị hư hoại”, Vua
liền cho lấy lọng của mình che lên Thần tự, đó là lòng thương yêu con chưa
phai.
Thế nên A Nan! Vua Thiện Hóa bấy giờ chính
là Ta, Ta vì con mà lấy lọng che trên Thần tự. Do công đức ấy, Ta được lưu
chuyển trong Trời Người, mấy trăm nghìn lần làm Chuyển Luân Thánh Vương, hoặc
làm Vua Trời Đế Thích, hoặc Vua Trời Phạm Thiên. Lúc ấy, Ta không biết con Ta
là Phật Bích Chi, nếu Ta biết sẽ làm nhiều việc tốt đẹp hơn, thì công đức không
thể đo lường.
Nếu Ta không thành Đạo Vô Thượng, thì lại
thêm 2500 lần làm Đại Vương cai trị thiên hạ, vì thế Ta mỉm cười. Thừa sự chư
Phật công đức không thể kể hết, vì thế hãy nên tìm phương tiện cúng dàng chư
Phật, A Nan, hãy học điều này.
LỜI BÀN:
Ngũ dục hay năm dục là Sắc thấy đẹp, tiếng
nghe hay, mùi ngửi thơm, vị ăn uống ngon, tiếp xúc khoái cảm. Năm dục làm cho
tâm dính mắc, người bị năm dục lôi kéo luôn luôn có tâm tham đắm, nên người tu
cần dứt ngũ dục là vậy.
Nếu đức Phật không thành đạo, Ngài sẽ được
làm Vua hoặc cõi Trời hoặc cõi Người trong 2500 kiếp sống, tại sao? Vì sự cúng
dàng cho Ngài biểu tượng 2500 lọng báu, mỗi lọng là một đời, đó là phúc đức mà
Ngài được hưởng.
Nhân việc các lọng cúng dường cung nghinh
mà đức Phật mỉm cười, miệng phát ra ánh sáng, nên Tôn Giả A Nan Đà thỉnh hỏi.
Ngài kể có một đời Ngài có một người con tự tu thành Phật Bích Chi, mà Ngài
không biết, chỉ với tâm thương con mà được quả báo tốt đẹp vô số đời.
Chúng ta thấy rõ hơn về phúc đức cúng dàng
Chư Phật to lớn biết nhường nào, chúng ta hãy cố gắng làm sao cho được gặp Phật
bằng những lời nguyện, nguyện sẽ làm lành, nguyện tránh làm ác, nguyện được gặp
Phật A Di Đà, nguyện được gặp Phật Di Lặc ở tương lai v.v…
5)- ĐỨC PHẬT VÀ LA SÁT:
Rồi đức Phật dẫn đoàn Tỳ Kheo đến thành Tỳ
Xá Ly, khi tới nơi, Ngài đứng giữa cửa thành nói kệ:
Nay đã thành Như Lai,
Thế gian cao trọng nhất,
Đem lời chí thành này,
Tỳ Xá Ly không khác.
Lại đem pháp chí thành,
Được đạt đến Niết Bàn,
Đem lời chí thành này,
Tỳ Xá Ly không khác.
Lại đem Tăng chí thành,
Chúng Hiền Thánh đệ nhất,
Đem lời chí thành này,
Tỳ Xá Ly không khác.
Hai chân được an ổn,
Bốn chân cũng như thế,
Đi đường được tốt lành,
Đến nơi cũng lại thế.
Ngày đêm được an ổn,
Không có bị xúc nhiễu,
Đem lời chí thành này,
Khiến Xá Ly không khác.
Đức Phật nói xong, La Sát Quỷ Thần đều bỏ
chạy không yên chỗ, rời khỏi thành Tỳ Xá Ly mà biến đi hết, những người bệnh
đều được trừ khỏi, không còn cảnh chết như những ngày trước nữa.
Bấy giờ đức Phật đi dạo trên bờ hồ Di Hầu,
nhân dân thừa sự cúng dàng thức ăn uống, giường treo, vật dụng cần thiết
v.v…, họ còn thụ Bát Quan Trai Giới nữa.
LỜI BÀN:
Khi đức Phật dẫn đoàn Tỳ Kheo đến thành Tỳ
Xá Ly, Ngài đứng ngay giữa cổng thành nói kệ, bài kệ này là lời tuyên bố Ngài
là bậc Chí Tôn trên trời đất, với Giáo lý cao tột, và chúng Tăng toàn là bậc
Thánh Hiền. Đức Phật truyền lệnh tất cả người vật trong thành Tỳ Xá Ly phải
được ổn định, không bị khuấy phá tổn thương, do đó, các Ma Quỷ nghe lệnh ấy đều
phải im lặng rút lui đi, để lại sự bình an, không còn cảnh chết chóc như mấy
ngày trước nữa. Thật là mầu nhiệm biết bao! Đúng là thuốc Thần! Nam Mô Thích Ca
Mâu Ni Phật, một ngôi chí tôn trên trời đất, đạo pháp mênh mông biển khơi hẹp,
công đức cao vợi núi non thấp, Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài đã mang
lại sự an ổn cho chúng sanh, chúng sinh muôn đời nhớ ơn Ngài.
Có một điểm cần nêu ra, đó là nếu như ngày
nay tại một địa phương nào đó, xảy ra sự việc như thế, chúng ta cho là bệnh
“dịch” gây ra bởi một loại vi trùng nào đó, truyền nhiễm từ người này qua người
kia, nên mới chết nhiều như thế. Do đó, chúng ta nói rằng thời đó có thể do
bệnh “dịch” gây nên, chứ làm gì có Quỷ Thần La Sát nào làm ra. Nói vậy cũng có
lý, nhưng chúng ta cũng thấy sau khi đức Phật nói kệ xong thì nhân dân thành Tỳ
Xá Ly không còn chết chóc như trước nữa; đây là sự chứng minh cụ thể, chứ không
phải là tin suông, nói hão, chẳng phải là tin mù quáng không có chứng minh đâu.
Thụ Bát Quan Trai Giới là thọ tám giới trong vòng một ngày một đêm, tám giới
gồm: Không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, không uống
rượu, không ngồi nằm giường ghế cao sang, không dự các cuộc vui ca hát v.v…,
và ăn chay không sau buổi trưa.
6)- LỤC SƯ NGOẠI ĐẠO:
Lúc ấy, trong thành Tỳ Xá Ly đã có sáu
Trưởng lão ngoại đạo (Lục Sự ngoại đạo) tên là: Bất Lan Ca Diếp, A Di Chuyên,
Cù Da Lâu, Bỉ Hưu Ca Chiên, Tiên Tỉ Lô trì Ni Kiền Tử đang ở đó. Họ nhóm họp
với nhau bàn luận:
–
Sa Môn Cù Đàm đến đây được nhân dân cúng dường, còn chúng ta chẳng được gì,
chúng ta nên đến luận nghị với ông ta, xem ai thắng?
Bất Lan Ca Diếp nói:
–
Các Bà La Môn không nhận lời ông ta mà đến cật vấn thì chẳng phải việc của Bà
La Môn, chúng ta chưa nhận lời cật vấn của Sa Môn Cù Đàm mà đến vấn nạn thì đâu
được luận nghị với ông ta.
A Di Chuyên nói:
–
Không thí, không nhận, không người cho, không người nhận, cũng không đời này
đời sau, chúng sanh không có quả báo thiện ác.
Cù Da Lâu nói:
–
Ở bên này sông Hằng giết hại người vô số, thịt chất thành núi; ở bên trái sông
Hằng tạo các công đức, do đó đều không có quả báo thiện ác.
Bỉ Hưu Ca Chiên nói:
–
Dù cho ở bên trái sông Hằng bố thí, trì giới, tùy thời cung cấp không cho thiếu
thốn, cũng chẳng có phúc báo.
Tiên Tỉ Lô Trì Ni Kiền Tử nói:
–
Có ngôn ngữ cũng có quả báo của ngôn ngữ, Sa Môn Cù Đàm là người, chúng ta cũng
là người, Sa Môn Cù Đàm biết chúng ta cũng biết, Sa Môn Cù Đàm có thần thông
chúng ta cũng co thần thông. Sa Môn Cù Đàm hiện một Thần túc chúng ta sẽ hiện
hai Thần túc, ông ta hiện hai chúng ta hiện bốn, ông ta hiện bốn chúng ta hiện
tám; nghĩa là, tùy theo ông ta hiện Thần túc bao nhiêu chúng ta sẽ hiện gấp
đôi; chúng ta đủ sức thi thố, không chịu thua ông ta, nếu ông ta không chịu
luận nghị với chúng ta, đó là lỗi của ông ta; nhân dân nghe được sẽ không cúng
dàng ông ta nữa, và chúng ta sẽ được cúng dàng vì chúng ta thắng.
Bấy giờ Tỳ Kheo Ni Du Lô dùng Thiên nhĩ
nghe được Lục Sư ngoại đạo tụ họp bàn luận như thế, liền bay lên không trung
đến trên chỗ họ nói kệ vọng xuống:
Thầy ta không ai bằng,
Tối Tôn không người hơn,
Ta là đệ tử Ngài,
Tên là Du Lô Ni.
Ngươi nếu có cảnh giới,
Hãy cùng ta nghị luận,
Ta sẽ đáp từng việc,
Như Sư tử chụp nai.
Lại ngoài Thầy ta ra,
Vốn không có Như Lai,
Nay ta Tỳ Kheo Ni,
Đủ hàng phục sáu người.
Các Ngoại đạo nghe Tỳ Kheo Ni Du Lô nói kệ
rõ ràng, chẳng thể ngước nhìn thấy mặt, huống là luận nghị.
Bấy giờ nhân dân chung quanh trông thấy Tỳ
Kheo Ni ở trên không luân nghị mà Lục Sư ngoại đạo không đáp một lời, ai nấy
đều cười vui vẻ. Họ thấy rõ ràng Lục Sư đã bị khuất phục.
Nhóm Lục Sư buồn rầu, âm thầm đi khỏi
thành, lúc ấy một số Tỳ Kheo nghe Tỳ Kheo Ni Du Lô tranh luân thắng Lục Sư
ngoại đạo, liền đến bạch Phật về nhân duyên ấy. Đức Phật bảo các Tỳ Kheo:
–
Tỳ Kheo Ni Du Lô có đại Thần túc, có đại oai Thần, có trí huệ, khó có ai tranh
luận nổi với Lục Sư này, chỉ có Như Lai và Tỳ Kheo Ni Du Lô.
LỜI BÀN:
Trong sáu Luận sư ngoại đạo, ngưòi nói đầu
tiên cho rằng chưa có sự nhận lời luận bàn mà đến cật vấn thì không thể được,
người này nói đúng; còn bốn người kế tiếp đều không chấp nhận nhân quả nghiệp
báo, đây là những người chủ trương “chấp đoạn”, họ cho rằng con người sinh ra
là do ngẫu nhiên, tự nhiên như thế. Mọi việc ở đời chỉ là may rủi, gặp may được
vui, gặp rủi phải chịu buồn. Sinh già bệnh chết là lẽ tự nhiên, khi chết là
hết, chẳng còn gì nữa, sự may rủi cũng theo cái chết mà không còn gì nữa, thân
xác thành cát bụi hư vô, không còn một tí gì cả.
Theo
quan điểm “chấp đoạn”, con người sống chỉ nghĩ đến hưởng thụ cho mau, nên đưa
đến tình trạng dành giật, không cần biết tới bình đẳng, đạo đức, tôn ty; đây là
quan điểm có tính cách buông xuôi, không phải quan điểm của những người trí
tuệ, mà giống như cách đối xử hạ đẳng của các loài vật. Bởi vì con người ngoài
phần thể xác, còn có phần tinh thần, nên bảo rằng chết là hết thì không đúng, tại
sao? Vì phần tinh thần nó vô hình vô tướng, mắt người thường không thể thấy
được, nên tưởng rằng không có gì cả, nhưng đối với các bậc Giác ngộ, các vị
biết thấy rõ phần tinh thần này.
Người thứ sáu là một Ni Kiền Tử chủ trương
sống theo lối “khổ hạnh”, nhưng người này lại có tâm tranh hơn thua, muốn cùng
đức Phật so tài Thần thông; thiết nghĩ, chỉ với Ni Sư Du Lô, đã không so tài
Thần túc được thì nói chi so tài với Phật?
Toàn Không


























