

ĐỨC PHẬTTHÀNH ĐẠO VÀ GIÁ TRỊTHỰC TIỄN
Thích Trung Định

Đức Phậtthành đạo là một sự kiệnlịch sửvô cùngtrọng đại đối với toàn thểnhân loại. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại về quan niệmcon người và thế giới, mở ra một khung trời mới cho hết thảy nhân loạichúng sinh đang khổ đau trong đêm trường u tối. Giờ đây, ánh sáng của chân lý đã được khai quang từ một con người vừa mới thành tựuđạo nghiệp. Nhân, Thiên nay đã có vị Đạo sư hướng dẫn chúng sanhxa lìa bến mê tìm về nẻo giác.
Hằng năm đến ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, những người con Phật khắp năm châu đang hướng về Bồ-Đề Đạo Tràng để kỷ niệm ngày Phật Thành Đạo. Sự kiện Phật thành đạo có ý nghĩa lớn lao đối với Phật giáo. Bởi vì, từ đây đã chính thứcxuất hiện vị Giáo chủThích Ca Mâu Ni để dắt dẫn chúng sanh đến bờ an vui giải thoát.1 Nhân kỷ niệm lễ Thành đạo Phật lịch 2564, chúng ta thử đi vàotìm hiểuý nghĩa và các giá trị của sự kiện này. Nhằm thấu đạt ý nghĩa Phật thành đạo một mặt là để minh định rõ con đường Ngài đi, đích Ngài đến; một mặt là để bày tỏ tâm thành tri ân đối với bậc Đạo sư đã khai quangchánh đạo và phát sâu chí nguyện đi trọn hành trình này trong kiếp sống nhân sinh. Hiểu rõý nghĩa Phật thành đạo là điều kiện tiên quyết để tiếp nốibản nguyện của chư Phật mười phương: “Vì lợi íchchúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lợi íchan lạc cho chư Thiên và loài người”.
Thái tửTất Đạt Đa thuộc giai cấpSát Đế Lợi, dòng họThích Ca, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da. Khi trưởng thành, thái tửtìm cách thoát ra ngoài bốn bức tường bưng bít của ngai vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ để cảm nhận cuộc sống đương thời và nỗi thống khổ chung về sanh, già, bệnh, chết mà mọi người phải gánh chịu. Tuy sống trong cảnh gấm vóc cao sang, người hầu kẻ hạ, nhưng thái tử vẫn không sao quên được những đau buồn của nhân thế, và vòng lẩn quẩn của kiếp sống con người. Những quyến rũvật dục không làm sao kìm hãm nổi một tâm hồn cao thượng muốn vươn tới những gì có ý nghĩa cao đẹp hơn, mang lại hạnh phúcan lạc thực sự cho hết thảy mọi loài.
Trước những ưu tư khắc khoải ấy, ngài phải trầm tư suy nghĩ. Niềm thương đời và thông cảm với nỗi đau của chúng sanh, đã thôi thúc ngài từ giã hoàng cung dấn thân trên con đường tìm đạo giải thoát.
Sau ba lần tầm sư học đạo với những đạo sĩtrứ danh của Ấn Độ đương thời, ngài vẫn không thỏa mãn với những gì mà ngài đạt được từ những vị đạosư truyền dạy. Ngài quyết địnhtừ bỏ các vị thầy, đến Khổ Hạnh Lâm cùng tu với năm anh em Kiều Trần Như. Suốt sáu năm khổ hạnhép xác, bấy giờ thân thể ngài chỉ còn lại da bọc xương, tinh thần mỏi mệt như một đống lửa sắp tàn. Nhận thấylối tu này không mang lại kết quả gì cả, ngài quyết địnhtừ bỏ. Từ đó, ngài trở lạiăn uốngbình thường để duy trì tấm thân, tiếp tục cuộc hành trình vĩ đại của mình. Sau khi quyết định, ngài nhận lấy bát sữa của nàng Tu Xà Đề (Suyata) dâng cúng, sức khỏe và tinh thần giờ đây trở lạibình phục, ngài đến bên bờ sông Ni Liên Thiền, dưới gốc câyTất Bát La trải cỏ ngồi thiền và phát nguyện lớn: “Nếu ta ngồi đây mà không tìm rađạo lí nhiệm mầu, không tìm rahuyền vi của vũ trụvạn hữu, thì dù thịt nát xương tan, ta quyết không rời bỏ chỗ này”.
Suốt 49 ngày đêm tư duythiền định, quán sát không gián đoạn, vào đêm cuối cùng khi sao mai mọc, ngài chiến thắng ma quân, xóa tan màn vô tri đêm tối, chứng được Tam minh, Lục thôngthành Phật với danh hiệuThích Ca Mâu Ni, năm ấy ngài 35 tuổi.
Nghiên cứu về lịch sử của đức Phậtchúng ta thấy: Ngài vừa là một con người thật, cụ thể mang tính lịch sử, vừa là con ngườibiểu tượng. Ở nơi ngài luôn chứa đựng những chân lísống động. Sự thành đạo của đức Phật hẳn để lại cho chúng ta nhiều ý nghĩa và diệu dụng mà khó ai có thể suy lường hết được.
I. Ý nghĩa thành đạo
1. Sự chứng ngộ tự thân
Đức Phậtthành đạo mang lại ý nghĩa rất lớn cho hết thảy chúng tahọc hỏi. Đối với bản thân Ngài đã thành côngviên mãn.Trải qua biết bao tháng ngày dài trăn trở quên ăn bỏ ngủ, sáu năm trường khổ hạnh, công phu nhọc nhằn gạn lọcthân tâm, dám hy sinhthân mạng và tất cả mọi thứ trên đời để tìm tòi mối đạo. Ngày nay, chiêm nghiệm lại cuộc đời của đức Phật, chúng ta mới cảm nhận hết giá trị chói lọi huy hoàng của ngày lịch sử Ngài được thành tựuChánh Đẳng Chánh Giác. Có một niềm an lạcsung mãn thấm đượm nơi Ngài, đến nỗi Ngài phải trải qua một tuần lễ đầu tiên sau khi Thành đạo để thể nghiệm hạnh phúctâm linhgiải thoát và chính thứctuyên ngônđoạn tuyệt với vòng luân hồi sanh tử khổ đau: “Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòngluân hồi, Như Lai lang thang đi mãi. Như Lai đi tìm mãi mà không gặp. Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lập đi lập lại đời sống quả là phiền muộn. Này hỡi người thợ làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng lên cũng bị phá tan. Như Lai đã chứng quảVô sanhbất diệt và Như Lai đã tận diệt mọi ái dục”.[1]Sự chứng ngộ của đức Phật là cả một quá trình nỗ lựctu tập, bằng sự tinh tấnkiên trì ngài đã chiến thắng cả nội ma lẫn ngoại chướng để thành tựuđạo quả. Suốt quãng đời giáo hóa, Ngài không ngớt nhắc nhở chúng ta qua bao lời dạy mà kinh điển đã ghi lại: “Các con hãy tự mình cố gắng, Đức Như Lai chỉ là bậc Đạo Sư.”[2] hay “Hãy tự mình làm hòn đảo, hãy tự mình làm nơi nương tựa cho chính mình.”[3] và “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.”Đạo Phật chú trọng ở thực chứng, nước nóng lạnh uống vào tự biết chớ không chuyên hý luận suông, sáo rỗng vô ích hay cuồng tín và cầu nguyệnche chở từ quyền uytột bực của các đấng siêu nhiên. Con đường đời tranh đuadanh lợi đã khó huống nữa là con đường “nghịch lưu” cắt đứt dòng triền miên của sự sanh tử luân hồi đưa đến giải thoáttối hậu. Mỗi người Phật tử phải là một hành giả, một chiến sĩ trung kiên trên chiến trường thầm lặng vì chính những vô minhphiền não nơi bản thân ta là những kẻ thù nguy hiểm nhất và: “Chiến thắng vẻ vang nhất là tự thắng được lòng mình”. Nhìn lại hành trìnhđức Phật đã đi qua, chúng ta càng thấm thía giá trị của tự nỗ lực và thực hành trong Phật giáo. Sự thành đạo của Ngài là kết quả tự nhiên của tinh thần tự tu, tự chứng, chớ không mảy may chứa đựng bóng mờ của giao cảm với thần linh hay sự cứu rỗi của một đấng siêu nhiên nào cả. Hình ảnhgầy gòtiều tụy của Ngài trong sáu năm đăng đẳng nơi Khổ Hạnh Lâm là ấn tượng sâu đậm nhắc nhở chúng tatinh tiếnkhai quang tất cả sự nỗ lực của mình.
2. Đem lại ánh sáng chân lý cho nhân loại
Phật thành đạo không chỉ là một cuộc chinh phục vĩ đại, một chiến thắng vẻ vang đối với bản thân, mà còn là một sự khai sáng tuyệt vời cho hết thảy nhân loại. Chí nguyệnxuất gia của Ngài là để tìm phương cứu chữa cho đời sốngchúng sanh đang ngập chìm trong ân ái khổ đau, như chính lời Ngài phân tỏ với Xa-nặc lúc chia tay: “Chính vì đêmtối Ta mới đi tìm ánh sáng.”[4]Trong khoảngthời gian 45 năm còn lại của đời mình, Ngài soi rọi Ánh Đạo Vàng đến khắp muôn phương và huấn thị rõ ràng: “Nếu cõi đời không đau khổtối tăm, đức Phật đã chẳng xuất hiện ở đời”. Ngài ra đời là “Vì an lạc của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với đời, vì lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người.” (Tăng Chi I). Động cơ cao thượng này khiến Ngài dấn thân quên mình, hy sinh tất cả quyết tìm rachân lý để cứu độquần sanh.
Đức Phậtthành đạo, đem ánh sáng đến với cõi đời, và ánh sáng đó được những đệ tử của Ngài trao truyền cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác, vượt quabiên giớiquốc độ để soi rọi khắp nơi. Việc đem ánh sáng giáo pháp của đức Phật đến với cuộc đời đã trở thành sứ mệnh thiêng liêng và cao cả của những người đệ tử Phật từ bao đời nay. Nhớ niệm về ngày thành đạo của đức Phật là nhớ niệm về sự xuất hiện của ánh sáng quang minh Phật pháp trong việc đẩy lùi bóng tối vô minh, khai mở Phật tính cho mọi người. Rằng, từ đây ánh sáng đạo vàng sẽ rọi soi vào trong tâm thức u tối của con người. Vầng thái dươngchân lý sẽ xua tan bóng đêm đen che phủ cuộc đời.
Sự kiện Phật thành đạo càng có ý nghĩacứu tinh hơn nữa nếu chúng ta nhìn nhận vào chính ngay trong lòng xã hội thời đức Phật. Thời kỳ này nảy sinh quá nhiều tư tưởngtriết thuyết, gần một trăm hệ phái thần học, triết học khác nhau. Xã hộivô cùngphức tạp, tình trạngtâm linhcon người rất đen tối, sự xáo trộn về trật tựgia đình, xã hội, tín ngưỡng đã bộc phát một cách mãnh liệt ở ngay nội tâm và ngoại giới. Con ngườilúc ấy chỉ còn là nạn nhân của các Thánh kinh và các Đạo giáo. Tình trạng thật bi đát cho phụ nữ, cho giai cấp thấp bị bóc lột lao động và đối xử phân biệt, chiến tranh và thống trị diễn ra thường xuyên. Giữa hoàn cảnh bế tắc ấy, đức Phậtxuất hiện như một mặt trờirạng rỡ buổi sáng mai xua tan đi những bóng tối của đêm đen dày đặc đang che phủ cuộc đời. Không tuyên bốchính thức nhưng Ngài thực sự là một nhà cách mạng xã hộichân chính, mang đến bao nhiêu sự đổi thay theo chiều hướng tốt đẹp. Chân lý ấy là đường sáng lớn đưa chúng sanhthoát khỏi sự u tối mê mờ của khổ đau sinh tử, về bờ an vui giải thoátgiác ngộ.
3. Con người là chủ nhân của chính mình
Đặc biệt Phật thành đạo là sự kiện đề cao giá trịnhân bản. Phật chứng quả ngay trong kiếp người, Phật là người giác ngộ; điều đó chứng tỏcon người có địa vị tối ưu để trở thành Phật như kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhân thị tối thắng, năng sinh nhất thiết chư thiện pháp cố.” Có được thân người là rất khó khăn, trong khi bao đạo giáo khác dạy con người phải hướng đến thần linh, phải trút bỏ đi kiếp người lỡ vướng mang, thì đức Phật đã trả lại giá trị đích thực của kiếp người. Ngài là một bậc siêu nhân hơn tất cả mọi thần thánh mà loài người từng biết tới nhưng Ngài cũng mang một trái tim rất người. Ngài lấy con người làm cứu cánh để giải quyết hết mọi vấn đề bế tắc của thời đại, cả về nhân giới, tâm giới và siêu giới. Con người tự chịu trách nhiệm đối với cá nhân mình và hạnh phúc của chính mình chứ không có vấn đề ban phúc giáng họa từ một đấng tối cao. đức Phật đã mang đếnniềm tin, trí tuệ và giải thoát cho con người. Ảnh dụ “Người cùng tử” trong kinh Pháp Hoa là đức Phật nhắc con người đừng đánh mất chính mình, hãy tìm và trở về với con người thật nơi chính mình. Đừng rồ dại vọng cầu nơi khác, mà tự nhìn lại chính mình, khai thác hết mọi khả năng vốn có để thành tựuđạo quả.
II. Các giá trịthực tiễn
1. Đức Phật dạy phương pháptu tập mang lại an lạc ngay trong hiện tại
Bằng chứng rõ ràngtrong suốt 45 năm thuyết phápđộ sanh, Thế Tôngiáo hóavô số chúng sanhthấm nhuầngiáo lýthể nhập nguồn an lạcthanh tịnhhạnh phúc ngay trong đời sống hiện tại. Phật giáonhận định đời là khổ, ở đây không phải là bi quan, yếm thế mà nói lên sự thật để rồi tích cựctìm cách thoát khổ. Đó là một thái độdứt khoát, tích cực và lạc quan với mục tiêu là nhằm giải thoát dần những khổ đau của con người, tiến đến hạnh phúcan lạc. Lời Phật dạy phải được áp dụng vào ngay trong cuộc sống hiện tại chứ không phải trong chờ vào một viễn cảnhxa xăm ở một tương lai nào đó. Có nhiều người cho rằng: tu tập bây giờ là để sau này hưởng được phước lợi, được an lạc, tự tại. Nhưng quả thật đây là một ảo tưởnghoàn toàn xa rời với ý nghĩa đích thực của lời Phật dạy. Chúng ta đã từng xác quyết rằng: “Vì chúng sinh khổ đau nên đức Phật thị hiện”. Vì vậy, trong suốt 45 năm thuyết phápđức Phật chỉ nói về khổ và con đườngdiệt khổ. Hơn thế nữa những lời Ngài dạy bắt nguồn từ sự thực chứng, thực nghiệm nơi cuộc sống của con người. Do đó, giáo pháp của Ngài tuyên thuyết ra là nhằm tháo gở những vướng mắcsai lầm đưa đến phiền toái khổ đau cho chúng sinh. Bài kinh mủi tên độc là một minh chứng rỏ ràng về tính chấtthiết thực của giáo pháp; vấn đề lấy mủi tên độc ra để cho người kia hết đau là cần thiết hơn chuyện đi tìm những nguyên dorườm rà khác. Giáo pháp của đức Phật là phương thuôc thần diệu chuyên trị tâm bệnh cho chúng sanh. Vì vậy, Osho cho rằng, đức Phật không phải là một triết gia mà Ngài là một vị lương y luôn chữa trị tâm bệnh. Vì rằng, “một triết gia là người cứ liên tục nói về màu sắc và ánh sáng cho người mù, cứ làm cho anh ta càng lẫn lộn và bối rối, vì người mù không có khả năng hiểu gì về ánh sáng cả. Đức Phậtkhông định triết lý hóa về áng sáng, mà chỉ cho anh ta một phương thuốc để chữa lành mắt. Thế là anh ta có thể tự nhìn thấy.[5] Khi đã có phương pháp, hành giả nên bắt tay ngay vào việc tu tập một cách miên mật để nhằm loại dần những phiền nãolậu hoặc làm cho tâm trở nên an tịnhthuần khiết. Khi đó, họ thực sự là người có hạnh phúcan lạc. Người ấy đã giải thoát khỏi mọi “mặc cảm” ám ảnh, những vấn đề khiến người ta điêu đứng. Họ có được một sức khỏetinh thầnhoàn hảo, không hối tiếcquá khứ, không bận tâm về tương lai, mà sống trọn vẹn cái hiện tại.[6]Một tâm hồn không có tham áichấp thủ, ngã mạn cống cao thì họ sẻ trở nên hoan hỷvui vẻ, thưởng thức được sự sống thuần khiết, tâm thái an bình thoát ly khỏi mọi lo âusầu muộn trong cuộc đời.
Như vậy, giáo pháp của đức Phật là để áp dụngthực hành chứ không phải dùng để trưng dẫn. Người thực sự hành trìgiáo pháp mới nến được hương vị của sự an lạcgiải thoát, bằng không thì chỉ như chiếc thìa để trong tô canh chẳng bao giờ thưởng thức được vị ngon của canh.
2. Đức Phật- nhà cách mạng đầu tiên về nhân quyền và bình đẳng
Đức Phật là nhà cách mạngnhân quyền và bình đẳng đầu tiên của nhân loại. Ngài dõng mãnh phá bỏ truyền thốngphân chiagiai cấplâu đời dưới hệ tư tưởngBà La Môn giáo. Ngài tuyên bố hùng hồn: “Không có giai cấp trong dòng nước mắt cùng mặn và dòng máu cùng đỏ”. Chủ nghĩabình đẳng được thể hiện rõ trong tinh thầngiới luật và đời sốngTăng đoàn, tiêu biểu nhất là sáu phép Lục hòa, đây là thước đo trung thực nhất về tính bình đẳngnhất quán được áp dụngtrong đời sống sinh hoạt của Tăng đoàn. Trong giáo pháp của Như Lai, tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng như nhau, ai cũng có thể tu tập và chứng ngộ, ai cũng có thể dự được phần an lạc, giải thoát nếu thực hành đúng theo lời dạy của ngài. Từ người thông minh như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, đến hạng ngu đần như Châu Lợi Bàn Đà; từ vua quan cao sang quyền quý, đến thứ dânhà tiện, tất cả đều được thâu nhận, và khi đi vào trong giáo pháp ấy họ không còn mang tên của giai cấp cũ nữa, mà họ đều là đệ tử của Như Lai. Điều này được thể hiệnsống động qua lời dạy của đức Phật: “NàyPahàràda, phàm có các con sông lớn nào, ví nhưsông Hằng, sông Aciravati, sông Sarabhù, sông Mahì, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên gọi trước, trở thành biển lớn. Cũng như vậy, nàyPahàràda, có bốn giai cấp: Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, sau khi từ bỏgia đình, sống không gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật được Như Laituyên bố này, họ từ bỏ tên và họ của họ từ trước, và họ trở thành những Sa mônThích tử.”[7]
3. Giáo pháp của đức Phật có giá trịmiên viễn
Tinh thần này chúng ta có thể nhận thấy rõ qua lời dạy của đức Phật: “Này các Tỳ kheo, nước của đại dương chỉ có một vị là vị mặn, cũng vậy pháp và luật này chỉ có một vị là vị giải thoát”. Trong một bài kinh khác đức Phậttuyên bố: “Này các Tỳ kheo xưa cũng như nay Như Lai chỉ thuyết về khổ và con đường diệt khổ”. Lại nữa, trước khi đức Phậtnhập niết bàn, ngài hỏi tất cả các Tỳ kheo có còn thắc mắc vấn đề gì trong giáo pháp nữa không? Chư Tỷ-kheo im lặng, Tôn giảA Nậu Lâu Đàđại diệnđại chúng bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn tất cả đại chúngim lặng vì không có Vị nào còn nghi ngờ hoặc chưa hiểu giáo lý. Thế Tôn, cho dù mặt trăng trở nên nóng và mặt trờitrở thành lạnh; giáo phápThế Tônthuyết giảng cũng không bao giờ thay đổi giá trị và nghĩa lý.” Thật vậy, theo dòng thời gian, đã hơn 25 thế kỷ qua, nhưng chân lýTứ Đế vẫn sáng ngời không bao giờ xa rời chân lý bởi vì giáo pháp ấy được Bậc giác ngộ tự thân chứng tri, tự thân liễu tri. Cho nên, nó không có sự ngăn ngại của không gian và thời gian. Khi nào và ở đâu thì tinh thần khế lý, khế cơ và khế thời cũng đầy đủ. Đó là giáo pháp mang tính miên viễn từ sơ thiện, trung thiện và hậu thiện.
Tóm lại, quả vịvô thượng chánh đẳng chánh giác của đức Phật, cuộc đời của đức Phật là một minh chứng hùng hồn, một cảm hứngtuyệt vời cho tất cả chúng ta nương theo để tu tập. Ngài là một bậc Đạo sư lớn của trời người, một nhà triết học và là một nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại. Qua kho tàng kinh điển của Phật giáo, ta thấy rằng đức Phật không đơn giản chỉ là một nhà lãnh đạotôn giáokiệt xuất, một triết gia, một nhà giáo dục, mà còn là một thầy thuốc thiên tài trong trường đời, có khả năng chữa khỏi mọi căn bệnh cho hết thảy chúng sanh.
Phật thành đạo và lời tuyên thuyết: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Ta là Phật đã thành các con là Phật sẽ thành, đã mở ra một tia hy vọng lớn cho toàn thểnhân loại. Trên tinh thần đó không gì hơn là tất cả chúng ta đã nương theo giáo pháp của Phật, tự nỗ lựcbản thân nhiều hơn trên bước đường tu tập để thành tựuđạo quả như ngài. Tu tập để được giác ngộgiải thoát là giấc mơ bất tận của mọi người con Phật. Dù biết rằng con đường ấy quả thật đầy chông gai và thử thách, nhưng không phải chúng ta không đủ khả năng để đạt được. Vấn đề là chúng ta có chịu bắt tay vào việc tu tập ngay bây giờ hay không mà thôi.
Ghi chú:
1 Thích Nữ Liên Chương, Ý nghĩathành đạo, trang Buddhatoday/Viet/Phatphap/116, Thành đạo.
[1] Dhamma-pada (Kinh Pháp Cú), câu 153-154.
[2] Pháp cú, 276
[3]Kinh Đại Niết Bàn, tập 2, tr. 20
[4] Võ Đình Cường, Ánh Đạo Vàng, Tập 4.
[5] Đoàn Văn An,Tìm hiểutư tưởngtriết học tánh không trong kinh Kim Cương, Nxb. Hà Nội, Tr.54.
[6]Rahula, Đưc Phật đã dạy những gì, bản dich của Ni sưTrí hải. Nxb Tôn giáo, tr. 102. `
[7]Tăng chi bộ III, chương tám pháp, phẩm Atula Pahàràda, 1996, tr 562.
Tạp chí Văn hóaPhật giáo, số 360
Thích Trung Định























