Đọc Và Hiểu Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa

0
9

ĐỌC VÀ HIỂU KINH KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
Trịnh Nguyên Phước

I.
Lời nói đầu

Kinh Kim Cương (hay
Kim Cang), tên đầy đủ là Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa
(Vajracchedika-prajñaparamita),
là một trong những bài kinh quan trọng nhất của Phật giáo
Đại Thừa, đồng thời được xem là một bài kinh căn bản
của Thiền tông, vì chứa đựng tinh hoa, cốt tủy của giáo
Bát Nhã.

Đối với người
tu học Thiền, Kinh Kim Cương đóng một vai trò khai ngộ đặc
biệt
, bởi vì chính nhờ câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm”
trong bài KinhLục tổ Huệ Năng và nhà vua Trần
Thái Tông
đều đạt được đại ngộ.

Bài Kinh này thường
được tụng niệm tại các chùa thuộc hệ Đại Thừa, nhưng
ít khi được tìm hiểu và trình bầy một cách cặn kẽ, ngoài
một vài câu nổi tiếng được dẫn chứng trong các bài thuyết
pháp
. Lý do có lẽ là Kinh nói chung khó hiểu, với một hình
thức
đặc biệt làm cho người đọc dễ bị lôi cuốn bởi
các câu rườm rà, và lướt qua nhanh một số câu cô đọng
chứa đựng tất cả cái cốt tủy tinh hoa. Hơn nữa, cũng
như đối với đa số kinh điển Phật giáo, dùng trí thức
thuần túy để mà phân tích, suy luậndiễn giải, không
thể nào đầy đủ. Người ta còn phải hiểu bằng trí huệ
Bát Nhã
, bằng trực giác, bằng linh cảm, bằng tất cả cái
tâm của mình. Trong Kinh, đức Phật há đã chẳng nói
“Kinh
này không thể nghĩ bàn, không thể đo lường được”
(Hán
văn:
Thị kinh hữu bất khả tư nghị, bất khả xứng lượng,
chương
15, 16
) hay sao?

Tuy nhiên, trong sự
truyền thông, trao đổi giữa những con người với nhau, thì
không thể nào không dùng đến khái niệm, ngôn từ để lý
giải, đồng thời vẫn ý thức được sự hạn hẹp của
lối tiếp cận này.

Trong bài này, tác
giả
xin phép trình bầy cách đọc và hiểu Kinh Kim Cương của
bản thân mình. Việc này không tránh khỏi có nhiều điều
sơ xuất và nét chủ quan, cho nên xin các độc giả vui lòng
bổ túc, thông cảmlượng thứ cho.

Có thể nói rằng,
theo cách hành văn của kinh: “Nói về kinh Kim Cương, nhưng đó
không phải là kinh Kim Cương thực sự, vậy mới là kinh Kim
Cương”…

II.
Lịch sử Kinh Kim Cương

Kinh Kim Cương (tiếng
Phạn là Vajracchedika Sutra) thuộc vào bộ kinh đồ sộ
nhất của Phật giáo Đại Thừa, tức là bộ Kinh Bát Nhã
Ba La Mật Đa
(prajñaparamita Sutra) gồm 40 bài kinh, in thành
600 cuốn. Cũng nằm trong bộ kinh này là bài Bát Nhã Ba La Mật
Đa Tâm Kinh
(Hrdaya-prajñaparamita Sutra). Hai bài kinh này
là hai bài kinh được tụng niệm nhiều nhất tại các chùa
thuộc hệ Đại Thừa.

Nguồn gốc và thời
điểm của sự xuất hiện của bộ Bát Nhã Ba La Mật Đa còn
mang nhiều điều bí ẩn.

Theo đa số nhà
Phật học, bộ kinh này phát xuất từ miền Trung và miền
Nam Ấn Độ. Etienne Lamotte cho rằng Bát Nhã Ba La Mật Đa khởi
đầu từ miền Tây Bắc và Trung Á (Khotan), do ảnh hưởng
của nền văn minh Địa Trung Hải và Hy Lạp trong giai đoạn
nẩy sinh ra Đại Thừa. Nhưng theo Edward Conze, một trong những
học giả uyên thâm nhất về Bát Nhã Ba La Mật Đa, điều
này chỉ chứng tỏ rằng bộ kinh này được thịnh hành tại
miền Tây Bắc trong triều đại Kouchan (thế kỷ I sau CN), chứ
không phải là nẩy sanh tại đây.

Theo ông, sự phát
triển của Bát Nhã Ba La Mật Đa kéo dài hơn 10 thế kỷ và
có thể chia ra làm 4 thời kỳ:

1) Từ 100 trước
CN tới 100 sau CN là giai đoạn hình thành phần cơ bản của
kinh.

2) Trong 200 năm sau,
phần cơ bản này được tăng cường mạnh mẽ.

3) Trong 200 năm tiếp
theo
, cho tới 500 sau CN, các ý tưởng căn bản được đúc
kết lại thành những bài kinh ngắn (trong đó có Kinh Kim Cương),
đồng thời những bài tóm tắt có vần điệu.

4) Trong giai đoạn
cuối
(600-1200 sau CN), ảnh hưởng của Mật tông bắt đầu
thấy rõ, với sự thâm nhập bởi các câu thần chú, và làm
giảm bớt ảnh hưởng của bộ Kinh.

Tuy nhiên, có một
số học giả (đa số người Nhật) không đồng ý với quan
điểm
này, và cho rằng Kinh Kim Cương xuất hiện sớm hơn.

Nói tóm lại, thời
điểm của sự xuất hiện của Kinh Kim Cương vẫn chưa được
xác định một cách rõ rệt. Nhưng người ta có thể phỏng
đoán
rằng bài Kinh này, dưới một hình thức này hay một
hình thức khác, xuất hiện vào một thời kỳ rất sớm trong
bộ kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, tức là vào khoảng thế kỷ
I-II sau CN.

III.
Những bản dịch Kinh Kim Cươngchú giải

A)
Từ tiếng Phạn sang tiếng Hán

Bắt đầu từ thế
kỷ thứ IV sau CN đã có nhiều bản dịch từ tiếng Phạn
sang tiếng Hán:

1- Bản đầu tiên
nổi tiếng nhất là của Cưu Ma La Thập (Kumarajiva,
343-413) đời Đông Tấn (401) tại Trường An.

2- Sau đó có các
bản dịch của Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruci) đời Ngụy
(508), Ba La Mạt Đà hay Chân Đế (Paramartha) đời Trần
(giữa thế kỷ thứ VI), Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta)
đời Tùy (đầu thế kỷ thứ VII).

3- Đáng được
chú ý là các bản dịch của các vị tăng đời nhà Đường
sang Ấn Độ thỉnh kinh, như Huyền Trang (600-664) và Nghĩa Tịnh
(635-713).

4- Sau đó, cũng
có nhiều bản dịch khác và đặc biệt những lời chú giải
của những vị tăng nổi tiếng như: Trí Khải hay Trí Giả
(538-597),đời Tùy, Hám Sơn Đức Thanh (1546-1623) đời
Minh và Thái Hư (1889-1947) vào thời kỳ cận đại.

Trong những người
đã luận giải đầu tiên về kinh, phải kể đến hai vị
dẫn đầu trường phái Duy Thức: Vô Trước (Asanga)
Thế Thân (Vasubandhu). Ngài Thế Thân đã nêu lên 27 điểm
nghi vấn để giải nghĩa kinh.

Kinh Kim Cương cũng
được xem là cuốn sách đầu tiên được in (bằng phương
pháp
khắc gỗ), với một ấn bản được khám phá ra năm
1907 bởi nhà khảo cổ Aurel Stein tại một hang động gần
Đôn Hoàng vùng Tây Bắc Trung quốc. Ấn bản này được ước
lượng
in vào năm 868 sau CN, và hiện đang được tàng trữ
tại Thư viện Anh quốc (British Library) (Hình 1).

Tại Việt Nam cũng
có những bản Kinh Kim Cương được giữ như một pháp bảo,
chẳng hạn như tại chùa Trúc Lâm, tỉnh Quảng Trị, có một
bản kinh Kim Cang bằng gấm lót nhiễu điều thêu chỉ ngũ
sắc
từ thời Tây Sơn, được đánh giábản kinh thêu
lớn nhất Việt Nam. Toàn bộ bản kinh dài 2,47 m, rộng 23,4
cm, số lượng chữ được thêu khoảng 7000 chữ Hán, đặt
trong một chiếc hộp gỗ trầm có khắc chạm hoa văn rất
đẹp (Hình 2, 3 và 4). Bản kinh được thêu vào đời nhà Tây
Sơn năm Cảnh Thịnh thứ tám (1800) bởi ni sư Diệu Tâm, trụ
trì
chùa Sài Sơn thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây, sau đó
bị thất lạc trong dân gian, cuối cùng được mua lại bởi
Sư bà Diệu Khônggìn giữ tại chùa Tây Thiên rồi chùa
Trúc Lâm.

B)
Từ tiếng Hán sang tiếng Việt

Cũng có nhiều bản
dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt. Chúng tôi chỉ xin liệt
một vài bản dịch, thường có thêm lời chú giải hoặc
giảng giải để làm sáng tỏ ý nghĩa của bài kinh:

1- Cư sĩ Thiều
Chửu (1930 tại Hà Nội). Ấn bản khắc gỗ chữ Hán đã bị
thất truyền.

2- HT Thích Trí Quang

3- HT Thích Thanh
Từ

4- Thiền sư Thích
Nhất Hạnh

IV.
Cấu trúc của bài Kinh

Bản nguyên văn
chữ Phạn không chia ra chương mục gì cả, nhưng theo truyền
thuyết
bài kinh được Chiêu Minh thái tử (501-531) đời
nhà Lương chia ra làm 32 đoạn (gọi là phân hay phận) cho dễ
nhớ. Thật ra theo một nguồn tin có căn cứ hơn, sự phân
chia
này là do một gia đình họ Quá, tỉnh Tứ Xuyên, vào cuối
thế kỷ thứ IX-đầu thế kỷ thứ X sau CN.

Trong các bản dịch
tiếng Hán, có những bản dài hơn và được chia làm 52 đoạn.
Đặc biệt là bản dịch Việt của HT Thích Trí Quang gồm
những câu 4 chữ, để cho dễ tụng niệm. Toàn bài có 1544
câu, chia làm 52 đoạn, với 3 phần: “mở đầu, nội dung và
kết thúc”, mỗi phần chia ra làm 5 lớp.

Thật ra, chúng ta
không nên bám chặt vào tên và thứ tự của các phận đó
để đọc và hiểu kinh. Vì như chúng ta sẽ thấy, giữa những
phận đó không có một sự sắp xếp mạch lạc gì cả, và
nội dung của chúng cũng không đồng đều, với tầm quan trọng,
chiều sâu khác biệt nhau.

Vì vậy cho nên
đối với nhiều người, Kinh Kim Cương cũng như toàn bộ kinh
Bát Nhã Ba La Mật
Đa không phải là để hiểu bằng lý trí,
phân tích, suy luận, mà phải để hiểu bằng trực giác, bằng
trái tim.

Hơn nữa, so với
Bát Nhã Tâm Kinh là một bài kinh hết sức ngắn gọn và cô
đọng (260 chữ), thì Kinh Kim Cương dài hơn nhiều (khoảng
7000 chữ), với nhiều đoạn được lập lại, cùng một ý
nghĩa
hay không cần thiết. Nhưng chúng ta cũng không nên quên
rằng đó là một bài kinh với tính chất truyền khẩu của
sự kết tập ban đầu, và chức năng tụng niệm, nhằm giáo
dục
tăng sĩ và cư sĩ bằng cách lập đi lập lại các câu
kinh.

V.
Ý nghĩa của tên kinh

Tên tiếng Phạn
của bài kinhVajracchedika-prajñaparamita-sutra.

Vajra tiếng
Phạn có hai nghĩa: “kim cương” và “sấm sét”.

Chedika
nghĩa là “cắt đứt”, “đoạn diệt”.

Người ta có thể
hiểu là kinh cứng chắc như kim cương, có khả năng cắt đứt
được sắt thép, và tất cả những gì cứng rắn nhất. Do
đó, Thiền sư Hám Sơn gọi tên kinh là “kim cương giác nghĩa
đoạn nghi” (cắt đứt tất cả các nghi vấn), còn Thiền sư
Nhất Hạnh là “gươm báu cắt đứt phiền não” (Anh văn: the
diamond that cuts through illusion). Thật ra cũng không có gì khác
nhau lắm, bởi vì nghi vấn chính là phiền não, và phiền não
cũng là do ảo tưởng gây nên. Trong bối cảnh của bài Kinh,
chúng ta có thể hình dung ra một chiếc gươm bén chắc chặt
đứt các màn hình tướng để lộ ra sự thật, như như.

Tuy nhiên, cũng có
thể hiểu là kinh có một sức mạnh sấm sét, một sức công
phá khủng khiếp, nhằm phá tan mọi kiến chấp. Nói như HT
Thanh Từ: “Đây là quả bom, là khối chất nổ mạnh làm nổ
tung hai ngọn núi kiến chấp của chúng sanh”. Edward Conze cũng
dịch tên Kinh sang tiếng Anh là “The perfection of wisdom which cuts
as the thunderbolt” (Trí huệ Bát Nhã chặt đứt như sấm sét).

Prajña
trí huệ (Bát Nhã) siêu việt, trọn vẹn, vượt lên mọi hiểu
biết
trí thức thông thường.
Paramita có nghĩa là “tới
bên bờ bên kia” (Hán văn: “đáo bỉ ngạn”), từ bờ bên này
phiền não, là vô minh, qua tới bờ bên kiagiải thoát,
giác ngộ. Đó cũng là ý nghĩa của câu chú cuối bài Bát
Nhã Tâm Kinh
: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng
yết đế, bồ đề tát bà ha” (Vượt qua, vượt qua,
vượt qua bên bờ kia, hoàn toàn vượt qua, hoàn toàn giác ngộ;
Phạn văn: Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha). Trong
bối cảnh của bài kinh, người ta cũng có thể hiểu đó là
sự vượt qua khỏi mọi ảo tưởng, mọi hình tướng, mọi
kiến chấp, phân biệt nhị nguyên thông thường.

Vì từ prajñaparamita
khó dịch, cho nên tại các vùng ảnh hưởng Trung quốc, người
ta vẫn giữ tên kinh theo phiên âm từ tiếng Phạn, tức là
tiếng Trung: “Jìngàng bànruò bòluó mìduò”, tie?ng Nhật: “Kongò
hannya haramitta”, và tiếng Việt: “Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật
Đa”.

VI.
Nội dung bài Kinh

Kinh Kim Cương nổi
tiếng
là khó hiểu.

Đối với các Phật
tử
, ý nghĩa của kinh vô cùng cao siêu, vi diệu và chứa đựng
tất cả cái tinh túy của Phật giáo Đại Thừa. Có thể nói
rằng tinh thần Bát Nhã với tánh Không được diễn tả bởi
hai bài kinh chính yếuTâm Kinh và Kinh Kim Cương.

Chính thi hào Nguyễn
Du, cũng là một nhà Phật học thâm thúy, đã phải than rằng:

“Ngã độc
Kim Cương thiên biến linh,


Kỳ trung áo
chỉ đa bất minh.


Cấp đáo phân
kinh Thạch Đài thị,


Chung tri : vô
tự thị chân kinh.”


(Ta đọc Kim Cương
đã cả ngàn lần,

Nhưng nhiều nghĩa
sâu ẩn vẫn chưa sáng tỏ.

Đến khi xem tới
phẩm Thạch Đài,

Thì cuối cùng
mới biết: thật là bài kinh không lời).

Đối với các nhà
triết học và luận lý học Tây phương, thì bài Kinh này khó
hiểu vì có nhiều đoạn tối nghĩa và đôi khi mâu thuẫn
với nhau, hoặc đối nghịch lại với lô gích cổ điển.

Nhưng vì những
lý do sẽ trình bầy sau, chúng ta phải bắt buộc chấp nhận
những mâu thuẫn đó khi đi vào tìm hiểu bài Kinh. Và để
rút ra chất cốt tủy của lời dậy, thường được chứa
đựng trong những câu vô cùng ngắn gọn, chúng ta phải gạt
bỏ tất cả các điều thừa thãi, lập lại, hiển nhiên không
thuộc vào thông điệp chính của bài Kinh.

Đó là trường
hợp
của những đoạn nhấn mạnh về công đức nhận được
mỗi khi tụng niệmphổ biến bài Kinh. Chúng chỉ nhằm
phát triển niềm tin trên bài Kinh, thuộc vào Tam Bảo là Phật,
Pháp, Tăng. Trong nhiều đoạn có nhắc lại câu: “Nếu có
thiện nam thiện nữ nào nghe kinh điển này, thọ trì đọc
tụng
và viết chép lại kinh, dù chỉ là 4 giòng, và đi giảng
giải
cho người khác nghe, thì thành tựu công đức không thể
lường và vượt lên trên tất cả các bố thí trên thế giới”.

Thật ra trong đạo
Phật
sơ khởi cũng như trong truyền thống Bát Nhã, không có
đức tin theo ý nghĩa sùng tín (bhakti, dévotion) mà chỉ
niềm tin tưởng (sradda, foi de confiance) trên vị thầy
và lời dậy của ngài. Hơn nữa, một bài học chính
yếu
của bài Kinh là sự buông xả cái “ta”, do đó sự tích
tụ công đức không còn lý do gì để tồn tại, và ít ra
không phải là mục đích của kẻ đã đi theo hạnh nguyện
Bồ Tát. Chính đức Phật đã nói trong chương 19:

“Tu Bồ Đề!
Ý ông thế nào, nếu có người đem đồ thất bảo đầy cả
ba ngàn thế giớibố thí, người ấy làm nhân duyên thế,
có được nhiều phúc đức không?

– Bạch Thế Tôn!
Như thế, người đó nhờ nhân duyên ấy được phúc đức
rất nhiều.

– Này Tu Bồ Đề!
nếu phúc đức có thực, thì Như Lai đã không nói rằng phúc
đức
nhiều. Vì phúc đức không có, cho nên Như Lai mới nói
là được phúc đức nhiều”.

Người ta có thể
nghĩ rằng những đoạn nói về sự thành kính đối với bài
Kinh
đã được thêm vào để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng,
cũng như trong các tôn giáo khác. Nhất là, như chúng ta đã
thấy, hình thức hoàn chỉnh của bài Kinh có nhiều khả năng
chỉ xuất hiện vài trăm năm sau bản kinh ban đầu. Làm sao
đức Phật có thể nói về một bài kinh, khi kinh đó chỉ
được đúc kết và soạn thảo nhiều năm sau khi ngài tịch
diệt?

Sau khi đóng ngoặc
lại trên những nhận xét đó, chúng ta sẽ lần lượt đi
vào
các chương của bài Kinh.

1)
Bối cảnh lời dậy của đức Phật

Bối cảnh lời
dậy của đức Phật nằm trong hai chương đầu, có thể gọi
là phần dẫn nhập.

Chương 1.

Tôi nghe như vầy.

Đó là một câu
khởi đầu thường gặp ở đa số các bài Kinh (Phạn văn:
evam
maya srutam,
Hán văn: như thị ngã văn), do ngài A Nan
(Ananda), người đệ tử thân cận nhất của đức Phật, thuật
lại những gì đã được nghe từ miệng đức Đạo sư.

Có một thời,
đức Thế Tôn ở tại nước Xá Vệ (Sravasti), bên rừng cây
Kỳ Đà (Jeta), trong vườn Cấp Cô Độc (Anathapindika), cùng
với một ngàn hai trăm năm mươi vị đại tỳ kheo. Tới giờ
ăn sáng, ngài mặc y, cầm bát đi vào thành Xá Vệ khất thực.
Sau khi trở về và ăn xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân, trải
tòa ngồi xuống.

Như vậy, bối cảnh
bài học của đức Phật là một hội đồng tỳ kheo họp
lại chung quanh ngài, trong khu vườn của một thương gia giầu
có (Cấp Cô Độc) cho ngài mượn trong mùa mưa. Đó cũng là
hình ảnh của đời sống hàng ngày của đức Phật, một
cuộc sống bình thường, giản dị, trong sự tỉnh thức. Trong
Kinh không hề nói có hào quang, sấm chớp, đất trời rung
chuyển hay một hiện tượng siêu nhiên nào xẩy ra, như trong
một số kinh điển Đại Thừa.

Chương 2.

Lúc bấy giờ,
có một vị trưởng lão tên là Tu Bồ Đề (Subhuti, hay Thiện
Hiện
), đang ngồi trong chúng, tức thì đứng dậy, vạch trần
vai phải, đầu gối bên phải quì sát đất, chắp tay cung
kính
mà thưa: ” Bạch Thế Tôn, ngài thật hiếm có trên đời,
ngài khéo hộ niệm cho các Bồ Tát, khéo phó chúc cho các Bồ
Tát
. Bạch Thế Tôn, thiện nam tín nữ đã phát tâm nguyện
vô thượng Bồ đề, thì phải an trụ tâm thế nào, hàng phục
tâm
thế nào?”(…)

Tu Bồ Đề là một
vị đại đệ tử của đức Phật, và câu hỏi ngài đặt
ra vô cùng hệ trọng: đó không phải là một vấn đề siêu
hình, mà là một một vấn đề thiết thực, rộng lớn đặt
ra cho tất cả những người tu theo đạo Phật. Và đức Phật
trả lời, không phải chỉ riêng cho Tu Bồ Đề, mà luôn thể
cho cả chúng tỳ kheo có mặt.

2)
Nhát chém đầu tiên của gươm báu

Chương 3.

Phật bảoTu Bồ
Đề
rằng: “Các Bồ Tát nên hàng phục cái tâm như thế này:
Tất cả chúng sanh các loài, dù sanh bằng trứng, bằng thai,
dù sanh bằng ẩm thấp, bằng hóa sanh, dù có hình sắc hay
không hình sắc, dù có tư tưởng hay không tư tưởng, ta phải
làm sao giúp chúng đều được diệt độ vào Niết Bàn. Diệt
độ
cho vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như vậy, mà
thật ra không có chúng sanh nào được độ cả. Tại sao vậy?
Tu Bồ Đề! Vì nếu Bồ Tát vẫn còn phân biệt tướng ngã,
tướng nhân, tướng thọ giả, thì không phải là Bồ Tát
vậy”
(Hán văn: Nhược Bồ Tát hữu ngã tướng, nhân
tướng
, chúng sanh tướng, thọ giả tướng tức phi Bồ Tát
).

Lời mở đầu của
đức Phật có vẻ bình thường, quen thuộc. Người ta có cảm
tưởng
nghe Kinh Từ Bi (metta sutta), nhắc lại hạnh nguyện
Bồ Tát cứu độ tất cả các chúng sanh và dẫn họ tới
Niết Bàn. Nhưng bỗng nhiên, người ta cảm thấy bị hụt
hẫng, ” tréo cẵng ngỗng ” (contrepied) như trong khi chơi quần
vợt, chạy về một phía trong khi trái banh vọt về phía kia,
làm cho ai nấy đều chưng hửng, như rớt vào khoảng trống:
“thật ra, không có một chúng sanh nào được diệt độ vào
Niết Bàn”! Đó là nhát chém đầu tiên của chiếc gươm báu,
hay là tiếng sét đánh đầu tiên…

Bồ Tát mà còn
phân biệt mình và người khác, và thọ giả (tức là sinh
mạng lâu dài nối mãi không dứt), thì không phải là Bồ
Tát
thực sự. Và ngay cả những ai đã đạt được thánh
quả
khác như Dự Lưu (srota-apanna), Nhất Lưu (sakrdagamin),
Bất
Lai
(anagamin)
hay A La Hán (arhat) cũng vậy.

3)
Mọi hình tướng đều là hư vọng

Chương 4.

“Lại nữa,Tu
Bồ Đề! Bồ Tát trong khi bố thí, đối với các pháp, không
nên chấp trước, không nên trụ vào đâu cả. Tức là không
chấp
trước vào sắc, không chấp trước vào thanh, hương,
vị, xúc, pháp mà bố thí. Bố thíkhông chấp trước vào
đâu thì phúc đức không thể lường được”.(…)

Như vậy, ngay từ
ban đầu, chỉ qua vài câu, đức Phật đã đi thẳng vào vấn
đề
, và “giáng” cho một bài học đi ngược lại hẳn với
những thành kiến có từ trước. Một vị Bồ Tátcó ý thức
mình là Bồ Tát không phải Bồ Tát thực sự,
một người có ý thức mình là kẻ nhân từ không phải là
kẻ nhân từ thực sự.Bởi vì người ấy còn phân biệt mình
và người khác, chủ thể và khách thể, vì người ấy còn
chấp vào cái ngã của mình, vào cái tướng của mình và của
người. Hành động bố thí không còn là không vụ lợi, bởi
vì khi đã tự tách mình ra và tăng giá trị cho mình, thì là
đã tâng bốc, vuốt ve cái bản ngã của mình.

Đó cũng là sự
chấp trước vào hình tướng, vào dáng vẻ, vào bề ngoài,
đức Phật dậy chúng ta phải đề phòng đừng mắc phải.

Chương 5.

“Này Tu Bồ Đề!
Ý ông ra sao, có thể nào nhìn thân tướng mà thấy Như Lai
không?””- Không, Bạch Thế Tôn, không thể nhìn thân tướng
mà thấy Như Lai được”. “- Vì sao vậy?” “- Vì theo ngài dậy,
thân tướng đó không phải là thân tướng chân thật”. Phật
bảo
Tu Bồ Đề rằng: “Phàm những gì có hình tướng đều
hư vọng. Nếu thấy rõ các tướng đó không phải là chân
tướng
, tức là thấy được Như Lai”.
(Hán văn: Phàm
sở hữu tướng, giai thị hư vọng
. Nhược kiến chư
tướng
phi tướng tức kiến Như Lai
).

Từ tiếng Phạn
dùng để chỉ định hình tướnglaksana, cũng có
nghĩa là vẻ ngoài, hình dạng, dấu ấn, dấu hiệu, đặc
điểm
(như trong “ba pháp ấn”, trilaksana, là ba đặc điểm
của cuộc sống: vô ngã, vô thường, khổ). Chính khái niệm
cốt yếu đó được lấy làm nền tảng cho Kinh Kim Cương.
Ý nghĩa trung tâm được lập lại trong suốt bài Kinh là: “Mọi
hình tướng đều là hư vọng”. Tất cả những vẻ ngoài đều
giả dối. Từ hình tướng của đức Phật, của Pháp, của
Tăng, cho đến cái ta, cái cá tính, cái hiện hữu, v.v. tất
cả đều không thực.

Thiết tưởng cũng
nên nhắc lại là từ Phạn dharma (pháp), thường
gặp trong đạo Phật, có hai nghĩa: 1) những lời dậy của
đức Phật (giáo pháp); 2) tất cả mọi sự vật, tất cả
những gì hiện hữu, nhìn thấy hay không nhìn thấy, có thật
hay tưởng tượng, tức là một khái niệm vô cùng rộng rãi.
Người ta có thể phân biệt bằng cách dùng chữ D hoa (hay
P hoa cho Pháp) cho 1) và d thường (hay p thường cho pháp) cho
2). Nhưng vì trong tiếng Phạn không có chữ hoa, nên rốt cục
phải hiểu mỗi từ dharma tùy theo ngữ cảnh.

Giáo pháp được
đề cập tới trong một số chương:

Chương 6.

“(…) Các chúng
sanh
đã phát lòng vô thượng, không nên nhận lấy tướng,
tức là chấp trước vào ngã tướng, nhân tướng, chúng sinh
tướng
, thọ giả tướng; không nên nhận là có pháp, không
nên nhận là có phi pháp. Vì lý do đó, cho nên Như Lai thường
nói: ‘Này các tỳ kheo! Các ông nên biết, pháp ta nói ra đó
cũng chỉ như chiếc bè dùng để qua sông. Pháp còn nên bỏ
đi, huống chi là phi pháp.’
(Hán văn : Tri ngã
thuyết pháp, như phiệt dụ giả. Pháp thượng ưng xả,
huống
phi pháp
).”

Chương 7.

“Này Tu Bồ Đề!
Ý ông thế nào, Như Laiđạt được A nậu đa la tam miệu
tam Bồ đề
(anuttara-samyaksambodhi, vô thượng chính đẳng chính
giác
) không?Như Lai có nói pháp gì không?” “- Bạch Thế Tôn,
theo con hiểu ý của ngài, thì không có pháp nào có thể khẳng
định là A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề, cũng không có
pháp nào có thể khẳng định là Như Lai nói được.” “- Vì
sao vậy?””- Vì pháp của Như Lai nói không nắm được, không
diễn tả được bằng lời nói, không phải là pháp, không
phải là phi pháp.”(…)

Chương 21.

“Này Tu Bồ Đề!
Ông đừng nói Như Laiý nghĩ Như Lai thuyết pháp. Vì sao
vậy? Vì nếu ai nói rằng Như Laithuyết pháp, thì chính
phỉ báng Như Lai. Nói như vậy là không hiểu ý nghĩa Như
Lai
đã nói. Tu Bồ Đề! Thuyết phápthực không có pháp
gì có thể thuyết, vậy mới gọi là thuyết pháp.”(…)

4)
Hình thức phủ định đôi (double négation)

Một hình thức
ngữ pháp thường gặp trong Kinh là hình thức phủ định
đôi
(bất…bất…, vô…, vô… hoặc phi…phi…),
những từ phủ định là những danh từ hoặc tính từ có
ý nghĩa trái ngược nhau, từng cặp một (thí dụ như tăng/giảm,
thực/hư, pháp/phi pháp, chúng sanh/bất chúng sanh).

Hình thức này thường
được dùng bởi ngài Long Thụ (Nagarjuna), một đại
triết gia
luận sư Ấn Độ (tk. II-III sau CN), dẫn đầu
trường phái Trung Quán (Madhyamaka), và là nhà bình giảng
chính của bộ Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ngài cũng được
tôn thờ bởi Phật giáo Đại Thừa như một vị Bồ Tát
vị tổ sư thứ 14 của Thiền tông. Nhờ một phương pháp
lý luận vô cùng sắc bén, ngài đi tới 8 điều phủ định
về sự thật: “bất sanh, bất diệt, bất thường, bất đoạn,
bất lai, bất khứ, bất nhất, bất dị” (không sanh, không
diệt, không thường còn, không dứt đoạn, không tới, không
đi, không đồng nhất, không khác biệt), và kết luận rằng
sự thật không thể nào nắm bắt được bằng khái niệm,
ngôn từ. Do đó, sự phân biệt nhị biên phải được hoàn
toàn
phá bỏ, để tâm không còn bị dính mắc vào đó nữa.

Một cách trình
bầy thường được dùng trong bài Kinh là: “cái này có
(khẳng
định)
, thực ra nó không có (phủ định), vì vậy
người ta gọi nó là (khẳng định)“.

Đó là trường
hợp
của những hạt bụi không đếm xuể, của hằng hà sa
số
thế giới:

Chương 30.

“Này Tu Bồ Đề!
Nếu có thiện nam thiện nữ lấy cả ba ngàn đại thế giới
ra nghiền nát thành những hạt bụi nhỏ, thì ý ông thế nào,
số hạt bụi ấy có nhiều không?” “- Bạch Thế Tôn, rất
nhiều “.”- Vì sao vậy?””- Vì nếu những hạt bụi nhỏ ấy
có thực, thì Phật đã không nói có những hạt bụi. Sỡ
dĩ Phật nói có những hạt bụi nhỏ, tức không phải là
hạt bụi nhỏ, cho nên mới gọi là hạt bụi nhỏ. Và bạch
Thế Tôn, cái mà ngài gọi là ba ngàn đại thế giới đó
không phải thực là thế giới, cho nên mới gọi là thế giới.
Vì sao vậy? Vì nếu thế giới có thực, là vì do hình tướng
hợp lại. Như Lai nói hình tướng hợp lại đó không phải
thực là hình tướng hợp lại, cho nên mới gọi là hình tướng
hợp lại.””Tu Bồ Đề! Hình tướng hợp lại thì không thể
nghĩ bàn, song kẻ phàm phu hay đam mê chấp trước điều đó.”

Về hình thức,
thì chúng ta nhận thấy rằng, sau những lời dậy đầu tiên
của đức Phật, trưởng lão Tu Bồ Đề đã hiểu sâu ý ngài
rất nhanh, cho nên đã tự trả lời được những câu hỏi
sau của đức Phật một cách dễ dàng, không khác gì chính
ngài trả lời.

Về nội dung, chính
vì những câu trả lời đặc biệt như vậy, cho nên Kinh Kim
Cương
có tiếng là khó hiểu, làm người đọc phân vân, đôi
khi ngờ vực và đâm ra chán nản. Thậm chí còn có người
nhại báng Kinh bằng những câu như “ta nói dzậy, nhưng mà
không phải dzậy”… Thật ra, nhìn sâu vào từng câu, từng
khái niệm, chúng ta mới thấy rõ tính chất đồng nhất của
nội dung bài Kinh.

Chẳng hạn như
nếu nghiền nát cả thế giới này thành từng hạt hết sức
nhỏ (vi trần hay phần tử) thì sẽ có một số lượng
cùng
hạt càng ngày càng nhỏ, càng gần tới hư không. Những
hạt bụi nhỏ này cũng không có tự tánh, không có thường
còn, cũng như bao nhiêu thế giới khác. Vì vậy cho nên hạt
bụi
cũng như thế giới đều là không thực, đều do
ý tưởng mình mà có. Nhưng vì tiện lợi cho nên người ta
mới tạm gọi nó là hạt bụi, là thế giới. Và ngay
cả khi nói là chúng do hình tướng hợp lại mà thành, thì
hình tướng đó cũng không có thực, và được tạm gọi là
hình tướng. Nói tóm lại một cách vắn tắt thì “Có những
hạt bụi (hay thế giới, hay hình tướng hợp lại), nhưng
thực ra không có hạt bụi (hay thế giới, hay hình tướng
hợp lại), cho nên mới gọi là hạt bụi (hay thế giới, hay
hình tướng hợp lại).” Một câu thường gặp trong Kinh là:
“Như
Lai nói (…), tức là không (…), ấy gọi là (…)”
(Hán
văn:
Như Lai thuyết (…), tức phi (…), thị danh (…)).

Những hình tướng
khác, như: người có thân thể cao lớn (chương 10, 17),
sắc thân hoàn hảo của đức Phật (chương 20), các
loại
mắt của đức Phật (nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn,
pháp nhãn, Phật nhãn)(chương 18), 32 đặc tướng của
ngài
(chương 13, 26), các pháp Như Lai nói (chương 7,
14, 17, 21)
, chư Phật và pháp vô thượng chính đẳng chính
giác

(chương 8, 17, 22), tên Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa
(chương
13)
, những đức tính (chương 23), bố thí
(dana)
nhẫn nhục (ksanti) ba la mật (chương 14), công
đức

(chương 19) và phần thưởng cho công đức (ch.
28)
, chúng sanh (chương 21), những kẻ phàm phu (chương
25)
, cái tâm (chương 18), hình tướng của sự vật
(dharma-laksana) (chương 31), tất cả đều được
áp dụng vào câu: “Cái mà người ta gọi là (…), thực
ra
không phải là (…), vì vậy để tiện lợi người ta gọi
là (…).”

5)
Đừng nên chấp trước vào đâu cả

Về 32 đặc tướng
của đức Phật, ngài có nói lên một bài kệ kết thúc chương
26
:

“(…) Nếu lấy
sắc thấy ta,


Lấy âm thanh
cầu ta,


Người ấy theo
tà đạo,


Không thể thấy
Như Lai.”


(Hán văn: Nhược
dĩ sắc kiến ngã, Dĩ âm thanh cầu ngã, Thị nhân hành
đạo
, Bất năng kiến Như Lai
)

Bài kệ nổi tiếng
này dĩ nhiên vượt khỏi phạm vi của 32 đặc tướng, và
có thể được diễn giải theo tinh thần Thiền tông: những
hình vẽ, những tượng PhậtBồ Tát (sắc) chỉ là những
biểu tượng; những lời tụng niệm, cầu khẩn cùng với
chuông mõ, kèn trống (thanh) chỉ là những phương tiện
giúp cho chánh niệm. Vì vậy, không nên chấp trước, dính
mắc vào hình tướng, sắc thanh, mà tin rằng tìm thấy đức
Phật
trong đó.

6)
Tâm không nên trụ vào đâu

Lời khuyên quan
trọng nhất của đức Phật nằm trong chương 10 :

“Các Đại Bồ
Tát
phải nên sanh cái tâm thanh tịnh như thế này: không nên
trụ vào sắc mà sanh tâm, không nên trụ vào thanh, hương,
vị, xúc, pháp mà sanh tâm. Không nên trụ vào chỗ nào mà
sanh tâm.”
(Hán văn : Bất ưng trụ sắc sanh tâm,
bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng
sở trụ
nhi sanh kỳ tâm
.)

Câu này thoạt nghe
không có vẻ gì đặc biệt, nhưng thật ra chứa đựng thông
điệp
thâm sâu, sắc bén, đột phá nhất của tinh thần Thiền.
Chính trong khi nghe thầy mình, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, đọc lại
câu này lúc truyền y bát, mà Lục tổ Huệ Năng hoát nhiên
đại ngộ và kêu lên: “Đâu ngờ tự tánh xưa nay vốn thanh
tịnh! Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt! Đâu ngờ tự
tánh
vốn tự đầy đủ! Đâu ngờ tự tánh vốn không dao
động! Đâu ngờ tự tánh sanh ra muôn pháp!”.
Và vua Trần
Thái Tông
cũng đạt được đại ngộ khi đọc đến câu này.

Như vậy, câu
Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm
hẳn phải có một sức
mạnh
đặc biệt lắm mới có thể gây chấn độngtuệ
giác
nơi hai vị Thiền sư xuất chúng này. Đó có thể là
8 chữ nói đến bởi Trúc Lâm Sơ Tổ Trần Nhân Tông khi trả
lời
một vị tăng hỏi ngài ‘cứu cánh là gì?’: “Bát tự đả
khai phân phó liễu, Cánh vô dư sự khả trình quân”.(Tám chữ
mở thông đà trao hết, còn gì đâu nữa để trình ông).(Trong
bài kệ “Hữu cú vô cú”).

Nếu phải thu gọn
Kinh Kim Cương vào một câu, chỉ một câu thôi, thì có lẽ
chính là câu này. Làm thế nào để an trụ, hàng phục tâm?
Đức Phật đã trả lời một cách ngắn gọn câu hỏi của
trưởng lão Tu Bồ Đề: “Đừng để tâm trụ vào một nơi
nào hết”. Bởi vì khi tâm bắt đầu trụ (hay dính mắc) vào
sắc, thanh, hương, vị, xúc hay pháp, thì tức khắc tâm dấy
lên, tâm bị dao độngvọng tưởng, cho nên không còn cái
thanh tịnh trong sáng ban đầu. Trong Kinh còn nói, trong
chương
14
, “Nếu tâm còn chỗ trụ, tức không phải là trụ”
(Hán
văn: Nhược tâm hữu trụ, tức vi phi trụ).

Như vậy, có thể
nói rằng: muốn tâm an trụ thì đừng để cho tâm trụ. Tâm
không
trụ thì mới an trụ.

Điều này gợi
lại cho ta câu chuyện của ngài Huệ Khả đến cầu xin tổ
Bồ Đề Đạt Ma an tâm cho mình. Đến khi tổ nói “đưa tâm
đây ta an cho”, thì ngài Huệ Khả “không thấy tâm đâu hết”,
và bỗng nhiên đại ngộ. Đó là vì trước đó tâm ngài còn
trụ trong cảm tưởng bất an, đến khi tìm cái tâm thì tâm
hết trụ, nên không thấy cái tâm đâu nữa, và không có tâm
thì hết bất an!

7)
Chương làm tổng hợp của bài Kinh

Chương 14
là chương dài nhất (Hán văn: 600 chữ), nhưng chứa đựng
sự tổng hợp của cả bài Kinh. Nếu phải chọn một trong
32 chương, thì có thể chọn chương này như một chương tiêu
biểu
, tóm tắt lại bài Kinh.

Bấy giờ, Tu
Bồ Đề
nghe nói kinh này, lãnh hội sâu xa, xúc cảm đến
rơi lệbạch Phật rằng: “Hiếm có lắm thay! Lời dậy
của Thế Tôn thật sâu xa. Từ khi con được tuệ nhãn đến
nay
chưa từng được nghe kinh nào như vây. Nếu lại có người
nào nghe được kinh này, lòng tin thanh tịnh, sanh ra cái tướng
chân thực, thì biết người ấy thành tựu được công đức
hiếm có bậc nhất. Bạch thế Tôn, cái tướng chân thực
ấy, tức không phải là tướng chân thực, cho nên Như Lai
mới nói là tướng chân thực. Con nay được nghe kinh, tin hiểu
thọ trì, cũng không khó mấy. Nhưng đến năm trăm năm về
sau này, có chúng sanh nào nghe Kinh mà tin hiểu thọ trì, người
đó mới là hiếm có nhất. Vì sao vậy? Vì người đó không
ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng.
Tại sao? Vì ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ
giả tướng
tức không phải là tướng. Xa lìa mọi tướng
tức gọi là chư Phật “.

Phật bảo Tu
Bồ Đề
: “Đúng vậy, đúng vậy! Nếu lại có người nào
được nghe kinh này mà không kinh hoàng, hãi sợ, thì phải
biết người đó vô cùng hiếm có. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề!
Như Lai nói đệ nhất ba la mật, tức không phải là đệ nhất
ba la mật, cho nên gọi là đệ nhất ba la mật. Như Lai nói
nhẫn nhục ba la mật, tức không phải nhẫn nhục ba la mật,
cho nên gọi là nhẫn nhục ba la mật. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề!
Như ta xưa kia bị vua Ca Lợi (Kalinga) chặt hết thân thể,
lúc đó ta không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng. Tại sao? Vì lúc ấy khi ta bị lóc thịt
tay chân, nếu ta còn ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,
thọ giả tướng, tất sanh lòng sân hận. Tu Bồ Đề! Lại
nhớ năm trăm kiếp xưa kia, ta làm nhẫn nhục tiên nhân, đã
không có ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả
tướng
rồi. Vì thế Bồ Tát phải rời bỏ tất cả các tướng
phát tâm vô thượng Bồ Đề, không nên trụ vào sắc mà
sanh tâm, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà
sanh tâm. Nên sanh tâm không trụ vào đâu cả. Nếu tâm còn
chỗ trụ, tức không phải là trụ.

Vì thế nên Phật
nói tâm Bồ Tát không nên trụ vào sắc bố thí. Tu Bồ Đề!
Bồ Tát vì lợi ích cho tất cả chúng sanh nên phải bố thí
như vậy. Như Lai nói tất cả các tướng tức không phải
là tướng thực, tất cả các chúng sanh tức không phải là
chúng sanh thực. Tu Bồ Đề! Lời nói của Như Lailời
nói
đúng đắn, như thật, không điên cuồng, không quái dị.
Các Pháp Như Lai đã được đó không thực, cũng không hư.
Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát tâm còn trụ vào Pháp mà bố thí,
thì cũng như người vào chỗ tối, không còn nhìn thấy gì.
Nếu Bồ Tát tâm không trụ vào Pháp mà bố thí, thì cũng
như người đã có mắt, lại thêm ánh sáng mặt trời, thấy
rõ mọi mầu sắc.

Tu Bồ Đề! Sang
đời sau này, nếu có thiện nam thiện nữ nào thọ trì đọc
tụng
Kinh này, thì Như Lai với tuệ giác của Phật biết rõ
và thấy rõ người ấy sẽ được thành tựu vô lượng
biên
công đức.”

Về mặt nội dung,
chương này lập lại những điều đã trình bầy ở các chương
khác, duy có câu chuyện đức Phật kể lại tiền thân của
ngài, bị hành hạ cơ thể vô cùng đau đớn, nhưng ngài không
có một chút phân biệt ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh
tướng
, thọ giả tướng nào cả. Người ta có thể tin hay
không vào câu chuyện tiền thân của đức Phật, điều đó
không quan trọng. Điều quan trọng là lời giải thích cô đọng
của ngài. “Vì sao vậy? Vì nếu còn ngã tướng, nhân tướng,
chúng sanh tướng, thọ giả tướng,
tất sanh lòng sân hận”.

sân hận là nguồn gốc của khổ đau, cho mình và
cho người, là tạo nghiệp chẳng lành, trùng trùng duyên khởi.
Đó là lý do vì sao “Bồ Tát phải rời bỏ tất cả các
tướng”, “tâm không trụ vào đâu cả”
. Lý do chỉ đơn
giản
như vậy.

8)
Bài kệ kết thúc

Chương 32.

Kinh kết thúc bằng
bài kệ nổi tiếng gồm 4 câu:

“(…)
Tất cả các pháp hữu vi,


Như mộng, huyễn,
bọt, ảnh,


Như sương, cũng
như chớp,


Nên quán xét
như vậy.”

(Hán văn : Nhất
thiết hữu vi pháp
,


Như mộng
huyễn bào ảnh
,


Như lộ diệc
như điện,


Ưng tác như
thị
quán
.)

Khi Phật nói xong
Kinh này, trưởng lão Tu Bồ Đề và các tỳ kheo, tỳ kheo ni,
ưu bà tắc, ưu bà di, tất cả thế gian, thiên nhân, a tu la
được nghe Phật nói, đều rất hoan hỉ và tin nhận phụng
hành
.

Như vậy, bài Kinh
kết thúc trong khung cảnh ban đầu, một cách giản dị, như
những lời dậy của một vị thầy cho các đệ tử. Không
có một hình thức nào tỏ ratính chất tôn giáo, thiêng
liêng
, hay siêu nhiên.

Tôi xin phép trở
lại
bài kệ cuối cùng của bài Kinh. Bởi vì chính nhờ bài
này, dưới hình thức một bản dịch tiếng Anh mang đầy thi
vị của Kenneth Saunders, mà tôi đã đến với Kinh Kim Cương:

“Thus shall
ye think of all this fleeting world :


A star at dawn,
a bubble in a stream,


A flash of lightning
in a summer cloud,


A flickering lamp,
a phantom, and a dream.”

(Pháp văn: Ainsi
dois-tu considérer ce monde mouvant :


Une étoile à
l’aube, une bulle dans un ruisseau,


Un éclair dans
un nuage d’été,


Une lampe qui vacille,
un fantôme, un rêve.)

Bài này cũng đã gây
hiểu lầm nơi một số triết gia Tây phương khi họ khám phá
ra triết lý Phật giáo vào thế kỷ XIX và cho rằng đạo Phật
là “một triết lý của hư vô”. Nếu đức Phật nói rằng
mọi hiện tượng đều là ảo tưởng, thì có thể nào hiểu
rằng đối với đạo Phật, “không có gì hiện hữu”? Nhưng
nếu không có gì hiện hữu, thì yêu thương làm chi, tranh đấu
làm chi, sống để làm chi? Và tạo dựng lên một triết lý
dựa lên sự khổ đau, như vậy có phải là bi quan, tiêu cực
thụ động quá hay không?

Thật ra đạo Phật
không hề bi quan, tiêu cựcthụ động. Đã đành rằng
điểm khởi đầu và lý do ra đời của đạo Phật là sự
khổ đau
(dukkha). Nhưng khởi đầu bằng khổ đau không
có nghĩa là ngừng ở đó. Trái lại, thái độ của đức
Phật
cũng như của người thầy thuốc, nghĩa là chẩn đoán
bệnh, tìm căn bệnh, để rồi giúp người bệnh tự điều
trị
. Mục đích là chữa khỏi bệnh, là đoạn diệt phiền
não
khổ đau, và điều đó chỉ phụ thuộc vào sự cố gắng
của chính mình. Như vậy, còn thái độ triết lý nào lạc
quan
hơn, tích cực hơn, năng động hơn? Hơn nữa, nếu đức
Phật
đã xem thế giới như hư vô, mọi sự vật như ảo tưởng,
thì tại sao ngài lại bỏ 45 năm trời để đi suốt lưu vực
sông Hằng thuyết giảng con đường diệt khổ mà ngài đã
tìm ra?

Và nếu suy ngẫm
kỹ trên những câu quan trọng của Kinh Kim Cương, thì ta thấy
tinh thần Bát Nhã, tinh thần Trung Quán bàng bạc trong suốt
bài Kinh. Chẳng hạn như trong bài kệ cuối cùng, nếu quán
sâu về các hiện tượng, thì chúng ta thấy mặc dù chúng
chỉ là ảo tưởng (khi tỉnh mộng, bọt hay sương tan đi,
ánh chớp biến đi…), nhưng trong một giây phút nào đó cũng
rất thực (đối với người đang nằm mộng, hay nhìn sương,
bọt, chớp…). Ai là người trong cơn mộng tránh được cảm
xúc
trào lên như sống thực? Ai là người không rung động
trước cái đẹp của một chiếc cầu vồng, một đóa hoa,
một điệu nhạc, một nụ cười, tuy rằng chỉ thoáng qua
trong chốc lát?

Nếu có ảo tưởng
của thực tế, thì cũng có thực tế của ảo tưởng. Đức
Phật
không chối bỏ cả hai đứng về khía cạnh con người,
đồng thời cũng chối bỏ cả hai đứng về khía cạnh tuyệt
đối
. Và ngài từ chối sự phân biệt nhị nguyên tạo dựng
nên bởi ý tưởng con người.

Bài kệ của ngài
Từ Đạo Hạnh, thiền sư đời nhà Lý thế kỷ XI, nói lên
thái độ của đạo Phật, con đường trung đạo giữa
“có” và “không”:

“Tác hữu trần
sa
hữu,


Vi không nhất
thiết không
.


Hữu, không như
thủy nguyệt,


Vật trước
hữu không không.

(Có thì có tự
mẩy may,


Không thì cả
thế gian này cũng không.


Có không như
trăng nước,


Đừng chấp
với không.)

Như ngài Long Thụ
(Nagarjuna) đã giải thích, muốn hiểu trọn vẹn giáo lý của
đức Phật thì phải thấy rõ hai mức độ của sự thực:
sự thực tương đối, theo qui ước (samvriti-satya, tục đế)
và sự thực tuyệt đối, sâu xa (paramartha-satya, chân đế).
Sự thực đầu tiên có thể diễn tả được bằng lời nói,
bằng khái niệm, biểu tượng. Sự thực thứ nhì không thể
nào diễn tả được, và vượt qua khỏi mọi biểu tượng,
ngôn từ.

Như vậy trong suốt
bài Kinh, khi đức Phật nói “có […]” thì có thể hiểu
là ngài nói sự thực tương đối, đến khi “tức là không
[…]”
là ngài nói sự thực tuyệt đối, và đến cuối
cùng

“cho nên có […]” là ngài trở lại sự thực tương
đối
.

VII.
Kết luận

So với Bát Nhã
Tâm Kinh
, thì Kinh Kim Cương dài hơn nhiều, số chữ hơn đến
27 lần. Có lẽ vì vậy cho nên Kinh này không được tụng
niệm
thường xuyên bằng Tâm Kinh tại các chùa thuộc hệ
Đại Thừa.

Tuy nhiên, nội dung
của bài Kinh rất sâu sắc và phong phú, dựa lên một số
câu ngắn gọn cần phải được ghi nhớ và quán xét lại
thường xuyên.

Khác với Tâm Kinh,
chữ “không” (sunyata) dường như không có mặt trong Kinh
Kim Cương, nhưng tinh thần “không” bàng bạc khắp nơi, và có
thể nói là hai bài kinh hài hoà bổ túc lẫn nhau.

Kinh thâm thúy, cao
siêu và nói chung khó hiểu, nhưng không phải là không thể
tìm hiểu được, không cố gắng với tới được. Phải gạt
bỏ nhiều đoạn lập lại hay rườm rà của bài Kinh, mới
có thể đi sâu vào cốt tủy của thông điệp Bát Nhã. Đồng
thời
sẵn sàng chịu đựng sức tàn phá của bài Kinh, làm
cho nhiều định kiến tích tụ lâu ngày bị đảo lộn, một
cách không ngờ nhưng bổ ích.

Nói một cách vắn
tắt
, Kinh Kim Cương vừa có sức mạnh sấm sét làm nổ tung
các kiến chấp, vừa là chiếc gươm bén chặt đứt các phiền
não
, bằng cách phá bỏ mọi chấp trước. Kinh dậy:

– phải lìa
bỏ
các tướng, bởi vì các tướng đều là hư vọng;

Bồ Tát mà còn
phân biệt người và ta, chúng sanh và ta, trong khi bố thí không
phải là Bồ Tát thực sự;

– Pháp cũng như
chiếc bè, phải biết rời bỏ sau khi qua sông;

– không nên chấp
trước
vào đâu cả, đừng tìm Phật trong hình sắc, âm thanh;

– đừng để tâm
trụ, dính mắc vào nơi nào, và đặc biệt sanh tâm phân biệt;

– và hãy xem các
hiện tượng như huyễn mộng, ảo giác, để chúng đi qua,
nhưng đừng chạy theo.

Rốt cuộc, con đường
giải thoát cũng tương đối giản dị và dễ hiểu.

Nhưng, ngài Tu Bồ
Đề
ơi! Tâm mới phức tạp và khó hàng phục, an trụ làm
sao!…

Trịnh
Nguyên Phước


Olivet,
04/06/2010

Tài
liệu
tham khảo

1. Conze Edward (translated
by)

Perfect Wisdom – The
short
prajñaparamita
texts

Buddhist Publishing
Group, Totnes, UK, 2002

2. Thiền sư Hám
Sơn (Hàn Shan) (dịch và giảng)

Kinh Kim Cang giác
nghĩa đoạn nghi (song ngữ Việt – Anh)

NXB Tôn Giáo, 2008

3. Thích Hạnh Tuấn
*


Những chữ kỵ
húy xuất hiện trong Kinh Kim Cang qua sự truyền thừa Kinh điển
tại Việt Nam

http://www.buddhismtoday.com/viet/kinh/05Nhung%20Chu%20Ky%20Huy…._hanh%20Tuan.pdf

4. Thích Nhất Hạnh
(dịch)

Kinh Kim Cương

http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/cuc-i/36-kinh-vn/50-kinh-kim-cng

5. Price AF, Wong Mou
Lam (translated by)

The Diamond Sutra
& The Sutra of Hui-Neng

Shambala,, Boston,
1990

6. Thích Thanh Từ
(dịch và giảng)

Kinh Kim Cang giảng
giải
(1997)

http://www.thuong-chieu.org/uni/KinhSachThiKe/Kinh/KinhKimCang/TRANG_CHINH.htm

7. Thiều Chửu (dịch
và giảng)

Kinh Kim Cương Bát
Nhã Ba La Mật


Trung tâm Văn hóa
PG VN tại Cộng hòa Liên bang Đức, 1984

8. Trí Quang (dịch)

Kinh Kim Cương

NXB Mai Lan Lệ Ấn,
Muenchen, 1997

 

Hình 1 : Ấn
bản Kinh được khám phá ra năm 1907


tại một hang
động gần Đôn Hoàng, Trung quốc,


in vào khoảng
868 sau CN

 

blank

blank

Hình 2 : Bản
Kinh
thêu trên gấm, từ thời Tây Sơn (khoảng 1800),


gìn giữ tại
chùa Trúc Lâm, tỉnh Quảng Trị, trong một hộp gỗ trầm
khắc chạm

 

blank

Hình 3 : Phần
đầu của bài Kinh


thêu trên gấm,
chùa Trúc Lâm, Quảng Trị
blank
Hình 4 : Phần
cuối của bài Kinh

(tài liệu : Thích
Hạnh Tuấn *