Đạo đức học Phật giáo qua ngũ giới

0
253
ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO QUA NGŨ GIỚI
Thích NữHuệ Nhật

hoc phathoc phatDẪN NHẬP

Đứng trước biến động khó khăn của cuộc đời, Phật giáo với tinh thầntừ bitrí tuệ, lấy tôn chỉPhật pháp bất ly thế gian pháp đã luôn đồng hành cùng những thăng trầm của cuộc sống con người. Điều đó thể hiện qua việc Phật giáo truyền tải nguồn năng lượngyêu thương, giáo hóachúng sanh bằng con đường đạo đứctrí tuệ, tự tìm lại chân tâmPhật tánh nơi mỗi người. Và dù ở thời đại nào, Phật giáo vẫn luôn đóng vai tròvô cùng quan trọng trong việc xây dựng nền tảng đạo đứccon người thông qua ngũ giớicăn bản nhằm giúp hàng Phật tửthọ trì

KHÁI NIỆM ĐẠO ĐỨC

Đạo đức có thể hiểu theo nhiều nghĩa. Thuật ngữđạo đức (moral) được đề xuất trong triết học khoảng thế kỷ IV TCN và gắn liền vớitên tuổi Aristotle, là thời kỳ người ta quan niệmđạo đức là những chuẩn mực chung chung nhằm điều chỉnhhành vicon người, để tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa con ngườivới nhau, giữa con người với xã hội.

Theo từ điển Bách khoa: “Đạo đức học hay triết họcđạo đức là một nhánh của triết họcliên quan đến việc hệ thống hóa, bảo vệ và khuyến nghị các khái niệm về hành vi đúng và sai. Lĩnh vực đạo đức học cùng với mỹ học, liên quan đến các vấn đềgiá trị và do đó bao gồm nhánh triết học được gọi là tiên đề học” [1]. Đạo đức học tìm cáchgiải quyết các câu hỏi về đạo đứccon người bằng cách định nghĩa những khái niệm, như: thiện và ác, đúng và sai, đức hạnh và tệ nạn, công lýtội phạm. Là một lĩnh vực nghiên cứutrí tuệ, triết họcđạo đức cũng liên quan đến các lĩnh vực tâmhọc đạo đức, đạo đức học mô tảlý thuyếtgiá trị.

Theo từ điển Tiếng Việt, đạo đức là: “Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận, xã hộithừa nhận, quy địnhhành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [2]. Và từ điển Bách khoa Phật giáo nêu lên định nghĩa: “Đạo đức được hiểu một cách tổng quát như là sự thẩm địnhgiá trị về phẩm hạnh, cách cư xử, khuynh hướng, những mục tiêu, ý định, lối sốngcon người và những tổ chức xã hội” [3].

Qua những định nghĩa tiêu biểu trên, có thể thấy, đạo đức là tập hợp những tiêu chuẩn được số đông thừa nhận, những quy tắcđiều chỉnhhành vi ứng xử giữa người với người, với tự nhiên và được áp dụng chung cho cộng đồng, nhằm thiết lập một xã hội ổn định theo hướng tốt đẹp, lành mạnh. Ngoài ra, đạo đức thường được hiểu là những gì cao quý tạo nên văn hóacộng đồngxã hội.

BẢN CHẤT CỦA ĐẠO ĐỨC

Đạo đứctôn giáo lấy việc xa lìangã chấp, ngã dục làm điều kiệntrọng yếu. Đạo đức gồm đức hạnh và phẩm chất (hạnh kiểm) được sử dụng theo hai nghĩa khác nhau. Đức hạnh là phẩm chất của cá nhân, là phẩm chất bẩm sinh về trí tuệtính cách hay thiên hướng muốn làm những việc đúng đắn trong một định lý. Hạnh kiểm cũng là một thói quentương ứng với phẩm chất hay thiên hướng. Đạo đức có ba loại phẩm chất là phẩm chất chính trực, phẩm chất do hoàn cảnh và phẩm chất rộng lượng hay đấu giá. Trong ba loại này, đức hạnh của phẩm chất chính trực là quan trọng nhất trong đời sống đạo đức. Đức hạnh về phẩm chất do hoàn cảnhphụ thuộc vào loại vừa nêu và loại này chỉ có giá trị khi đồng hành với phẩm chất chính trực.

Đạo đức còn có sáu nguyên lý: Thứ nhất là khoa học đạo đức khách quan (diễn tả những tiêu chuẩnđạo đức trong những đất nước khác nhau. Thứ hai là khoa học chuẩn hóa về hạnh kiểm (những tiêu chuẩnđạo đứcgiá trị). Thứ ba là triết lý đạo đức (kiểm định giá trị của những tiêu chuẩnđạo đức bằng cách xác quyết vị trí của chúng trong toàn bộ cuộc sống con người). Thứ tư là ứng dụng những tiêu chuẩngiá trị trong những trường hợpcụ thểđặc biệt. Thứ năm là những nguyên tắc có sự cải tiến hạnh kiểm như mục tiêu đã được xác định của nó. Thứ sáu là nghệ thuật sống. Các nguyên lý này được xem là tiêu chuẩn cho nét đẹp cuộc đời, người có đạo đức là người đáng được quý trọng, xây dựng nên xã hộitốt đẹp, gương mẫu cho nhân loại.

Đạo đức là một vấn đềvô cùngphức tạp, đã được nhiều triết gia cũng như các nhà tư tưởng lớn trên thế giớibàn luận nhiều và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau theo từng thời đại. Chẳng hạn, theo quan điểm phương Tây, điển hình như triết gia Socrate thời Hy Lạp cổ đại cho rằng đạo đứcthực tiễn không căn cứ vàogiáo lýhệ thốngmơ hồ hay lệ thuộcthần học mà có thể tạo dựng một nền đạo đứcphù hợp cho những người có tôn giáo hay không tôn giáo, con người có thể nắm bắt tinh hoa cuộc sống cũng như ý nghĩa sự sống. Vì bản chất con người là thiện, nếu biết làm thiện sẽ là điều có lợi và đem lại sự dễ chịu, thoải mái và ông cũng đưa ra những điều kiện của hạnh phúc.

Triết gia Platon lại cho rằng nghệ thuật sống, ý nghĩa sống và đạo đứccon người không ở đâu xa mà ở trong sự thể hiện hòa điệu của một cá nhân. Khi hỏi về luân lýđạo đức, về sự công bằng, “ông còn nhấn mạnh lẽ công bằng là một sự quan hệ giữa cá nhântùy thuộc vào tổ chức xã hội và do đó cần phải được nghiên cứu song song với cơ cấu xã hội chứ không thể nghiên cứu như một thái độ cá nhân” [4]. Còn Aristote đưa ra nhận địnhđạo đứctùy thuộc vào sự suy luậnchính xác, sự kiểm soáttinh thần, sự quân bình của lòng ham muốncon đường đi đến mục đích đó là ý niệmtrung dung. Theo Karl Marx, đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người trong sự phát triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện.

Ấn Độ cổ đại, giới triết gia Bà-la-môn lấy Dharma làm chuẩn mực đạo đức. Họ xem bổn phận hành đạo của mỗi người trong đẳng cấp của mình (Dharma) là tư cáchđạo đức của con người trong cuộc sống, chấp nhận bổn phận của mình trong đẳng cấp. Và Ấn Độ xem đạo đức chính là sự thể nhập hiện hữu, hòa điệu giữa người với thần linh, tự thân với vũ trụ [5].

Ở Trung Hoa cũng có các bậc hiền triết cho tư tưởngđạo đức như: Lão Tử, Khổng Tử,… Trong Đạo Đức Kinh có nói, muốn hạnh phúclâu dài, mọi người phải sống theo tiêu chuẩnđạo đức: “Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi, trường cửu”; nghĩa là biết đủ thì không bị nhục, biết dùng thì không bị hại, như vậy mới tồn tại. Và trong phong cách làm việc thì “vô vi nhi bất vi” làm tất cả mọi công việc nhưng không chấp vào việc làm của mình. Theo Lão Tử, sống phải làm việc nhưng không tham, không tự đắc, không tự phụ và không kể công thì đó là con ngườiđạo đức.

Giá trịđạo đức của triết họcKhổng giáo là sự biểu hiện tình người trên cương lĩnh nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; đó là đạo làm người trong thiên hạ. Còn ba đặc tính trí, nhân, dũng là đức của con người trong thiên hạ. “Chính danh” là nguyên lý cơ bản để thiết lậptrật tựluân lýđạo đức trong xã hội, nghĩa là vua tôi, cha con,… phải làm trọn đạo của mình. Những ai toàn vẹn đầy đủ những điều nêu trên là người có đạo đức.

Qua những khái niệm, quan điểm về đạo đức kể trên, chúng tanhận thấy giữa Tây phươngĐông phương có một nền đạo đức tương giao và điểm gặp gỡ cơ bản về đạo đức. Ngoài ra, còn một nền đạo đức có sự gặp gỡ những yếu tố trên và vượt lên những yếu tố đó nữa là đạo đức học Phật giáo.

ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO

Đạo đứcPhật giáo là những phẩm hạnh rất cụ thể, không xa rời truyền thống dân tộc và luôn thích nghi trong mọi thời đại, mọi điều kiện. Phật giáoquan niệmtrí tuệ được giới hạnh (đạo đức) làm cho thanh tịnh. Giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh. Ở đâu có giới, ở đó có trí tuệ, ở đâu có trí tuệ, ở đó có giới! Người có giới hạnhnhất địnhtrí tuệ, người có trí tuệnhất địnhgiới hạnh [6]. Theo Hòa thượng Thích Minh Châu: “Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúcan lạc cho mọi loài chúng sanh, đặc biệtloài ngườichúng ta (…). Và nếp sống ấy phải được đem ra hành trì, thực hiện, không phải để lễ báicầu xin. Có thực hiện, người hành trì mới hưởng được hạnh phúc, an lạc, thiết thựchiện tại và ngay trong đời này” [7].

Đạo đức học Phật giáo là một hệ thốngđạo đức lấy tinh thầnVô ngã làm nền tảng, thể hiệnnếp sốngbình đẳngchánh hạnh, trong đó con người biết tự chủkềm chế chính mình và khước từ những dục vọngthế gian. Nhắc đến đạo đứcPhật giáo là nói đến tính nhân bản nghĩa là tất cả vì con người, vì hạnh phúccon người. Đạo đứcđồng nghĩa vớihạnh phúc, hạnh phúcđồng nghĩa vớigiải thoát. Đạo đứcPhật giáođạo đứcnhân bản, là đạo đứccon người, nền tảng đưa đến giải thoát [8]. Vì vậy, đạo đứcPhật giáo vượt lên trên các hệ tư tưởng khác, không những xây dựng một con ngườiđức hạnh trong xã hội mà còn nâng con người lên vị tríthánh hiền. Những yếu tốcăn bảnđặc điểm của đạo đức học Phật giáođạo đứcPhật giáodựa trêntinh thầntự lực, tự cường, ý thức tự nguyện, tự giác, không phải cầu xin hay cầu nguyện mà có được. Đó là nền đạo đứcdựa trên hành động thiết thực, không phải trên lý thuyết, dựa trênthân khẩu ýthanh tịnh, dựa trên nguyên lý Duyên sinh, Vô ngã. Ngoài ra, đấy còn là nền đạo đứctích cực, không phụ thuộcthần thánh, hướng nội và bình đẳng, giải thoát, nhập thế. Qua những đặc điểm này, chúng ta có thể nhận địnhđạo đứcđồng nghĩa vớihạnh phúchạnh phúcđồng nghĩa vớigiải thoát. Đạo đứcPhật giáo vượt lên trên các hệ tư tưởng, không những xây dựng nên một con ngườiđức hạnh trong xã hội mà còn là nấc thang đưa hành giảtu tập tiến gần đến cảnh cửa Niết Bàn an vui.

NGŨ GIỚI – NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI XUẤT GIATẠI GIA 

Khái niệm Ngũ giới

Sila là chữ Pàli, được phiên âm là Thi-la, dịch nghĩa là Giới. Như vậy, Giới là những điều răn cấm do Đức Phật chế định cho hàng đệ tửxuất giatại gia dùng để ngăn ngừatội lỗi của tam nghiệp. Do vậy, Giới được định nghĩa là phòng phi chỉ ác, biệt biệt giải thoát, xứ xứ giải thoát, tùy thuận giải thoát, thanh lương, chế ngự [9]. Giới là những điều răn cấm, không nên phạm [10]. Giới bao gồmgiới tự nhiên và giới xã hội. Giới tự nhiên nghĩa là các quy luậttự nhiêntrong đời sống người xuất gia như làm thiện, lánh ác, giữ gìnthân khẩu ý,… mà không bó buộc. Giới xã hộigiới luật mang tính tập thể, mang tính xã hội.

Ngũ giới là năm điều răn cấm của Đức Phật chế ra dành cho hàng xuất giatại gia. Ngũ giới gồm: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Theo S. Tachibana phát biểu: “Năm giới này được gọi là kho báu của đạo hạnh. Thực hànhtrọn vẹnnăm giới này được gọi là hoàn thiện về đạo đức” [11]. Ngũ giới là nền tảng cơ bản, là chuẩn mực đạo đức cho một con người có nhân cách và nhân phẩmtoàn diện. Trong Phật giáo, một đời sống đạo đứcmột đời sống hạnh phúc, Đức Phật luôn dạy các đệ tử phải tôn trọnggiữ gìngiới luật để đảm bảomột đời sống an lạc cho chính mình.

Theo Hòa thượng Thích Minh Châu: “Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúcan lạc cho mọi loài chúng sanh, đặc biệtloài ngườichúng ta (…). Và nếp sống ấy phải được đem ra hành trì, thực hiện, không phải để lễ báicầu xin. Có thực hiện, người hành trì mới hưởng được hạnh phúc, an lạc, thiết thựchiện tại và ngay trong đời này”. (Ảnh: sưu tầm)

Đầu tiên là giới khôngsát sanh: Không tự giết, không bảo người giết và không vui vẻ khi thấy người giết. Phàm là loài có tánh mạng không nên cố giết nhằm nêu cao đức hiếu sinh. Ngoài ra, không sát sanhđồng nghĩa với việc bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống. Thay vào đó, luôn nuôi dưỡnglòng từ bi, con người sẽ không còn lòng thù hận, không còn chiến tranh. Từ đó, con người đến với nhau bằng lòng yêu thươngtôn trọng lẫn nhau: “Này các Tỳ kheo! Nếu có người ý thích sát sanh liền đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; nếu sanh trong loài Ngườithọ mạng rất ngắn. Vì sao thế? Vì đoạn dứt mạng kẻ khác vậy. Thế nên, hãy học chớ sát sanh. Như thế, các Tỳ kheo, hãy học điều này!” [12].

Giới thứ hai là không trộm cắp: Của người không cho thì không được lấy để tạo sự công bằng cho xã hội. Tôn trọngtài sản người khác, sống theo lương tâmlẽ phải. Một khi lòng tham con người nổi lên, chỉ muốn lấy công sức và đồ vật người khác làm ra để hưởng thụ mà quên đi những nỗi lo và đau khổ của kẻ bị mất tài sản. Đây cũng gọi là hành động trái pháp luật, không có nhân đạo. Bên cạnh hành vitrộm cắp, những hành vi tham nhũng, trốn thuế, buôn lậu, mua bán chiếm đoạt và kiếm lời một cách bất chính… thậm chí khai thác tài nguyên bừa bãi cũng xem là trộm cắp.

Giới thứ ba làtà dâm: Giới này được Phật chế nhằm bảo vệhạnh phúcgia đình của chính chúng tatôn trọnghạnh phúc kẻ khác. Bởi lẽ, sự thiếu chung thủy là nguyên nhâncăn bảnnhất dẫn đến ngoại tình, quan hệ bừa bãi và đưa đến đổ vỡ gia đình. Đây cũng chính là lý dopháp luật về luật hôn nhângia đình của Nhà nước chỉ cho phép mối quan hệ một vợ một chồng và cổ vũ yêu thương chung thủy với nhau. Đối với người tại gia thì không được tà dâm nhưng với người xuất gia thì tuyệt đối không được dâm dục, vì nó là nguyên nhân của đầu mối sinh tử, người xuất gia phải đoạn trừ hẳn.

Giới thứ tư là không nói dối: Chúng ta phải tôn trọngsự thật và giữ lòng thành tín với mọi người, gồm cả việc không được nói lời thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều hay nói lời hung ác. Lời nói dối luôn đi với tâm niệm ác, đánh lừa người khác, ngụy biện hầu thu lợi về cho bản thân và gây đau khổ cho kẻ khác. Như trong Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala, Đức Phật đã dạy La-hầu-la hiểu nói dối rất nguy hại vì khi ý thức không biết xấu hổ, các việc ác đều làm ví như con voi xông trận không biết bảo vệ cái vòi của mình thì chắc chắn nó không sợ gì nữa [13]. Vì vậychúng ta phải luôn nói lời chân thật, mỗi lời nói thốt ra đều đem đến lợi ích và an vui cho mọi người.

Cuối cùng là giới không uống rượu (các chất kích thích gây nghiện): Rượu cũng là một trong số nguyên nhân sanh ra các tội lỗi nguy hại, tâm trí mê mờ và là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, đổ vỡ hạnh phúcgia đình. Không uống rượu sẽ giữ được sức khỏe tốt và tâm trísáng suốt. Không chỉ rượu mà còn không được tiêu thụ các sản phẩm ma túy, phim ảnh, sách báo đồi trụy vì chúng là những độc tố nguy hại [14].

Năm giới chính là năm nền tảng đạo đức cơ bản mà Đức Phật đã đặt ra cho các hàng tạo gia lẫn xuất giathực hành, nhằm đem lại hạnh phúc tự thân và an vui cho kẻ khác, ngay đời hiện tại lẫn tương lai. “Khi một người giữ gìnnăm giới này được thanh tịnh thì tâm người ấy được an ổn, tự tại vì biết rằng mình đang trú trong đạo đức, nghĩa là đang ở xa vực thẳmphi đạo đức. Từ sự an ổn đó người ta sẽ cảm nhận được hạnh phúcan lạc ngay trong hiện tại chính trong cuộc sống của mình ngay tại đây” [15]. Giá trị này đã cân bằng tâm sinh lýcon người hài hòa với cuộc sống thời đại mà không mất đi chất truyền thống. Đây cũng chính là thước đo hệ quả tinh thần, là phương thuốc hữu hiệu và điều kiện thiết yếu làm nên một con người đúng nghĩa.

Nền tảng đạo đức của con ngườixã hội

Có thể thấy, tầm quan trọng của việc thực hành năm điều răn dạy cơ bản của đạo đức làm người là chuẩn mực mang lại giá trịthiết thực cho toàn nhân loại, được các nhà triết học, xã hội học trên thế giớicông nhậnbiểu dương. Nếu thế giới, quốc gia hay xã hội nào cũng thực hiện nghiêm túc năm giới này thì “không ai chối cãi rằng cõi đời sẽ là một đất sống nhiều hạnh phúcan lạc hơn” [16].

Thực tếnăm giới này được Đức Phật chế ra nhằm ngăn chặn những tật xấu. Chỉ khi nào, chúng ta biết quý trọng sinh mạng mình thì cũng phải tôn trọng sinh mhạng người, bản thânchúng ta được an ổnsinh mệnh các loài được bảo toàn, các giống động vật quý hiếm cũng tránh khỏi thảm họa diệt vong. Chúng ta yêu quý tài sản mình thì phải tôn trọngtài sản người khác, muốn gia đình hạnh phúc thì phải tôn trọnghạnh phúcgia đình người khác. Không muốn ai lừa đảo chiếm đoạt của mình thì mình phải là người luôn tôn trọngsự thật. Muốn được thông minhsáng suốt thì không gì hơn là từ bỏ việc uống rượu cũng như các chất kích thích vì chúng là những sản phẩm có độc tố nguy hại. Đó chính là lẽ sống của nhân loại mà không ai có thể chối bỏ được.

Người làm cha làm mẹ khi giữ được năm điều răn cấm này sẽ là gương sáng cho con cái noi theo. Sự giáo dục con cái có được kết quả tốt là do tư cách, hành động của cha mẹ. Cha mẹhy sinh cho con cái nên phải hạn chế những vui thích riêng tư có ảnh hưởng không tốt cho hạnh phúcgia đình. Từ đó, con cái thương yêu, hiếu thuậnhết lòng phụng dưỡng cha mẹ khi già yếu. Vì thế khi muốn dạy con trẻ, chính người lớn phải là tấm gương đạo đức tạo nên truyền thốngtốt đẹp cần duy trì, phát triển và kế thừa.

Trường học cũng là một yếu tố quan trọng góp phần vào công cuộc đào tạođạo đức cho học sinh sinh viên. Chẳng những truyền trao những kiến thức nền tảng về cách “đối nhân xử thế” và thực hành ngay trong thực tế thông qua các buổi văn nghệ, diễn tập… Cho nên, trường học cũng là nền tảng cốt tủy, từ đó đào tạo nên những thế hệ sau trở thành người đạo đức trong xã hội, giúp ích cho bản thâncộng đồng.

Tinh thầngiữ gìnngũ giớibước đầu trong đạo đức học Phật giáo. Người có đạo đức, sống giữ giới thì mọi người đều yêu thương, tôn trọng và kính nể. Không chỉ có uy tín trong cộng đồng, tiếng tốt đồn xa, người sống có giới đức luôn thanh thản, tự tin với chính mình và mọi người. Con người biết tôn trọnggiới luật là biết tôn trọngluật pháp Nhà nước, điều kiện tiên quyết của một con người trong xã hội.

Sự quan trọng của giới đối với người xuất giatại gia

Năm giớicăn bảnđạo đức, là bậc thang đầu tiên bước vào Thánh đạo, đoạn trừ các tâm bất thiện và giúp các pháp lành tăng trưởng. Giới luậtthọ mạng của Phật pháp, nếu hành giả nào nghiêm trì giới luật nghiêm mật sẽ đạt được nhiều lợi ích không thể nghĩ bàn, có được cuộc sống an lạcthanh tịnh, tiến đến lộ trình giải thoát. “Tỳ kheo các ông! Sau khi ta nhập diệt, phải tôn trọng quý kính Ba la đề mộc xoa (giới luật), như đêm tối gặp ánh sáng, như người nghèo gặp của báu. Phải biết pháp nầy là Thầy của các ông, dù ta có trụ ở đời cũng không khác pháp này vậy” [17]. Đây chính những lời dạy của Đức Thế Tôn trước khi nhập diệt, xem giới luật như vị thầy hướng dẫn tu tậptìm racon đường đến bến bờ giác ngộ, chỉ cho chúng tacon đường nào nên đi và con đường nào phải tránh xa vì chúng chỉ đưa đến tội lỗi, tổn hại rừng công đức. Là người đệ tử Phật phải thành tâmgiữ gìnnăm giới, đó chính là sự cúng dường cao quý vì giới luật giúp chúng tatrở thành người có đức hạnhgương mẫu [18].

Muốn xây dựngcon ngườixã hộiđạo đức qua việc thọ trìnăm giới thì trước tiên phải có những bậc mô phạm, sống đúng pháp và hành trìgiới luật tinh nghiêm theo lời Đức Phật dạy. Hình ảnh bậc tu sĩđạo hạnh chính là bài pháp sống cho hàng tại gia noi theo và thực hành theo những giới đã lãnh thọ, vì đây chính là đời sốngphạm hạnh. Hạnh phúc của người xuất gia là loại hạnh phúcchân thật, thanh tịnh không còn những ô nhiễm của thế gian, giác ngộgiải thoát. Muốn được như vậy, hành giả phải tu Giới, Định, Tuệ vì đó là con đường đưa đến vô sinh, làm lợi ích cho mình và người.

Người tại gia thọ tam quytiếp theonăm giới vì đây chính là giềng mối đưa đến hạnh phúcgia đình, trật tự và hòa bình cho cộng đồngxã hội [19]. Họ sẽ không hề phân vân, hổ thẹnsợ hãi khi gặp gỡ bà con, bạn bè hay đi vào những chốn đông người. Quan trọng hơn khi lâm chung sẽ ra đi trong tỉnh giác, không mê loạn, không hối hậnăn năn những việc ác đã tạo ra trong đời nên dễ tái sinh vào cõi lành. Người tại gia khi đã thọ trì giới điều này phải cố gắnghành trì: “Kết quả của năm giớicông năng của một cuộc sống đúng giới luật của hàng cư sĩ, đệ tửtại gia của Đức Phật” [20]. Công đức của việc trì giới rất lớn, nâng cao phẩm giá con người và tiến đến con đường cao thượng.

ỨNG DỤNGĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO QUA NGŨ GIỚI

Xây dựngđời sốngđạo đức cho con ngườixã hội

Đạo đức học Phật giáo có khả năng đóng góp, tạo dựng đời sốngtốt đẹp cho xã hộiđáp ứng nguyện vọng con người. Xây dựng một xã hộinhân bản, con người được tôn trọng, bình đẳng và hưởng những quyền lợicăn bản. Giữ năm giới sẽ tạo nên một xã hộivăn minh, biết coi trọng, phát huy mọi giá trịvăn hóa của dân tộc và thế giới, bảo vệ môi trường sống. Các tệ nạn như: giết người, trộm cắp, tham những, buôn lậu… được giảm bớt và đoạn trừ.

Nhờ thực hành giữ năm điều răn dạy của Đức Phật, chúng ta sẽ không còn lo lắngbất an về việc bảo toàn sinh mệnh, về chiến tranh hay lo sợ mất tài sản, gia đình ấm êm bởi không còn những việc đi ngược đạo đức. Nguồn gốc sâu xa của những tệ nạn xã hội xảy ra khắp nơi là do chính con người đã đánh mất đi tam quý, không còn hổ thẹn với những hành visai trái của chính mình [21]. Học giả người Đức Max Miller đã viết: “Đức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọngthấp hèn. Luân lý, đạo đứccăn bản của Đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giớichưa bao giờ biết đến” [22].

Dù là Phật tử hay không phải Phật tử, chúng tavẫn có thể thực hành theo năm giới hay cũng chính là năm tiêu chuẩnluân lýđạo đức để có được cuộc sống tốt đẹp hơn, nuôi dạy con cái tốt hơn. Nắm giữ ngũ giới chính là nắm chìa khóa mở toang cánh cửa hạnh phúc, đưa chính mình hướng đến chân thiện mỹ và sống một cuộc đời tràn đầy ý nghĩa.

Giá trịthiết thực của năm giới trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay

Trong thời buổi hiện đại hóa, mức sống con người ngày càng được nâng cao nên những điều mới lạ, không tốt cho đạo đức giới trẻ cũng xuất hiện rất nhiều. Từ phim, ảnh đồi trụy đến những cách thức tàn sát sinh vật độc ác, tuyên truyền những hành vi đi ngược lại thuần phong, mỹ tục, thậm chí phản tiến bộ, đều tiềm ẩn những nguy cơ cho người trẻ. Khi giữ ngũ giới, chúng ta sẽ không giết hại vì tôn trọng mạng sống muôn loài, ý thức được khổ đau do giết hại gây ra. Do vậy, người giữ năm giới sẽ luôn sống an ổn, khỏe mạnh và không bị ai thù oán hay giết hại. Cũng từ đó, môi sinh được giữ gìn, xã hộiquốc gia, thế giới được an lành. Vì theo góc độ nhà Phật, không có loài nào chẳng tham luyến sự sinh tồn bởi niềm vui tương đối của chúng đều lấy sự sinh tồn làm điều kiện tiên quyết [23]. Khi chúng takhởi tâm giết hại, bất chợt trong đầu nhớ nghĩ đến việc phạm tộiluật pháp của Nhà nước, chỉ vì chút nông nổi mà sẽ phải chịu cảnh tù đày, thậm chí không còn cơ hội làm người thì sẽ không dám sai phạm nữa.

Của cảivật chất là ngoại mạng của con người, khi đương sự bị trộm cướp sẽ cảm thấyđiêu đứng, khổ não và thậm chí có những suy nghĩtiêu cựcmang đến những hệ lụy đáng tiếc xảy ra. Khi giữ được tâm không tham, không lấy vật của người thì chúng ta sẽ được bình an, tạo niềm tin cho chính mình, cho gia đìnhxã hội khiến nhân cách ngày một thăng hoa, luôn được sự tín nhiệm của mọi người và có công ăn việc làm ổn định. Không có tâm tham thì của người không sanh tâm, của mình không bị lấy, không còn lo âusợ hãi, tránh được sự nghi ngờ của người khác.

Khi tuân thủ giới tà dâm, gia đình sẽ hạnh phúc, không có những chuyện cãi vã, ghen tuông hay oán ghét thù hận. Vì khi không chung thủy, đời sốnghôn nhânlục đục, những cuộc cãi nhau hay ly dị làm ảnh hưởng đến con cái. Tình trạng đổ vỡ hạnh phúc lại phát sinh việc tìm kiếm những mối quan hệ mập mờ, không an toàn. Khi giữ được giới này, cuộc sống sẽ ngày càng ổn định, vợ chồng hòa hợp, yêu thương và nuôi dạy con cái chu toàn, làm tấm gương tốt cho thế hệ sau duy trìtruyền thốngđạo đứctốt đẹp đó. Đây cũng chính là bảo vệdanh dự, phẩm cách trên tinh thầnthuần phong mỹ tục của đạo đức dân tộc. Qua đó không bị lãng phí tuổi đời vào những cuộc vuiđam mê nguy hại, đánh mất tương lai và hạnh phúcgia đình.

Nói lời không thậtnguyên nhân của mọi rối rắm, bất an trong cuộc sống. Bởi chúng chia rẽ, làm đau khổ cho người và tự hạ thấp giá trị của chính bản thân. Nhất là thời buổi công nghệ thông tin, nếu chúng ta đưa những thông tin sai sự thật, gây hoang mang quần chúng cũng là điều phi đạo đức. Đạo đứcPhật giáo hay cũng chính là ngũ giới về việc phải nói lời chân thậtlời nóichân thành, nhã nhặn, đem niềm tin đến cho mọi người khiến con ngườiđến gần nhau hơn. Có niềm tin, có hy vọng và có chân thật thì sẽ được tín dụng, thành công trong mọi lĩnh vực. Nhất là trong việc làm ăn kinh doanh, tinh thầnhợp tác đầu tư chân thật sẽ mang đến những đối tác chân thật, sự nghiệpvững bền, phát đạt.

Trí tuệ là điểm quan trọng, nếu người không trí tuệ thì mọi sự ngưng trệ và đi sai lệch, còn với người có trí tuệ thì mọi sự hanh thông và đưa đến những thành côngrạng rỡ, như trong ngạn ngữ Nga có câu: “Người thông minh thì không làm việc gì mà không suy nghĩ” hoặc Benjamin Franklin từng nói: “Cánh cửa của trí tuệ không bao giờ đóng lại”. Kinh Pháp Cú số 279 cũng có dạy các pháp đều vô ngã, khi đem trí tuệsoi xét được như thế thì sẽ nhàm lìa thống khổ, đó là đạo thanh tịnh [24].

KẾT LUẬN

Tóm lại, trong cuộc sống tương thuộc này, nếu chúng ta biết sống vì mọi người, giữ vững đạo đức hay thọ trìngũ giới một cách nghiêm túc và xem đó là hàng rào vững chắc không để vi phạm thì xã hội luôn tốt đẹp, thế giới hòa bình. Đây chính là cuộc sống đạo đức cao quý, đem tình thương yêu đi vàocuộc đời và sống trọn vẹn trong từng phút giây. Chúng ta hãy tận dụng thời đạicông nghiệp hóa, hiện đại hóa để nâng cao sự hiểu biết, tiết kiệmthời giannâng caođời sống, đừng vì những thú vui và lối sống lai căng mà đánh mất đi những giá trịđạo đứctốt đẹp vốn có. Ở bối cảnh hiện đại, đời sống vật chấttiến bộ hơn ngày xưa rất nhiều, Ngũ giới trong Phật giáo được xem là linh dượctinh thần giúp thiết lập một nếp sốngquân bình và an vui cho con người trước những giông tố thời đại. Giữ được năm điều răn dạy ấy, mỗi chúng ta sẽ luôn hạnh phúc, gia đình ấm êm, xã hộithái bình và đất nước văn minh.

Toàn bộgiáo lýPhật giáo hầu như đều liên hệ đến đạo đức (hạnh phúc): “Chư Tỳ kheo, xưa và nay ta chỉ nói lên sự khổ và con đường diệt khổ… Đức Phật ra đời là vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người” [25]. Người thế tục nhờ tu dưỡngđạo đứchoàn thiện, Ngài tu tập đạo đứctrở thành bậc đại giác ngộ, đem những lời dạy thiết thực vào đời cứu giúp chúng sanh được an vui và tìm lại bản tâm sau bao ngày lầm đường lạc lối. Đạo đức học Phật giáo qua Ngũ giới là thước đo tiêu chuẩn về đức hạnhcon người, sự tiến bộtâm linh của hành giảtu tậpgiải thoát. Đó là tiếng chuôngthức tỉnhcon ngườitrở về tìm lại bản tâmthanh tịnh vốn có của chính mình, xây dựng nền đạo đức chung cho toàn nhân loại.

“Hương các loài hoa thơm 

Không thể bay ngược gió

 Hương của người đức hạnh

Ngược gió khắp tung bay”.

 

 

Chú thích:

* SC. Thích NữHuệ Nhật, Thạc sĩPhật học (Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh).

[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/Đạo_đức_học.

[2] Việt Tân và nhóm cộng tác (2013), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.200.

[3] Theo The Department of Buddhist Affairs (2000), Ministry of Buddhasasana, Encyclopedia of Buddhism, Vol. V, Tharanjee Prints, New Delhi, India, p. 144.

[4] Will Durant, Bửu Đính dịch (2014), Câu chuyệntriết học, Công ty sách Thời Đại và Nxb. Hồng Đức, tr.14.

[5] Xem Vũ Tình (1998), Đạo đức học phương Đông cổ đại, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[6] Thích Minh Châu dịch (2013), Trường Bộ Kinh, Tập I, Kinh Chủng Đức, Nxb. Tôn giáo, tr.120.

[7] Thích Minh Châu (2002), Đạo đứcPhật giáo & hạnh phúccon người, Nxb. Tôn giáo, tr.8.

[8] Nhiều tác giả (1995), Đạo đức học Phật giáo, Viện Nghiên cứuPhật họcViệt Nam, tr.19.

[9] Thích Phước Sơn (2010), Một số vấn đềGiới luật, Nxb. Phương Đông, tr.11.

[10] Thích Hành Trụ dịch (1964), Sa DiLuận Giải Thượng-Hạ, Nhà in Sen Vàng, tr.6.

[11] Theo S. Tachibana (2013), The Ethics of Buddhism, Cosmo Publications, New Delhi, India, P. 65.

[12] Thích Thanh Từ (dịch, 2005), Kinh Tăng Nhất A-Hàm, Tập I, Phẩm Ngũ Giới, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.184.

[13] Thích Minh Châu (1998), Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, Viện Nghiên cứuPhật họcViệt Nam, tr.57.

[14] Thích Phước Sơn (2010), Một số vấn đềGiới luật, Nxb. Phương Đông, tr.26.

[15] Thích Viên Trí (2019), Ý nghĩagiới luật, Nxb. Hồng Đức, tr.108.

[16] Khantipàlo, Thích Chơn Thiện dịch, Tìm hiểuđạo Phật (Buddhism explained), Viện Nghiên cứuPhật họcViệt Nam, tr.148.

[17] Thích Trí Quang (2010), Tổng tập Giới phápxuất gia (tập 1 & 2), Nxb. Văn hóa Sài Gòn, tr.27-28.

[18] Thích Thiện Siêu (2002), Cương yếuGiới luật, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.227.

[19] Thích Thiện Hoa (2013), Bổn phận người Phật tửtại gia, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr.73.

[20] Thích Viên Trí (2019), Ý nghĩagiới luật, Nxb. Hồng Đức, tr.116.

[21] Thích Hạnh Bình (2008), Y pháp bất y nhân, Nxb. Phương Đông, tr.202.

[22] https://phatgiaothanhhoa.com/cac-nha-khoa-hoc-noi-gi-ve-duc-phat.html (truy cập 17/11/2020).

[23] Đại sưẤn Thuận, Mạt Nhân Đạo Quang dịch (2009), Quan niệm của Phật giáo đối với các vấn đềxã hộiquan tâm, Nxb. Phương Đông, tr.157.

[24] Ban Giáo dụcTăng Ni Trung ương (2017), Giáo trình Trung cấp Phật họcKinh Pháp Cú, Nxb. Phương Đông, tr.266.

[25] Thích Minh Châu (2002), Đạo đứcPhật giáo & Hạnh phúccon người, Nxb. Tôn giáo, tr.7-8.
(Trích từ Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 400)

Bài đọc thêm:
Đạo Đức Phật Giáo (Thích Phước Sơn)
Đạo Đức Phật Giáo  Hạnh Phúc Con Người (Thích Minh Châu)
Giới thiệu sách: dẫn luận về đạo đức Phật giáo