Của Để Dành

0
135

CỦA ĐỂ DÀNH
Thích Phước Đạt

usdollarsusdollarsKhát vọng lớn nhất của con người là được sống hạnh phúcbình an. Cho nên, trong đời sống bình nhật, ai cũng muốn tạo dựng cho mình một sự nghiệp hay ít ra một công ăn việc làm ổn định hữu ích cho chính mình, cho mọi người. Từ đó, tự thân mong sao có một chút của cảiđể dành, để thiết lập một trật tựđời sốngan bình nội tại.

Phật giáo không phủ nhận niềm khát vọng đời thường đó trong cuộc sống hằng biến đổi. Tuy nhiên, của để dành ấy, Phật giáoquan niệm rằng tài sản ấy chỉ là phương tiệndự phần vào đời
sống
an lạc chứ không phải là mục đíchtối hậu, là chân giá trịhạnh phúc ở đời. Chính Đức Phật từng khuyến cáo pháp hữu vi vốn bị chi phối bởi luật vô thường, sự thật chúng vốn vô ngã: “Cái này không phải là của ta, là ta, là tự ngã của ta”.
Xem ra, tất cả tài sản mà tự thân tích lũy được dù giàu có đến mức độ nào cũng không đưa đến một đời sống hạnh phúcchân thật được. Vậy tài sản nào mà chuỏng ta cần tích lũy cần giữ gìn như là “của để dành” để sống, để hát ca với đời?

Câu chuyện về Ugga, vị đại thần của Passenadi, nước Kosala (*)
là một câu trả lời. Chính vị đại thần này đã tán thán về sự giàu
vô tận của đại phú gia Migàra Rohaneyyo với niềm phúc lạc vô biêntrước mặtThế Tôn, vị thầy cao quý của mình: “Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn, giàu có đến như vậy, đại phúc đến như vậy, tài sản nhiều đến như vậy, bạch Thế Tôn, là Migàra Rohaneyyo”.

Thế Tôn ôn tồn hỏi:

– Này Ugga, Migàra Rohaneyyo giàu có đến mức độ nào, đại phú đến mức độ nào, tài sản nhiều đến mức độ nào?

– Bạch Thế Tôn, về vàng có đến trăm ngàn, còn nói chi về bạc!

– Này Ugga, đây có thể là tài sản chăng? Không phải ta nói rằng đây là tài sản. Nhưng tài sản ấy bị chi phối (sàdharanam) bởi nước, lửa, vua chúa, ăn trộm, các kẻ thừa tự thù địch. Bảy tài sản này, Ugga không bị bởi nước, lửa, vua chúa, ăn trộm, các kẻ thừa tự thù địchchi phối. Thế nào là bảy? Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Bảy loại tài sản này, này các Tỷ kheo, không bị lửa, vua chúa, ăn trộm, các kẻ thừa tự thù địchchi phối.

Rồi Thế Tôntán tháncông hạnhthành tựu bảy tài sản cao quý mệnh danh “Thất Thánh tài”:

“Tín tài và giới tài
Tàm tài và quý tài
Văn tàithí tài
Tuệ tài là thứ bảy
Ai có tài sản này
Nữ nhân hay nam nhân
Người ấy là đại phú
Thiên nhân giới khó thắng
Do vậy tín và giới
Tịnh tín và thấy pháp
Bậc trí chuyên chú tâm
Ức niệm lời Phật dạy”.

 

Rõ ràng, Đức Phật đã xác lập để trở thành người đại phú, thiên
nhân
giới khó thắng, là người biết thực thi và thạnh tựu Thất Thánh tài, người đó cũng khéo biết nắm giữ bảy pháp tài sản quý giá do thực hành pháp đem lại. Đó chính là “của để dành”, là chân giá trị không có bất cứ công ước gì chi phối cả. Nó quyết định cho đời sốnghạnh phúc thật sự. Hay nói khác đi, đó là con đường tự thân tu tập, tự thân hành trì, tự thân chứng ngộ khởi đầu bằng sự
thành tựu về lòng tịnh tín đối với Như Laikết thúc cuộc hành
trình
thể nhập các pháp, đoạn tận khổ đau. Cụ thể hóa về Thất
Thánh tài
ấy như sau:

1. Tín tài:“Ở đây, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tửlòng tin, tin tưởng bậc giác ngộ của Như Lai: “Đây
Thế Tôn, bậc A la hánPhật Thế Tôn. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Tín tài”.

Tài sản đầu tiên mà người thực tậpđời sốnghạnh phúcan lạccần phảiđạt được, đó là lòng tịnh tín đối với Như Lai, Như Lai là bậc Chánh đẳng giác, giác ngộhoàn toàn. Ngài là người hiện thân ở giữa cõi đời này nhờ công phutu tập tự thân sau 6 năm khổ hạnhtư duythiền định với nỗ lựcphi thường trong rừng già. Ngài đã
trở thành vị chứng ngộ với tuệ giácvô thượng. Cũng vậy, bất cứ chúng sinh nào tự mình suy tư với pháp, thực hành theo pháp Như Lai từng chứng ngộ thì nhất địnhgiải thoát khổ đau, chứng đạt Niết bàn. Đây là niềm tintối thượng làm tiền đề để thể nhậpthành tựuGiới tài.

2. Giới tài:“Ở đây, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tửtừ bỏsát sinhtừ bỏ đắm say men rượu nấu. Này các
Tỷ kheo, đây gọi là Giới tài”.

Đây chính là tài sản cao quý thứ hai mà người đệ tử Phật đạt được để an trú trong giới. Mỗi bước đi của giới lạ mỗi bước đi ra khỏi vùng tâm lýtham sân sithường xuyên vây bủa tâm thứccon người. Giới có công năngthiêu hủytác nhânphiền não để thắp sáng tuệ giácvô thượng. Hay nói khác, đời sốngđạo đức của tự thân sẽ được biểu lộ ra bằng các hành viđạo đức của thân, lời nóiái ngữdịu dàng bằng thái độtôn trọngsự thật phát xuất từ mong ước của miệng, cuối cùng là luôn có ý nghĩtốt đẹp hướng thiện được xuất phát từ một tâm thứcgạn lọc. Nói chung, giới đi vàonếp sốngan bình nội tại, thể hiện trên cuộc sống bình nhật với kết quả hữu hiệu lợi mình lợi người lợi cả hai.

3. Tàm tài:“Ở đây, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tửxấu hổ, xấu hổ đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý
nghĩ
ác, xấu hổ vì đã thành tựu các pháp ác bất thiện. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Tàm tài”.

Sự thành tựu về giới là sự thành tựu về công đức về thân tâm. Tại đây, tâm được tẩy rửa các uế trược, ý thức, tự điều chỉnhthân tâmthường xuyên có mặt sẽ dự phần làm nên sự thanh tịnhhoàn toàn. Biết xấu hổ, hổ thẹn những kết quả thành tựu về pháp bất thiện đã đi qua là điều tất yếu. Đây là một thái độ sống tự đánh giá lại chính mình, biết nhìn lại chính mình để đoạn tận và viễn ly hẳn các tác nhân gây rối loạntâm thức có chiều hướng xảy ra. Tài sản quý giá này thành tựu sẽ là cơ sở thực thi gia tàitiếp theo là Quý tài.

4. Quý tài:“Ở đây, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tửsợ hãi, sợ hãi đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý
nghĩ
ác, sợ hãithành tựu các pháp ác bất thiện. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Quý tài”.

Hổ thẹn để đi đến sợ hãi về các pháp bất thiện do thân khẩu ý gây ra là quy luật tất nhiên trong cuộc hành trình thực thi thành
tựu giới uẩn. Tại đây, sự thăng tiến thành tựu các pháp thiện chưa sanh làm cho sanh, các pháp thiện đã sanh làm cho thăng hoa hơn nữa. Nhờ đó, người thực tậpđời sốngan lạc có một tâm lýnhàm chán,
yểm ly, sợ hãi các pháp bất thiện được điều động từ thân khẩu ý.
Kết quả là hạt giốngan lành được đâm chồi nẩy lộc ngay trong đời sống hiện tại.

5. Văn tài: “Ở đây, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tử
nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, những pháp ấy Sơ thiện, Trung thiện, Hậu thiện nghĩa văn đầy đủ, đề cao đời sốngphạm hạnhhoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quan sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Văn tài”.

 

Nghe pháp, suy tư về pháp để rồi hành pháp, an trú trong pháp là tài sản cao quý do sự tích lũy từ Văn tài. Tại đây, tuệ giác được khai mở nhờ chánh kiếnthành tựu luôn luôn soi rọi tâm thức.
Từ đó, giai trình Văn – Tư – Tu thường xuyênvận hành để lạm hóa hiện tất cả những công đức có được trong đời sống. Dĩ nhiên, một tâm thứcthanh tịnh sâu lắng, một tuệ giác hằng chiếu tạo nên một đời
sống ẩn chứa đầy chất liệu an bình nội tại.

6. Thí tài: “Ở đây, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tử
với tâm từ bỏ cấu uế của xan tham, sống tại gia phóng xả (muttacàgo), với bàn tay rộng mở (payatapãnị) ưa thích xả bỏ, sẵn
sàng để được yêu cầu, ưa thích san sẻ vật bố thí. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Thí tài”
.

Thành tựu pháp này là thành tựu công đứcvô giá mà người đệ tử
cần thực thi. Thông thường, con người thường ưa nắm giữ tất cả những gì mình có hoặc chưa có. Đây là tâm lý thường tình do hạt giốngxan thamthường hay nẩy mầm sản sinh trong tâm thức mình. Ngược lại, người bước vào đời sốngan trú trong chánh pháp, tâm lý thường ưa xả ly, mở rộng vòng tay nối kết để sẻ chia sự ngọt ngào
êm dịu cho mọi người mà chính mình đạt được.

7. Tuệ tài: “Ở đây, này các Tỷ kheo, Thánh đệ tử
trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, thành tựuThánh đạo, thể nhập đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này các Tỷ kheo, đây gọi là Tuệ tài”.

 

Tuệ giác hiện khởi sẽ thấy rõ sự thật các pháp từ trong thực tánh Duyên khởi, thể nhậpNiết bàn từ trong cõi mộng của đời. Đó là mục đíchtối hậu của người hành trìchánh pháp. Khổ đau sẽ vắng mặt, thay vào đó hạnh phúcan lạchoàn toàn. Đây chính là tài sảnĐức Như Lai đã đạt được cũng như cho những ai biết thiết lậpmột đời sống hạnh phúcan lạc ngay giữa cõi đời này.

* * *

Trên đây là bảy món tài sản cao quý mà Đức Phật đã dạy, đã trao cho đại thần Ugga nước Kosala. Thực chất là Ngài muốn trao tặng cho những ai biết hướng đến đời sốnghướng thượng. Đây chính là “của để dành” thiết thực nhất, nó có giá trịmiên viễn không bị chi phối bất cứ định luật gì cả giữa cuộc đời này. Vấn đề còn lại của
chúng ta trong thời đại này là con người hiện nay đang bị bao vây bởi mọi sự cám dỗvật chất bắt nguồn từ sự thành tựu khoa học
kỹ thuật và một tâm lýthường xuyên ưa nắm giữ của cải. Người ta
cứ ngỡ càng tích lũytài sảnvật chất bao nhiêu là càng có của để dạnh bấy nhiêu, ngõ hầu chúng có thể góp phần kiến tạođời sốnghạnh phúc cho chính mình. Thật ra “của để dành” cần phảitích lũy, cần thiết lập là bảy món tài sản cao quý mà Đức Phật đã tận tay, tận lòng trao cho chúng ta cách đây 2500 năm về trước để giải thoát khổ đau. Trân trọngthừa kế bảy tài sản cao quý mệnh danh là Thất Thánh tài này chính là người thừa tự Pháp, thừa
tự công hạnh của Như Lai xưa cũng như nay, thế thôi.

(*) Tham khảo Kinh Tăng Chi tập II – phẩm Tài sản, trang 440. Trường Cao cấp Phật họcViệt Namấn hành 1988. Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.