Cloning Và Phật Giáo

0
276

Nếu
Phật đã dạy rằng, vạn vật từ Không mà có, vậy
thì
tại sao linh hồn sau khi chết lại không trở về Không,
mà phải đi lang thang từ kiếp này sang kiếp khác? Và
Nếu con ngườilinh hồn, thì Phật pháp làm sao để giải
thích
vấn đề cloning, lấy cell của một người để tạo
nên một người mới, con người mới này có xài chung một
linh hồn với người donor hay không?



TRẢ
LỜI
:

Kính
thưa quý vị,

Nếu
nói rằng “vạn vật từ Không mà có” thì cũng
không
đúng với quan điểm của đạo Phậ
t. Nhà Phật nói rằng:
Vạn pháp trong thế giới hiện tượng tương đối này
đều do nhân duyên hòa hợpsanh khởi, cái này sanh thì
cái kia sanh. Vì duyên với nhau mà sanh, cho nên khi “cái này
diệt thì cái kia diệt”, không có tự thể độc lập của
riêng
nó, mà sanh diệt tùy thuộc lẫn nhau, chỉ huyễn hiện
liên tục, nên còn được phát biểu là : “Vạn pháp đương
thể tức không
, duyên hợp giả có”. “Có ”nhưng không
phải là “thật có”, mà chỉ là “huyễn hiện”, nên gọi
là “giả có”
.

Nhà
Phật quan niệm rằng mỗi dòng sinh mệnh đều từ Chân
Tâm
, vì một niệm vô minh bất giác khởi vọng mà lưu
xuất, vốn là Chân Tâm (tịnh) chuyển thành Vọng Thức (nhiễm),
— nói gọn là Tâm và Thức – bắt đầu dòng sinh tử, rồi
từ đó hành động tạo tác, gây nhân thọ quả thiện ác,
hình thành nghiệp lực, bị nghiệp lực chi phối, cuốn trôi
trong vòng luân hồi sinh tử. Tâm mênh mông bằng hư không thì
Thức cũng mênh mông bằng hư không. Có thể tạm dùng thí
dụ
cụ thể, dù không đúng hẳn nhưng sẽ giúp dễ hiểu,
là ví Tâm với biển cả, Thức với bụi bậm rác rưởi
lẫn trong nước biển. Biển rộng mênh mông tới đâu thì
rác rưởi cũng trôi nổi tới đó. Chân TâmBản Thể,
thuộc bình diện tạm gọi là tuyệt đối. Thức chỉ là
bình diện ô nhiễm của Tâm
, còn gọi là thức tâm sinh
diệt
, thuộc về thế giới hiện tượng tương đối, huyễn
hiện theo quy luật “duyên hợp giả có”, tính chất nó là
vô thường.

Nhà
Phật quan niệm rằng mỗi sinh vật đều do hai thành phần
tạo nên, đó là phần tâm thức và phần vật chất, tức
là cơ thể chúng sinh. Tâm và Vật duyên sanh trong đời sống.
Tâm có thể ví như làn sóng điện và vật chất, thí dụ
cơ thể con người, có thể ví như chiếc máy thu thanh.

Làn
sóng dàn trải trên không gian, máy thu thanh vặn đúng tần
số thì bắt được tín hiệu. Khi máy cũ, hư hỏng, không
còn sử dụng được nữa, thì mua máy mới, lại tiếp tục
vặn lên, bắt làn sóng điện, cũng giống như một sinh vật
chấm dứt sự sống thì Thần Thức sẽ lại nhập vào một
phôi thai khác để tiếp tục một đời sống mới, do nghiệp
lực
chi phối, tới tận khi nào tu hành cho tới cảnh mà đức
Phật
mô tả khi Ngài giác ngộ là:

“Xuyên
qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang
đi, đi mãi.


Như
Lai

mãi đi tìm mà không gặp, Như Lai đi tìm người thợ cất
cái nhà này.


Lặp
đi
lặp lại đời sống quả thậtphiền muộn.


Này
hỡi
người thợ làm nhà,


Như
Lai

đi tìm được ngươi.


Từ
đây
ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa.


Tất
cả
sườn nhà đều gãy,


Cây
đòn
dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.


Như
Lai

đã chứng nghiệm quả Vô Sanh Bất DiệtNhư Lai đã
tận diệt mọi Ái Dục”.

Cái
sườn của căn nhà tự tạo ấy là những ô nhiễm như tham,
sân, si, ngã mạn, tà kiến, những hành động bất thiện,
vân vân. Cây đòn dong chịu đựng cái sườn nhà là vô minh,
căn nguyên xuất phát mọi dục vọng. Giác ngộ là phá vỡ
được cây đòn dong vô minh bằng trí tuệ, là đã làm sập
được căn nhà.

Nếu
chưa giác ngộ mà vì một lý do nào đó, căn nhà đổ nát,
có nghĩa là phần vật chất, tức cơ thể của sinh vật chết
đi, Thần Thức sẽ bị cuốn hút bởi cận tử nghiệp,
là chập tư tưởng cuối cùng, hội nhập nhân duyên quan hệ
với cha mẹ tương lai mà đầu thai, bắt đầu một đời sống
mới. Như thế, vì chịu sự chi phối của nghiệp báo, cho
nên Thần Thức không thể tự do “trở về Không” được
.
Muốn “sinh tử tự tại” để có thể “tùy Nguyện mà
thọ sanh” như các vị bồ tát đầu thai vào cõi nhân gian
để hoàn thành nguyện ước cứu độ chúng sanh, thì bản
thân
con người phải tu hành cho tới “Tâm tịnh tội tiêu”.
Tội đây chính là những điều mình đã tạo tác trong quá
khứ
, chính là nghiệp báo vậy.

Đạo
Phật
không cho rằng “có một linh hồn trường tồn
bất biến đi trong cõi u minh hoặc đầu thai từ kiếp này
sang kiếp khác
”, mà chỉ có cái “Thần Thức”,
bị dòng nghiệp lực cuốn đi đầu thai vào cái lúc chấm
dứt
mỗi kiếp sống, hoặc sau khi chết một thời gian ngắn,
khi nghiệp và duyên hội đủ điều kiện để đầu thai
thôi.

Thưa
quý thính giả,

Câu
hỏi tiếp như sau:

Nếu
con ngườilinh hồn, thì Phật pháp làm sao để giải thích
vấn đề cloning, lấy cell của một người để tạo nên một
người mới, con người mới này có xài chung một linh hồn
với người donor hay không?

Kính
thưa quý vị,

Như
trên chúng tôi đã thưa rằng Phật giáo không chấp nhận
sự kiện “có một linh hồn trường tồn bất biến” mà
mỗi sinh vật đều đươc hình thành bởi hai nguyên tố
phần tâm thức và phần thể xác.

Giáo
của nhà Phật dạy rằng các loài sinh vật có tới 4 cách
sanh sản, đó là:

Thai
sanh
, là sanh sản bằng bào thai, như người và một số loài
vật



Noãn sanh, là sanh sản bằng trứng, như gà, vịt, chim, … vân
vân
.



Thấp sanh, là sanh sản bằng sự ẩm ướt, như các loại côn
trùng, mốc vân vân



Hóa sanh, như một số loài sâu, thí dụ con tằm hóa ra con
nhộng, rồi hóa ra con ngài mà bay đi, vân vân. . .

Tất
cả những loài này đều không có ai đem linh hồn phân phát
cho mầm sống, mà chính là Thần Thức đã hội nhập ngay
vào sinh vật để sử dụng cái cơ thể vật chất mới được
hình thành. Cơ thể vật chất đó sẽ là công cụ để phần
Thức sử dụng trong suốt cuộc đời, cho đến khi cái chết
xảy đến, thì Thức sẽ từ bỏ cái công cụ để — nay được gọi là Thần Thức — gá vào một phôi thai
nào đó vừa mới thành hình, tùy theo nghiệp lực của dòng
sinh tửnhân duyên từ quá khứ đối với cặp cha mẹ
đưa đẩy.

Giáo
nhà Phật không nói đến chuyện cloning
, vì vào thời
đức Phật còn tại thế thì chuyện này chưa xảy ra. Nhưng
chiếu theo pháp Tứ Yđức Phật đã dạy, có câu
“Y nghĩa, bất y ngữ”, chúng ta có thể nương
theo sự hiểu biết về Phật phápsuy luận. Như vậy, để
trả lời câu hỏi của vị thính giả này, chúng tôi có thể
thưa như sau:

– Theo quan điểm của nhà Phật thì cloning thuộc về nhóm “thấp
sanh
”, vì phôi thai không được hình thành qua sự gần
gũi của cha mẹ như là người bình thường thuộc dạng thai
sanh
. Sự sống của phôi thai là nhờ ở khoa học kỹ thuật,
kết hợp hài hòa những điều kiện về ấm áp và ẩm ướt,
cùng với sự kích thích khiến cho phôi thai phát triển, tương
tự
cách sinh trưởng của các nhóm côn trùng, mốc meo
,
vân…vân.

Cũng
như ba loại sinh khác, phôi thai do cloning này cũng có Thần
Thức
của một dòng sinh mạng, thí dụ từ một sinh vật mới
chết, nhập vào.
Kể từ giây phút đó, Thần Thức
là phần tâm linh của sinh vật mới được cloning này. Tất
cả mọi hành vi tạo tác sau này của sinh vật đó, về mặt
tâm thức, đều không liên quan gì tới người donor. Không
có chuyện “xài chung một linh hồn với người dono


Tóm
lại
,
chúng tôi vừa mới trình bày vấn đề thành tố của
một sinh vật, đứng trên lập trường thuần lý, chiếu theo
quan điểm của nhà Phật, gồm có hai phần : phần vật
chất
là thể xác và phần phi vật chấttâm linh
. Như
vậy một sinh vật do cloning cũng sẽ sinh hoạt như một
người bình thường,
có phần vật chất và phần tâm linh
riêng biệt, như bất cứ một người bình thường nào, cũng
tâm hồn, có sự suy tư riêng biệt.

Tuy
nhiên
, mục tiêu của đạo Phậtdiệt khổ, nên trước
mỗi vấn đề, người Phật tử đều cân nhắc kỹ càng,
để tránh tạo nên nỗi đau khổ cho chúng sinh.

Trước
mắt
, chúng ta thấy một người được sanh ra từ cloning dường
như không có gì khác với người thường. Nhưng vì bản thân
sự kiện cloning nó đã có những sự khác thường đối
với đồng loại sinh trưởng bình thường, cho nên chúng ta
cần tìm hiểu thêm về vấn đề tâm sinh lý và môi trường
xã hội đối với sinh vật ra đời một cách khác thường
là cloning, liệu sau này có vì thế mà sinh ra điều gì đáng
tiếc cho kiếp người do cloning chăng.

Trong
quá trình cloning, người ta lấy một nhân tố di truyền từ
một tế bào của donor đem đặt vào một trứng đã được
rút nhân tố di truyền ra. Nếu là sinh sản theo thường lệ
thì sự kết hợp của hai nhân tố này trong cái trứng của
người đàn bà sẽ quyết định sự giống hay khác nhau về
hình thể của đứa bé đối với cả cha và mẹ hoặc dòng
họ
của bên nộibên ngoại, theo di truyền. Nhưng khi cloning,
nhân tố di truyền của người mẹ trong cái trứng đã được
lấy ra, chỉ có độc nhất một nhân tố của donor được
đặt vào trong trứng, nên phôi thai chỉ tăng trưởng từ một
nhân tố di truyền gốc, vì thế sau này cơ thể vật chất
của nó sẽ giống y hệt người donor.


thể trông thì giống hệt, nhưng sự hình thành đã không bình
thường
, chúng ta cũng chưa có đủ thời giandữ kiện
để chứng minh rằng cơ thể đó sẽ phát triển bình thường.
Trong khoảng thời gian gần một trăm năm của đời người,
chưa thể biết sẽ có những biến chuyển nào xẩy tới cho
kẻ ra đời do cloning. Đấy là nói riêng về vấn đề
thể vật chất.

Về
mặt tinh thần, tuy con người đó có một Thần Thức mang theo
nghiệp lực gá vào cơ thể để hoạt động, thì nghiệp quá
khứ
là của dòng nghiệp đó, nhưng do sự ra đời bất thường,
những va chạm trong đời sống do mặc cảm về sự bất
thường
này có thể xảy ra, sẽ gây nên đau khổ cho người
đó và nếu như vì mặc cảm quá sâu sắc, hắn có thể gây
nên những nhân ác mới, như những người vốn mang mặc cảm
đã gây nên nhiều tội ác trong lịch sử của nhân loại,
thí dụ Hitler, vân vân. Từ những điều ác mới gây ra do
mặc cảm vì sự ra đời bất thường, dòng nghiệp lực của
hắn sẽ trở thành xấu đi. Nếu chuyện đó xảy ra thì cũng
là một điều đáng tiếc.

Ngoài
ra
, theo nhận xét của những nhà xã hội học, trẻ em mồ
côi
, hoặc xuất thân từ những gia đình đổ vỡ, thường
dễ nảy sinh mặc cảm cô đơn. Từ mặc cảm, các em có thể
phát sinh những phản ứng tiêu cực, dù trên thực tế, mọi
người
chung quanh đối xử với các em rất bình thường. Qua
suy nghĩ đó, chúng ta có thể dự đoán về đời sống tinh
thần
của một em bé cloning trong lòng xã hội. Thí dụ
một chuyện xảy ra trong lớp học, một em bé bình thường
có thể phát biểu một câu bất thường, cả lớp không thấy
có gì lạ, chỉ cho là em bé đó đang có chuyện gì không vui
nên phản ứng thế chăng. Nhưng nếu là một em bé cloning,
thì mọi người có thể phát sinh ngay một dấu hỏi trong đầu:
“Liệu có phải vì nó là đứa bé cloning nên mới sinh ra
chuyện này chăng?”. Lại có thể không ai nghĩ gì, nhưng chỉ
tình cờ thôi, một tia nhìn lơ đãng của bạn trong lớp cũng
có thể khiến cho em bé cloning vốn đã có mặc cảm, phát
sinh ra những tư tưởng tiêu cực.

Chuyện
kỳ thị chủng tộc, mầu da, vân vân, đã xảy ra và vì thế
đã bùng nổ những cuộc đấu tranh dữ dội, đó là vì nạn
nhân là một đám đông. Nhưng các em bé từ cloning mà bị
kỳ thị, hoặc có cảm giác bị kỳ thị, thì nỗi đau khổ
phản ứng chống đối trong cô đơn sẽ có thể là rất
tệ hại và đáng thương biết mấy. Những điều này khi xảy
ra sẽ thành nghiệp nhân mới tạo trong kiếp này của dòng
sinh mệnh, chứ không phải là nghiệp nhânThần Thức khi
gá vào sinh vật cloning đã mang theo từ kiếp trước. Như thế
chúng ta đã góp phần tạo nên nỗi thống khổ cho chúng
sinh
.

Cloning
con người là một vấn đề quá mới mẻ nên chúng ta cũng
chưa biết rằng khi các em bé đó lớn lên, những vấn đề
khác về cơ thể có diễn tiến bình thường như một người
do thai sanh không. Nếu thí dụ qua một vài thế hệ cloning,
cơ thể con người vì đã được cấu tạo một cách bất
thường, có thể thiếu hoặc dư chất gì đó, mà biến đổi
như những trái cây được tháp giống, tuy trông vẫn giống
trái nguyên thủy, nhưng hình thể to lớn bội phần. Côn trùng
là loài thấp sinh vẫn bình thường sinh trưởng từ thời
cổ đại là vì chúng “thấp sanh” một cách thiên nhiên.
Cloning là thấp sanh nhân tạo, sự kiện khác nhau này có nảy
sinh vấn đề gì gây nên tai hại là điều các nhà khoa học
chưa thể bảo đảm một cách chắc chắn.

Vấn
đề
hiện nay đang làm nhức nhối lương tâm của loài người
là nạn nghèo khổ, thất học, thiếu ăn, thiếu nước, chiến
tranh, vân vân, và nhất là nạn nhân mãn, phá thai, tại nhiều
quốc gia trên thế giới, nhất là tại Phi Châu. Nếu thay vì
nghiên cứu để sinh sản ra người do cloning, hãy dùng khả
năng khoa học để nghiên cứu phương cách giải quyết những
vấn nạn kể trên, khiến cho toàn thể nhân loại đều được
sống một cuộc đời đáng sống, có lẽ còn là việc cấp
thiết
hơn nhiều.

Chúng
tôi
xin trích một mẩu tin của đài BBC trong tháng 9 năm 2005:

“Ngồi
trong trung tâm nhận đồ ăn của Mauritania, Phi Châu, em bé Mohamed
Nour’s – một tuổi – có cái bụng chướng to nhưng không
phải là vì chứa thức ăn và xương khớp cổ tay của em thì
nhô ra coi còn lớn hơn cả cánh tay em nữa. Ấy vậy mà mẹ
em vẫn quả quyết một cách hãnh diện:

– Tôi vẫn cho cháu ăn uống đầy đủ, tôi ăn gì thì nó ăn
nấy, mỗi ngày một lần. Mới hôm qua chúng tôi đã ăn cháo
yến mạch, còn ngày hôm trước và kể cả 3 ngày hôm trước
nữa thì chúng tôi ăn cháo bột mì.

Em
bé Mohamed Nour’s này cũng chưa phải là những người dân
khốn khổ ở khu vực Đông Nam của Mauritania, phần đất đã
lãnh nhận trận mất mùa thê thảm, giết chết hàng ngàn người
ở Niger.

Suy
dinh dưỡng triền miênvấn đề lớn nhất ở những vùng
như địa phương này. Nó không thuộc loại đói đến chết
lăn ngay ra, nhưng nó ẩn tàng trong những bữa ăn thiếu thốn.
Các cháu thiếu hầu như tất cả các loại sinh tố và khoáng
chất cần thiết để một đứa trẻ có thể tăng trưởng
cơ thể và tinh thần một cách bình thường. Tỷ lệ tử vong
của nạn suy dinh dưỡng triền miên là cứ 1000 em thì có 109
em bị chết trong tuổi ấu niên, trong khi ở Tây Ban Nha, trong
số 1000 em, chỉ có 3 em chết non.

Các
bà mẹ không nhìn thấy sự nguy hiểm đang rình rập các cháu
bé suy dinh dưỡng, vì sự nguy hiểm cứ lùi lũi tiến đến
một cách yên lặng. Dù có thấy con mình gầy rạc, nhưng nó
không ốm lăn ra, thế là họ yên chí rằng chúng khỏe mạnh
rồi. Nhưng thật ra thì đứa bé đang mất dần sức sống
và từ từ lăn xuống huyệt mộ.

Thưa
quý thính giả,

Trong
một thế giới mà sự ngu dốt, nghèo khổ, đói khát còn tràn
ngập, có lẽ Phật tử chúng ta cũng thấy cần dành thì giờ,
tiền bạc và những bộ óc thông minh để tìm cách cải tiến
về nhiều mặt khác, ngõ hầu làm giảm bớt nghèo khổ, tăng
trưởng
mức sống thì như thế có lẽ lại phục vụ hữu
hiệu cho loài người hơn là chuyện cloning.

Ban
Biên Tập TVHS


SINH
SẢN
VÔ TÍNHĐẠO PHẬT


Nguyễn
Tường
Bách

Gần
đây
,
một công ty tại Mỹ vừa thông báo đã thành công trong
việc tạo phôi người nhân bản đầu tiên (human cloning). Với
thành công này người ta hy vọng đi một bước dài trong việc
tạo các tế bào gốc của con người. Công ty nọ cho hay, họ
chỉ muốn sử dụng thành tựu này để chữa bệnh chứ không
nhằm mục đích tạo nên một con người được nhân bản.
Sau khi tin này được thông báo, một loạt thành tựu tương
tự
cũng được công bố, chủ yếu cũng nhắm đến việc
chữa bệnh cho con người. Dù thế, mọi nơi trên thế giới
đều lên tiếng phản đối, cho rằng việc tạo phôi người
nhân bản là đi ngược lại « các nguyên tắc đạo đức
», dù chỉ sử dụng nó vì những lý do nhân đạo. Người
ta tin rằng, không sớm thì muộn, con người nhân bản thông
qua kỹ thuật sinh sản vô tính sẽ hình thành.

Trong
lịch sử
khoa học, hầu như chưa có một bước đột phá
nào gây nhiều phản ứng và tranh cãi như sự việc này. Nhiều
người nghĩ ngay đến một viễn cảnh “rùng rợn”, trong
đó con người được chế tạo như những món hàng giống
hệt
nhau chạy ra từ một băng chuyền công nghiệp. Ngược
lại cũng có nhiều người vội nghĩ tới tự nhân bản chính
mình để sống đời này qua kiếp khác. Có kẻ thành tâm nghĩ
tới khả năng sao chép những thiên tài của loài người để
họ tiếp tục phục vụ cho nhân loại hàng trăm năm sau đó.
Cũng có người chủ trương nhân bản con người chỉ để
có một « kho » lưu chứa phụ tùng thay thế tim óc và các
bộ phận, một khi chúng bị tai nạn hay bệnh tật hủy phá.

Tất
cả những điều kể trên không còn là chuyện khoa học giả
tưởng trong thế kỷ 21 của chúng ta. Những điều đó có
lẽ sẽ dần dần được thực hiện, chính thức hay không
chính thức. Lý do giản đơn là lĩnh vực sinh học này quá
hấp dẫn, kích thích đầu óc con người vốn say mê nghiên
cứu
những điều mới mẻ. Ngoài ra nó sẽ mang nguồn lợi
tài chánh vô tận cho những kẻ đi tiên phong và đây sẽ là
động lực chủ chốt.

Ngành
sinh học của thế kỷ 21 đang đứng trước một quá trình
phát triển kỳ diệu. Trong thế kỷ 20, ngành vật lý cũng
có một giai đoạn tương tự. Với sự phát hiện của thuyết
tương đối
trong những năm đầu và thuyết lượng tử trong
khoảng
những năm 30, thế kỷ 20 đã làm một cuộc cách mạng
trong ngành vật lý, đã thống nhất nhiều khái niệm tưởng
chừng như độc lập với nhau, để đưa vật lý của thế
kỷ thứ 19 từ một mức độ “trung bình” của con người
đến mức bao quát, gồm chứa cả những thế giới cực nhỏ
của các hạt cơ bản đến những phạm vi cực đại của
các thiên hà. Quan trọng nhất là nền vật lý hiện đại
đã đưa thẳng con người đi đến cửa ngõ của triết học,
trong đó nhiều nhà vật lý khẳng định thế giới vật chất
dường như không phải là một đối tượng « độc lập tự
nó » mà là sự cảm nhận của con người về một thực tại
khác. Thế giới vật chất chỉ là dạng xuất hiện của thực
tại
đó trong ý thức quán chiếu của con người. Vì lẽ đó,
sự phát triển của ngành vật lý trong thế kỷ 21 sẽ mang
nhiều tính chất « tâm linh » mà sự đồng qui của nó với
triết học phương Đông, nhất là với Phật giáo, đã được
nhiều người thừa nhận [1].

Khi
những đối tượng nghiên cứu thuộc phạm vi « vô sinh »
như vật chất mà đã dẫn đến những vấn đề thuộc về
vai trò của « ý thức » thì ta có thể dễ dàng nhận thấy
ngành sinh học còn đặt những câu hỏi thiết thân hơn nữa
với triết học. Sự sống do đâu mà có, con người từ đâu
sinh ra và sẽ đi về đâu – đó là những câu hỏi xưa nay
của nhân loại trong triết học và ngày nay bỗng nhiên trở
thành
then chốt trong sinh học. Sự khám phá ra bộ gen người
(Genom) hứa hẹn một điều rất thú vị. Với Genom, người
ta nghĩ rằng đã tìm ra được tất cả những chữ cái và
sẽ đọc được cuốn sách về sự sống, được viết nên
bằng những chữ cái đó. Nhiều người vội cho rằng Genom
là nguồn gốc của sự sống cũng như các hạt cơ bản là
nguồn gốc của mọi vật chất trong ngành vật lý của thế
kỷ trước. Thế nhưng nếu trong ngành vật lý đã có một
sự bừng tỉnh lớn lao rằng, hạt cơ bản xem ra cũng chỉ
là dạng xuất hiện của một thực tại khác, chúng xuất
hiện
tùy theo cách quan sát của con người, thì trong ngành
sinh vật người ta chưa biết Genom là nguồn gốc của mọi
sự sống hay bản thân Genom cũng chỉ là dấu vết của một
thực tại khác. Thế kỷ 21 có lẽ sẽ trả lời câu hỏi
đó và nhiều nền triết học phương Đông có thể có những
giải đáp quan trọng.

Một
hệ quả của sự thành tựu trong ngành sinh vật hiện nay là
khả năng nhân bản của con người bằng cách sử dụng gen
người, cho nó tự phân chia, không cần đến sự thụ tinh
thông
thường. Đó là lý do mà sự sinh sản đó được mệnh
danh là « vô tính ». Mặc dù hiện nay người ta chỉ nhân
bản
các động vật như bò, trừu nhưng khả năng nhân bản
con người là hầu như chắc chắn trong tương lai không xa.
Câu hỏi đầu tiên và then chốt được đặt ra là, con người
được nhân bản đó là « ai », nó là một hay khác với con
người
« bản chính ». Người ta phải đối xử thế nào,
nếu một ngày nọ có một Hitler đi dạo trên đường phố
Paris?

Không
phải chỉ hình ảnh Hitler mới làm ta thấy « rùng rợn »
mà chỉ hình dung về một con người bình thường thứ hai
giống như bản chính như hai giọt nước đủ gây hãi hùng
trong chúng ta. Tôn Hành Giả thổi sợi lông biến thành hàng
ngàn con khỉ khác chỉ gây thú vị trong Tây Du Ký của Ngô
Thừa Ân
nhưng tốt hơn nó nên dừng tại đó. Vì lẽ đó
mà nhiều nơi trên thế giới đều chống lại chuyện nhân
bản
con người. Thế nhưng ngoài sự sợ hãi chung chung, có
hai loại tư tưởng chính trong việc phản đối. Một là,
tưởng
thần học cho rằng chỉ có Thượng Đế hay Chúa mới
làm chủ được sự sống, con người không được phép giành lấy quyền sáng tạo sự sống của Chúa. Hai là,
tưởng
duy vật cho rằng, con người nhân bản là một, là
đồng nhất với con người bản chính, vì tâm thức là sản
phẩm của cơ thể. Có kẻ trong giới đó cho rằng cơ thể
« tiết » ra tâm thức cũng như não tiết ra tư tưởng, như
gan tiết ra mật. Vì thế tâm thức con người bản sao sẽ
là một với con người bản chính. Đáng sợ thay! Vì thế
mà nếu có nhân bản thì không ai sáng tạo Hitler cho mang họa
mà người ta sẽ tạo ra một Einstein để mọi người được
nhờ. Cũng vì nghĩ thế mà nhiều người muốn nhân bản chính
mình vì « mình » sẽ được sống ngàn năm.

Con
người
nhân bản là « ai »? Đó là một câu hỏi không đơn
giản
. Người viết bài này tự tìm cách trả lời bằng cách
lục lại kinh sách của thánh nhânbiết trước rằng vấn
đề
này có lẽ sẽ không bao giờ có một lời giải chung
quyết.

– Này
A Nan, ta đã nói, có Thức mới có Danh Sắc. Nói như thế tức
là: nếu Thức không lọt vào lòng mẹ, thì trong bụng người
mẹ đó có Danh Sắc sinh ra chăng?

-Bạch
Thế Tôn, không. (Trường Bộ Kinh, 15).

«
Danh Sắc » là từ chỉ chung là hai yếu tố tâm lývật
mà nếu nói chi tiết chính là ngũ uẩn. Danh Sắcyếu
tố
thứ tư trong mười hai nhân duyên và do yếu tố thứ ba,
Thức, sinh ra. Không có Thức thì không có Danh Sắc. Một bào
thai
muốn thành hình thì phải cần « tinh cha huyết mẹ »
làm cơ sở vật chất và một Thức sẵn sàng tham dự vào
đời sống tương lai.

«
Cha mẹ giao hợp với nhau và người mẹ đã đến thời, nhưng
nếu không có một thức sẵn sàng gia nhập thì không có thai
nhi
» (Trung Bộ Kinh, 38).

Như
thế tinh cha huyết mẹ chỉ là cái khung vật chất để Thức
có thể nương tựa. Còn Thức nào sẽ « tham dự » vào đó
và tại sao nó tham dự là một vấn đề nằm ngoài khả năng
suy luận của người bình thường. Thế thì thai nhi là « ai
»? Ta có thể hiểu một cách sơ sài Thức đó là một nguồn
năng lực có tính cá thể và có đủ « nhân duyên » với
cha mẹ để « đợi » thời điểm đó mà tham gia vào và trở
thành
thai nhi. Điều quan trọng nhất có lẽ là giữa nghiệp
lực
của cha mẹ và của Thức phải có một mối quan hệ
rất sâu xa vì Thức sẽ lấy máu mủ của cha mẹ làm cơ thể
của mình và lớn lên trong môi trường sống do cha mẹ tạo
ra.


lẽ đó mà trong quan điểm của đạo Phật, việc sinh con đẻ
cái là một quá trình kỳ diệu của nghiệp lực. Đó không
hề là một chuyện tầm thường, càng không phải là một
điều tình cờ, kết quả vô ý thức của hành động tính
dục
. Thai nhi không phải do cha mẹ sinh ra mà thông qua cha mẹ
để đến với thế giới con người. Thai nhi không phải là
một tờ giấy trắng để cha mẹ có thể vẽ lên đó những
gì mình muốn mà nó đã mang kinh nghiệmnăng lực của
một quá khứ vô thủy. Vì thế con cái có thể « già giặn
» hơn cha mẹ rất nhiều. Nó cần tinh huyết và sự nuôi dưỡng
của cha mẹ vì giữa ba con người đó có một mối liên hệ
về nghiệp mà thường cả ba đều không biết và chỉ có
thánh nhân như Phật mới thấy rõ.

Trong
kinh sách đạo Phật, nhất là trong « Tử thư Tây Tạng »[2],
ta còn tìm thấy những mô tả cảnh tượng lúc Thức bị nghiệp
lực
lôi kéo vào bụng mẹ và những gì mà nó cảm nhận trong
lúc Thức gia nhập vào thân thể thai nhi. Thế nhưng những
điều này không phải là đối tượng của bài này. Điều
cần xác nhận nơi đây là, một thai nhi chỉ thành hình khi
có Thức gia nhập và máu huyết của cha mẹ chỉ là phần
sắc thể của sinh vật.

Xuất
phát
từ điều đó, ta hãy thử xét điều gì xảy ra khi phôi
người nhân bản hình thành và nếu tế bào tí hon đó phát
triển thành người thật thì nó có quan hệ thế nào với
con người bản chính. Như đã nói ở trên, sự hình thành
thai nhi trong điều kiện bình thường vốn đã hết sức kỳ
diệu
và cơ chế đích thực của nó nằm ngoài khả năng
duy
của chúng ta. Vì thế dùng tư duy để tìm hiểu quá trình
của sự nhân bản con người – một vấn đề hoàn toàn mới
mà kinh sách chưa hề đề cập đến – lại càng là một điều
bất khả. Bài này chỉ có chút hy vọng tìm hiểu vài khía
cạnh thuộc về phạm vi suy luận của câu hỏi lớn này.

Trước
hết có lẽ cần quan niệm rằng, động tác của nhà sinh vật
khi đưa gen người vào một trứng có thể được xem là hành
động « tạo cơ sở vật chất » cho một sinh vật. Dù đây
thành tựu to lớn của ngành sinh vật nhưng về ý nghĩa
thì đây « chỉ » là hành động thay tinh cha huyết mẹ của
thai nhi thông thường bằng một gen người có sẵn. Thế nhưng,
muốn nó trở thành sinh vật – dù đó là thú vật, phôi người
để trở thành các tế bào chuyên môn hay thậm chí thành một
con người bản sao – thì ngoài các điều kiện môi trường
của phòng thí nghiệm, nhất thiết phải có một Thức « chịu
» tham gia. Nếu dùng từ « nhân duyên » để soi sáng thì «
duyên » là các điều kiện và khả năng kỹ thuật của nhà
sinh vật, còn « nhân » chính là một Thức sẵn sàng gia nhập.
Nơi đây khả năng lý luận của chúng ta đã bị chận đứng
vì không ai biết rõ Thức tái sinh nơi đây là gì, nhưng xem
ra
không phải dễ tìm được một Thức như thế vì chỉ sáng
tạo
con cừu Dolly thôi mà người ta phải thử gần 300 lần
nhân bản. Người ta cho rằng xác suất để thành hình một
con người nhân bản sẽ khó hơn gấp bội lần, thai nhi sẽ
sớm chết trong bụng mẹ.

Từ
một góc nhìn khác, kinh sách đạo Phật cho ta biết rằng,
nghiệp lực của Thức tái sinh sẽ « lựa chọn » cha mẹ
hoàn cảnh sống, từ đó mà chịu hay không chịu tham gia
vào một « cơ sở vật chất » – tức là tinh cha huyết mẹ
trong trường hợp thông thường và gen người được cấy
vào trứng trong trường hợp nhân bản. Mặt khác, Thức, tức
năng lực sống mang tính cá thể, vốn tràn đầy trong đại
thiên thế giới
, nên ở đâu cũng có sự sống xuất hiện,
nơi nào có điều kiện sống là có sinh vật. Đạo Phật quan
niệm
mỗi cấp bực của sự sống đều mang một Thức tương
ứng
: cấp vi trùng vi khuẩn cũng có Thức của nó, cũng như
mỗi tế bào, mỗi mô sinh vật cũng thế, cho đến thú vật
con người, đến các loài khác mà con người không thể
trông thấy. Vì thế mà sinh vật có thiên hình vạn trạng,
được sinh ra trong bốn cách, loài sinh con, loài sinh trứng,
loài sinh trong chỗ ẩm ướt và loài hóa sinh.

Như
thế thì ta không lấy làm lạ nếu có những sinh vật sẽ
phát sinh từ phép nhân bản, dù sinh vật đó là loài thú hay
chỉ những tế bào có tính chuyên môn mà con người hiện
đang hy vọng dùng để chữa bệnh. Và nếu ngày nào đó có
cả một con người hẳn hoi sinh ra từ sự nhân bản thì ngoài
cái rùng mình sợ hãi ban đầu, ta cần xem đó là một con
người
bình thường như chúng ta. Đó là một người mà tinh
cha huyết mẹ đã được thay bằng bộ gen của người bản
chính và, đây là điều quan trọng nhất, đã có một Thức
tái sinh tham gia vào sự sáng tạo này, cũng như một Thức
đã gia nhập vào bụng mẹ lúc tượng hình thai nhi. Thế nên,
người trả lời được thai nhi là « ai » thì sẽ trả lời
được con người nhân bản là ai. Hai câu hỏi đó chỉ là
một và trong chúng ta xem ra ít có người biết câu giải đáp.

Con
người
bản sao sẽ rất giống với con người bản chính vì
cùng một bộ gen, nhưng tâm thức người đó không phải là
tâm thức của con người bản chính. Nó cũng có một quá khứ
xa xôi riêng biệt của nó với tất cả những năng lực
kinh nghiệm mang theo. Thế nhưng giữa nó và con người bản
chính hẳn phải có một nghiệp lực vô cùng kỳ lạ vì nó
sẽ giống với người đó một cách khủng khiếp, giống hơn
hẳn hai trẻ sinh đôi cùng một trứng. Giữa hai con người,
nơi đây ta tạm gọi là bản sao và bản chính, phải có một
mối liên hệ về nghiệp mà tư duy chúng ta không bao giờ tiếp
cận nổi.

Khác
với quan niệm thần học, đạo Phật không thấy có một ai
nắm quyền làm chủ sự sống mà sự sống là khả năng nội
tại nằm trong mỗi sinh vật. Khác với quan niệm duy vật,
đạo Phật thấy Thức tái sinhnăng lực chủ động tạo
tác thân người và cơ thể chỉ là phương tiện cho tâm thức
nương tựa và thực hiện trách nhiệm của mình, cho dù nó
thực hiện một cách có ý thức hay vô ý thức. « Tâm dẫn
đầu
các pháp »[3], dù « pháp » ở đây là một thai nhi hình
thành trong tình trạng bình thường hay thông qua một thủ thuật
của con người.

Đến
đây độc giả sẽ có người sốt ruột hỏi, thế thì đạo
Phật
cho phép hay không cho phép thi hành phương pháp nhân bản.
Bài này không dám có tham vọng trả lời một câu hỏi đạo
đức như thế, nó chỉ muốn nêu lên vài khía cạnh hẳn còn
sơ sài của vấn đề. Thế nhưng thông qua những suy nghĩ trên
đây, một yếu tố khác hiện ra rõ nét. Đó là việc sinh
con đẻ cái trong tình trạng bình thường không hề là một
chuyện tầm thường. Đó là sự hiện hành của một mối
nghiệp lực sâu xa, là sự sáng tạo một sinh vật với thể
chất
tâm thức, một bên là của cha mẹ, một bên là của
sinh vật mới, hòa quyện với nhau trong một thể Danh Sắc
thiêng liêng không gì sánh được.

Nếu
con người biết kính sợ trước tác động huyền diệu của
nghiệp lực, biết cẩn trọng với một thai nhi được tạo
hình trong điều kiện bình thường thì con người được quyền
bắt tay làm những thủ thuật để sinh vật mới mẻ ra đời.
Nếu con người chưa hiểu ngộ những điều đó, chưa vươn
tới mức đạo lý đó, chưa biết quí trọng sự sống, dù
của sinh vật bé nhỏ nhất, thì tốt hơn hãy thối lui, hãy
học lại những bài học vỡ lòng về đạo đức.


NTB
(3.12.2001)

[1]
Xem thêm « The Tao of physics » của Fritjof Capra


[2]
The Tibetan bookof the Dead (Bardo Thodol) cu »a Evans Wentz


[3]
Lời trong kinh Pháp Cú


Source
= Khuông Việt


ĐẠO
PHẬT
VẤN ĐỀ TẠO SINH VÔ TÍNH

Trong
đạo
Phật
chúng sanh là do Nhân Duyên 5 Ấm hội hợp mà thành
thì trong đó Thân là thuộc về Sắc Âm còn Tinh Thần là Thọ,
Tưởng, Hành, Thức.

Hiện
nay các nhà bác học đang thực hiện các cuộc Tạo Sinh Vô
Tính
(Cloning) việc này trong đạo Phật bản thân của nó không
phải là một vấn đề vi phạm đạo đức mà là chỉ do mục
đích
của các nhà bác học mà thôi.

Thân
chỉ là phương tiện để Thức nương gá cho nên làm sao mà
có thân thì cái điều này vốn là chẳng quan trọng.


nhiều người nói rằng Tạo Sinh Vô Tính là đoạt quyền Tạo
Hóa mà đi ngược lại thiên nhiên nhưng mà họ lại quên rằng
là từ ngàn xưa con người đã luôn luôn muốn làm trái ngược
thiên nhiên để được sinh tồn.

Thí
dụ
như các chứng bịnh nan y như là cùi, ho lao, phong đòn
gánh, dịch hạch, cancer, aids v.v nếu mà con người không làm
trái ngược thiên nhiên để tìm tòi phương thức chữa trị
thì có lẽ con người đã bị biến mất từ lâu.

Đạo
Phật
thì chẳng nhận có đấng sáng tạo gì cả mà chỉ nói
tất cả các hiện tượng đều là do Nhân Duyên hội
hợp mà thành
. Tạo Sinh Vô Tính thì cũng là do Nhân Duyên
hội hợp mà thành.


nhưng người thì lại lập luận là sự sanh ra do sự phối
hợp
của Cha Mẹ là kết tinh của sự yêu thương v.v nhưng
mà họ lại quên là Nam Nữ kết hợp đó chỉ là Tình Dục
còn sự thụ thai và hình thành thai thì chỉ là một hiện
tượng
thiên nhiên.

Tinh
trùng của người nam và trứng của người nữ vốn là
tri
đâu có sự thương yêu gì.

Như
trong Kinh Phật dạy sáu loài chúng sanh thì có các Trời hay
Thần do sự Hóa Sanh và nương tựa các hình thể vật chất
khác nhau mà làm thân chứ không phải nhất thiết là phải
sanh ra do sự phối hợp của Cha Mẹ.

Trở
lại
vấn đề Tạo Sinh Vô Tính là chỉ có khi nào các nhà
bác học sử dụng các điều đó vào trong việc Ác thì mới
là điều Ác cò nếu chỉ là thuần túy là về Y Học để
cứu giúp người bịnh hay là để giúp các cặp vợ chồng
hiếm muộn thì không có gì là sai trái cả.

Tạo
Sinh Vô Tính thì cũng là một hình thức thọ sinh theo
quan niệm
của đạo Phật mà thôi.

Trong
đạo Phật thì cõi trời đều là do Hóa Sinh tức là nếu
có ai được sinh về cõi trời thì Tự Nhiên hiện ra chứ
không có Cha Mẹ gì cả.


Vajra
http://www.dainam.net/forums/showthread.php?p=457337&mode=threaded

ĐẠO
ĐỨC
PHẬT GIÁO VÀ KỸ THUẬT TẠO SINH (CLONING)


TRONG
KHOA
DI TRUYỀN HỌC,


Quán
Như

Cả
thế giới rúng động khi công ty nghiên cứu sinh học American
Advanced Technology loan tin là họ đã clone được một phôi sinh
(embryo) của người. Không những chỉ có giới thẩm quyền
thuộc các tôn giáo độc thần lớn tiếng kết tội các khoa
học gia muốn cướp quyền Thượng Đế, giới khoa học gia,
các nhà lập pháp cũng như chánh quyền các nưóc Tây Phương
vội vã lên tiếng chống đối. Thượng viện Anh đã triệu
tập
một phiên họp khẩn cấp để thông qua một đạo luật
chống cloning, trong đó những người nào thi hành thí nghiệm
cấy một phôi sinh của người, khác hơn là phôi sinh đã được
kết hợp tự nhiên bởi một tinh trùng và một trứng, có
thể bị kêu án 10 năm tù.

Tổng
Thống Bush tuyên bố là cloning phôi sinh người là một việc
làm
trái đạo đức và thúc dục Thượng Viện Mỹ thông qua
dự luật cấm cloning người. Tuy nhiên thượng viện Mỹ nói
là họ không vội vã trong việc cấm cloning và sẽ điều tra
xem kỹ thuật này có giúp ích gì trong việc chữa các chứng
bịnh hiểm nghèo cho dân chúng không. Các phản ứng tại Âu
Châu cũng tương tự. Pháp, Đức, Gia Nã Đại và Ý đều lên
tiếng
chống đối việc tạo con người trong phòng thí nghiệm.
Tuy nhiên các nhà khoa học di truyền nói là quần chúng phải
phân biệt giữa hai kỹ thuật Cloning. Kỹ thuật Cloning thứ
nhất là tái tạo một cá thể con người (productive cloning)
và một kỹ thuật khác là tạo những tế bào để thay thế
các tế bào bị hư hại (Theurapetic cloning) trong cơ thể. Các
nhà khoa học nói là các tế bào này chỉ là mầm sống
khởi
, chưa phải là một cá thể người, do đó không liên
hệ
đến các vấn đề đạo đức về hủy diệt sự sống.
Các phôi sinh do American Advanced Technology cấy được chỉ mới
sinh ra chừng 6 tế bào khác, tuy nhiên chúng có đầy đủ các
yếu tố di truyền của người cung cấp tế bào . Vatican
nhiên
nghiêm khắc lên án thí nghiệm tái tạo người cũng
như thí nghiệm tái tạo các tế bào phôi sinh (Stem cells) để
chữa bịnh. Các chánh phủ Tây Phương mặc dù lên án productive
cloning nhưng vẫn cho phép theurapetic cloning các tế bào phôi
sinh để áp dụng vào việc chữa bịnh.




Phó
giám
đốc trung tâm nghiên cứu Advanced Cell Technology, Tiến
Robert Lanza, nói là công trình này có những tiềm năng lớn
lao trong việc chữa các chứng nan y và cấm đoán việc thử
nghiệm này sẽ ngăn chặn những khám phá y học cần thiết
để chữa trị những chứng bịnh hiểm nghèo, như ung thư,
tiểu đường và các chứng run rẩy (Parkinson) ở các người
già. Các khoa học gia ở trung tâm ACT tiết lộ người hiến
tế bào để thử nghiệm là Bác sĩ Judson Someville, hiện đang
bị tê liệt và ngồi trên xe lăn vì một tai nạn xe đạp
11 năm trước đây. Bác Sĩ Someville đã hiến tặng các tế
bào ở bắp chân phải để các nhà khoa học cấy một phôi
sinh vào. Các tế bào này khi sinh trưởng vẫn còn giữ toàn
vẹn
nhiễm thể của ông. Nếu các tế bào này sinh trưởng,
chúng có thể được thay thế cho các tế bào hư hại và bác
Someville có thể đi lại được bình thường. Bác sĩ Someville
sắp sữa lập gia đình một lần nữa và có hai cô con gái.
Ông nói nếu thí nghiệm thành công, ông hy vọng một ngày
nào đó ông có thể đi dạo bình thường với 2 cô con gái.
Bác sĩ Someville là một người sùng đạo (Tin Lành) và là
một đảng viên đảng Cộng Hòa, một đảng trên nguyên tắc
kịch liệt chống đối kỹ thuật cloning, cho dù chỉ là cloning
chữa bịnh. Bác sĩ Someville nói là ông không ngần ngại
khi tham gia vào chương trình này và ông không thấy có một
sự xung đột gì với niềm tin tôn giáo của mình.

So
với các tôn giáo độc thần Tây Phương, Phật Giáo với
thuyết
duyên khởi là một tôn giáo không bị những tiến
bộ
khoa học bỏ rơi và những khám phá mới càng chứng tỏ
thị kiến của đức Phật về sự sống và về vũ trụ rất
gần gũi với thị kiến khoa học. Lập trường của Phật
Giáo
, hay ít nhất là của một số Phật Tử, về khoa di truyền
học như thế nào? Sau đây là bài viết của Christina Desser.

Một
học giả Phật Giáo nổi tiếng ở Mỹ nói đùa: ‘Nếu cloning
được Đức Phật thế giới này sẽ bỗng chốc biến thành
tịnh độ’. Đây là một lời nói đùa, nhưng không phải
là không phản ảnh lý tưởng của Phật Giáo; ai cũng có thể
là Phật sẽ thành và giống như nhãn quan của Bồ Tát Thường
Bất Khinh, ai cũng là một bồ tát hóa thân. Tuy nhiên lời
nói
bông đùa đó phản ảnh một chút lạc quan ngây thơ về
những tiến bộ vượt bực của khoa sinh học di truyền cũng
như những ảnh hưởng không ai lường trước được về những
khám phá của khoa này.

Chúng
ta
đang bị mê hoặc bởi những lợi ích có thực hay tưởng
tượng: một thế giới không còn bịnh tật, những khám phá
làm vơi khổ đau của con người, đúng như lý tưởng của
đạo Phật. Thực phẩm tăng thêm nhiều chất lượng, được
sản xuất dồi dào và không lo còn có ai bị đói. Y tế sẽ
được cải thiện và nếu chúng ta lựa chọn những Genes tốt,
cũng như lựa toàn hạt lúa giống tốt, khả năng trí thức
của con người sẽ tăng tiến không giới hạn. Không phải
thế giới chỉ có một vài thiên tài làm đảo lộn lịch
sử
, hoặc chỉ có một thiên tài độc nhất kiểu Phạm Công
Thiện, mà thiên tài mọc đầy rẫy như cúc vạn thọ. Những
ai nghĩ mình là thiên tài sẽ lấy làm khó chịu vì trong tương
lai không còn ai giữ độc quyền tri thức. Đó là chưa kể
chúng ta có thể khuynh đảo các genes gây bịnh già và biến
giấc mộng trường sanh bất tử của Lão Trang thành sự thật.
Nghĩa là con người có khả năng chấm dứt dòng tiến hóa
từ hàng triệu năm nay và kết thúc với một chủng loại
siêu việt! Những mơ ước của chúng ta vô tận. Từ thập
niên trước những điều mơ ước chỉ là những giấc mộng
con, không ai ngờ chỉ có hơn 10 năm, những giấc mộng này
bỗng chốc thành sự thật. Đó là một viễn tượng của
một hình ảnh Niết bàn hay thế giới Tịnh độ của Phật
Giáo
Đại Thừa có thật ở đây, bây giờ.

Chúng
ta
chào mừng các tiến bộ này với cả hai tay và hy vọng
như chúng ta đón mừng những phát minh khoa học khác. Tuy nhiên
những áp dụng vào canh nông, y tế và sinh sản con người
sẽ làm đảo lộn tất cả mọi trật tự và khoa sinh học
di truyền sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi khía cạnh của
đời sống. Trong thời gian qua, việc cấy genes vào các chủng
loại khác (transgenic) đã được áp dụng để biến đổi
bắp, lúa mì, gạo và các mùa màng khác; việc chế tạo các
vũ khí sinh học di truyền được tiến hành một cách thầm
lặng nên không ai chú ý; chế biến năng lượng; sản xuất
các dược liệu và các phương pháp điều trị y khoa. Khi phối
hợp
với kỹ thuật tái tạo (productive cloning) chúng ta
thể thay đổi các nhiễm thể di truyền của thế giới hữu
tình
. Mặc dù khoa sinh học di truyền bắt đầu viết lại
pho lịch sử tiến hóa của nhân loại, phần lớn chúng ta
cũng còn lờ mờ về các áp dụng này. Trong khi Phật Giáo
Tây Phương còn chăm chú vào những vấn đề như phá thai,
các liên hệ sinh lý thái quá, các bạo hành cơ thể, chủng
tộc
và phái tính, khoa sinh học di truyền trẻ trung đã có
những tiến bộ nhanh chóng về canh nông và y tế và hậu quả
của các áp dụng này chưa được giới Phật Tử để ý tới
một cách đúng mức.

Quan
điểm
Phật Giáo về các vấn đề này ra sao?
Khoa học
di truyền có phải một đáp ứng nhân đạo cho những đau
khổ
của con người? Hay đó chỉ là một hình thái vô minh
nguy hiểm phát sinh từ tham, sân và si để kích thích hành
động con người?

Các
cơ quan nghiên cứu khổng lồ trên mặt trận canh nông như
Monsanto, Novarris, DuPont và các nhà khoa học đang biến đổi
genes của hạt giống- cổ võ cho khoa di truyền, dựa trên những
lý do nhân đạo. Các người này nói là khoa di truyền cần
thiết
vì nông phẩm sẽ được sản xuất dồi dào hơn và
không còn ai bị đói ăn nữa. Khoa di truyền sẽ giúp làm giảm
lượng thuốc xịt sâu rầy. Khoa di truyền giúp việc bào chế
các dược phẩm mới cũng như các thuốc chủng ngừa cho dân
nghèo. Tuy nhiên những hành động của họ của các công ty
này chứng tỏ những lời tuyên bố đầy nhân đạo này không
đúng sự thật. Việc cung cấp thức ăn cho người nghèo không
thể nào đủ lời để cho các công ty lớn này theo đuổi
công trình nghiên cứu về di truyền học. Hiện chỉ mới có
một loại nông phẩm được chế biến để làm tăng dinh dưỡng
có tên là Gạo Vàng (Golden Rice) do các nhà khoa học được
tài trợ duy nhất bởi công ty này. Cho tới ngày hôm nay có
người nghi ngờ về hiệu năng của vụ mùa có genes bị chế
biến này.

Ngoài
các vụ biến đổi genes của các nông phẩm, có những thú
vật
được chuyển genes (transgenic) như dê, bò, chuột và heo.
Cơ quan kiểm soát thực phẩm và dược phẩm của Mỹ sắp
sửa chấp thuận cho phép chương trình nuôi cá hồi (salmon)
có genes được biến đổi để cá có khả năng lớn thật
nhanh và do đó các công ty nuôi cá sản xuất được nhiều,
dĩ nhiên là có lời nhiều. Ở Trung Quốc một loại cá
chép được đổi genes có lẽ đã được tung ra thị trường.
Các nhà khoa học chuẩn bị thả vào thiên nhiên một loại
bọ đã bị đổi genes. Loại bọ này khi làm tình với các
con bọ cái khác sẽ sinh ra một loại trứng bị hư và do đó
sẽ làm tiêu diệt các loại bọ trước đây đã tàn phá mùa
màng bông vải. Tuy nhiên điều nguy hiểm là những con bọ
đổi genes không thể nào thu hồi lại được. Trong khi những
loại thảo mộc, bọ và cá có genes bị biến đổi sẽ thay
đổi quá trình tiến hoá của môi sinh thiên nhiên, những con
người
được tạo sinh (cloned) và có genes biến đổi sẽ
vĩnh viễn làm thay đổi quá trình tiến hóa của con người.
Những điều mà mới đây chúng ta nghĩ chỉ là khoa học giả
tưởng, bây giờ đã thành sự thực. Hơn 50 năm trước Hitler
mơ ước tạo được một chủng loại Aryan toàn hảo và giấc
mơ đó chỉ được điện ảnh hoá qua phim The Boys From Brazil
do Gregory Pech đóng vai chánh, bây giờ có thể thực hiện một
cách dễ dàng, nếu luật pháp cho phép! Trên thực tế giáo
phái
Raelians hy vọng có thể tạo sinh (cloning) một đứa con
đã chết của hai tín đồ trong một phòng thí nghiệm bí mật.
Một thí nghiệm tạo sinh khác do Tiến Sĩ Panayiotis Zaros của
viện nghiên cứu Mỹ Andrology và Trung Tâm Kentucky Centre for
Reproductive Medicine đã thực hiện. Tiến sĩ Zaros đã có những
nỗ lực tạo sinh người cho các cặp vợ chồng không có con
cái. Nhà khoa học này hy vọng rằng việc tạo sinh người
sẽ thành công trong vòng một năm.

Nhiều
người muốn tạo sinh vì nhiều lý do khác nhau. Hoặc là họ
muốn làm sống lại một người thân yêu đã chết. Hoặc
là họ muốn mình trường sanh bất tử. Hoặc là họ không
có con nối dõi.

Trên
quan điểm đạo đức Phật Giáo, việc tạo sinh nẩy ra nhiều
vấn đề rắc rối. Có phải chăng ý muốn cho người thân
sống lại là một hình thái bám chặt vào cái thân như điện
ảnh
Đức Phật đã cảnh cáo? Có phải chăng việc tạo
sinh chính mình là một hình thức chấp ngã đi ngược lại
với nguyên tắc vô thường trong tất cả kinh điển Phật
Giáo? Những cặp vợ chồng không có con cái muốn có người
nối dõi qua hình thức tạo sinh cũng là một hình thức chấp
ngã
và kéo dài các vòng luân hồi vô tận!

Những
cặp vợ chồng có khả năng có con cái muốn có con theo ý
mình (design baby) sau khi đã gạn lọc những genes hạ đẳng
và cấy vào những genes tốt và do đó sẽ tạo ra một chủng
tộc
thượng đẳng mà Hitler ngày xưa đã mong muốn? Những
người chống đối việc chuyển genes để tạo ra design babies
nói là trong tương lai gần, sẽ có hai ‘giống’ người khác
nhau. Một giống tự nhiên ‘trời sinh sao thì cứ để vậy’
và một ‘giống’ người đã được chuyển genes thượng
đẵng. Nhà sinh vật tế bào Lee Silver cho rằng nếu cloning
và kỹ thuật chuyển genes được luật pháp bật đèn xanh,
xã hội Mỹ trong tương lai sẽ có hai ‘giống’ người. Giống
người được chuyển genes chiếm 10% trong xã hội Mỹ và họ
sẽ nắm tất cả các địa vị đầu não trong các lĩnh vực
truyền thông, kinh tế và kiến thức (đại học), trong khi
90% còn lại sẽ làm những nghề hạ tiện. Tới một lúc nào
đó hai giống người này không còn liên hệ với nhau nữa
và những cuộc hôn nhân ‘dị giống’ sẽ không bao giờ
xảy ra nữa, tương tự như tình trạng giữa người và vượn,
hai bên sẽ không thể nào có những liên hệ sinh lý nữa.
Lục đạo của Phật Giáo đã trở thành ‘thất đạo’,
bảy nẽo luân hồi! Và tình trạng này cũng không khác gì
xã hội đẳng cấp của Ấn Độ là bao. Thay vì dùng thần
quyền
để biện minh cho đẳng cấp như các giáo sĩ bà la
môn
, giống người thượng đẳng sẽ dùng genes toàn bích để
biện minh tại sao họ là những người sinh ra để lãnh đạo,
ăn trên ngồi trước. Khoa học giả tưởng? Viễn tượng một
xã hội có hai ‘giống’ người khác biệt, một có genes
toàn bích, một giống người tự nhiên, gần hơn mọi người
nghĩ nhiều!

Tất
cả những thí nghiệm tạo sinh (cloning) thường được thi
hành
bí mật trong các phòng thí nghiệm và hiện nay không ai
biết là khả năng tạo sinh của các nhà khoa học đến mức
nào rồi. Sẽ có những hậu quả không thể nào lường được
cho con ngườicác chủng loại khác. Những công ty lớn
đang nghiên cứu việc biến đổi genes không thèm để ý đến
những hậu quả đến môi sinh của chúng ta. Trên thực tế
không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra khi việc chuyển đổi
và hổn hợp các genes giữa những chủng loại khác nhau được
thực hiện. Về sự chuyển genes giữa các cây cỏ khác nhau,
Steve Jones, giáo sư khoa di truyềnđại học Luân Đôn tin
rằng sự ô nhiễm genes sẽ không thể nào tránh được. Các
genes đã được chuyển đổi trong thực vật sẽ lẫn lộn
với các genes khác và có thể gây ra những hậu quả cực
kỳ nguy hại. Nếu như côn trùng có genes làm tuyệt giống
tràn lan, thình lình tất cả các côn trùng đều biến mất.
Không có côn trùng thì môi sinh không thể tồn tại, không
có thụ phấn, không kết hoa hay quả. Nếu môi sinh trong tình
trạng
mất thăng bằng thì thế giớinhân loại sống còn
nữa không? Cái này có thì Cái kia có. Cái này không còn thì
cái kia không còn, Chưa bao giờ thuyết duyên khởi của Phật
Giáo
trở nên minh bạchdễ hiểu như thế!

Khi
nghiên cứu về những vấn đề này Phật Tử sẽ suy nghĩ
như thế nào?

Trong
một quyển tiểu thuyết giả tưởng, Michel Houellebecq, cuốn
Elementary Particles (Vi Trần?), cho rằng Phật Giáo có thể đồng
ý
với cloning, hay ít ra là cũng không phản đối. Một trong
những nhân vật trong truyện phát biểu:

rồi
đây con người như chúng ta biết hiện nay sẽ biến mất,
nhường chỗ cho một chủng loại mới trung lập về phái tính,
không đàn ông mà cũng không phải là đàn bà, vượt lên trên
cá nhân, phân biệt cá thể và tiến hoá. Không cần nói là
những tôn giáo chủ trương mặc khải phản đối quyết liệt
những kỹ thuật này. Chỉ có Phật Giáo là tuy có im lặng
nghi ngờ, tuy nhiên tất cả những lời dạy của Đức
Phật
đều dựa trên đệ nhất đế, khổ đế, và phần lớn
đề cập đến sinh lão bịnh tử, và nếu Đức Phật quán
niệm
về những vấn đề này, Ngài không nhất thiết phản
bác kỹ thuật cloning.

Tôi
(tác giả) nghĩ là quan điểm của Houllebecq không đại diện
cho chánh kiến, tuy nhiên có dịp nào những tu sĩhọc giả
Phật Giáo
có dịp thảo luận về vấn đề này, có nhiều
ý kiến thích thú mới sẽ nẩy sinh và có để đưa chúng
ta
sang một bước ngoặc bất ngờ. Trong một thế giới mà
con người có khả năng (hay nghĩ mình có khả năng) kiểm soát
quá trình tiến hoá của chính chủng loại của mình và môi
sinh quanh mình, quan niệm về nghiệp của Phật Giáo có thay
đổi không? Chúng ta có quyền gì thay đổi quá trình tiến
hoá của các thế hệ tương lai? Kỹ thuật tạo sinh-sinh sản
mà không cần có liên hệ sinh lý- có giúp chúng ta tránk khỏi
bị ràng buộc những ham muốn về sinh lý? Kỹ thuật tạo
sinh có củng cố quan niệm chấp ngã và ái ngã nhiều hơn
hay là phân hóa ngã của chúng ta thành những cái ngã con con
(mini-me’s) và làm cho chúng ta mau giải thoát hơn? Hay là những
kỹ thuật tân tiến này khiến chúng ta càng ôm chặt cái ngã
‘duy ngã độc tôn vô thượng’ của mình và muốn kéo dài
tuổi già đau khổ của mình mà Đức Phật đã tiên kiến?
Quá trình thành trụ hoại diệt có còn đúng không và duyên
khởi
sẽ đóng vai trò nào?

Kỹ
thuật thay đổi, biến hoá và đùa bỡn với đời sống hiện
nay trong khoa học di truyền là những khám pháý nghĩa trọng
đại
trong lịch sử nhân loại, cũng giống như lúc con người
khám phá ra lửa và chẻ nhỏ các hạt nhân nguyên tử. Phải
có một nền đạo đức mới để hướng dẫn những quyết
định
về chánh trị và kinh tế để cùng đi tới với khoa
học tạo sinh, bởi vì chúng ta không thể ngăn cản những
tiến bộ của khoa học và kỹ thuật và thái độ cấm đoán
của Vatican chỉ phản ảnh cho một thái độ tiêu cực
vô bổ. Nghiên cứu những vấn đề này có thể làm sáng tỏ
hơn về vai trò của đạo đức Phật Giáo cũng như có thể
góp phần một phần nào vào việc thiết lập những nguyên
tắc đạo đức mới cho toàn thể nhân loại. Nếu Phật Tử,
nhất là những người xuất gia, chỉ loay hoay với những mối
lo âu hình thức lặt vặt như tạo phước điền, tụng kinh
Pháp Hoa mấy thời, niệm Phật giải thoát, chỉ tự biến
mình thành những ông thầy cúng, thầy tụng, hoàn toàn biệt
lập với đời sống và biến Đạo Phật thành những giáo
phái
kiểu vô thượng sư chuyên đi lừa bịp các tín đồ
nhẹ dạ. Có thể trích ra một thiền ngữ thích hợp cho hình
thức
tu tập kiểu này là, mài ngói nghìn kiếp, ngói vẫn
còn là ngói, chẳng bao giờ ngói trở thành gương.

Quán
Như


Viết
theo Christina Desser, Tricycle số Kỹ Niệm Mười Năm, Muà Thu
2001.


http://www.phattuvietnam.org/modules.php?name=News&file=article&sid=222

SINH
MỆNH
TỨC KHÔNG


Hồng
Dương
Nguyễn Văn Hai

Trong
kinh
số 53, Tạp A Hàm, có đoạn Phật bảo Bà la môn: “Có
nhân, có duyên, thế gian tập khởi. Có nhân, có duyên cho sự
tập khởi của thế gian. Có nhân, có duyên, thế gian diệt
tận. Có nhân, có duyên cho sự diệt tận của thế gian.”

Một
đoạn khác:

“Hỏi:
Ai tạo ra hình này (hữu tình)? Người tạo ra hình ấy ở
đâu? Từ đâu hình này sinh? Rồi về đâu hình này diệt?

Đáp:
Hình này chẳng phải tự tạo, cũng chẳng phải do ai tạo,
do nhân duyên mà sinh, nhân duyên diệt thời diệt; cũng như
hạt giống gieo ngoài ruộng, gặp đất gặp nước và ánh
sáng nhờ đó mà nảy nở; (5) uẩn, (18) giới cũng do nhân
duyên
mà sinh, nhân duyên diệt thời diệt ” (Tạp Hàm 45, trang
731).

Như
vậy tất cả đều do nhân duyên sinh, trong đó không có một
cái gì tồn tại tuyệt đối, bởi thế hữu tình tức sinh
vật, dĩ nhiên cũng không ngoài nguyên tắc ấy. Hữu tình
một hợp thể gồm nhiều yếu tố tụ tập lại chứ quyết
không phải là một thể thuần nhất, đơn độc, và cố định.
Bất cứ yếu tố nào cũng niệm niệm sinh diệt, nhất là
hiện tượng tâm lý luôn luôn lưu chuyển biến thiên, không
một phút nào dừng ở một chỗ, trong đó không có cái gì
được gọi là ngã thể thường trụ cả. Cái tự ngã mà
người thường cho là một linh thể cố định thời thật
ra chỉ là sản phẩm của không tưởng mà thôi.


tắc duyên khởi
được giải thích bằng nhiều cách. Trước
tiên
là bằng nghiệp cảm duyên khởi. Nghiệp cảmnăng
lực
tiềm thế, ảnh hưởng tồn tại của hành động sau
khi hành động chấm dứt. Nghiệp cảmnguyên nhân làm cho
bánh xe sinh hóa vận chuyển, tác thành một đời sống mới.
Sự tiếp diễn của bánh xe sinh hóa được gọi là luân hồi
(samsàra). Thuyết nghiệp cảm duyên khởi cho thấy sinh vật
tự quyết định bản chấthiện hữu cho chính nó bằng
các hành vi tự tạo (nghiệp). Bởi thế sinh vật không lệ
thuộc
uy quyền của một cái khác, như uy quyền của Thượng
đế
chẳng hạn. Do đó mà có những định luật “tự tác,
tự thọ” hay “nhân tốt thời quả tốt, nhân xấu thời quả
xấu”.


tâm là cứ điểm căn để nhất của tất cả mọi hành động
(nghiệp) nên luật duyên sinh phải được đặt trong kho tàng
tâm ý, tức tàng thức hay a lại da thức (alayavijnàna).
vậy
mà nói đến a lại da duyên khởi. Nhưng a lại da, kho
tàng chủng tử, là thể, tướng, và dụng của tâm về nhiễm
(vọng; hiện tượng) và tịnh (chơn; bản thể) hòa hiệp,
không phải một không phải khác. Do đó, a lại da xem như sinh
khởi
từ cái tổng tướng của tâm tức Như lai tạng. Mặt
khác, Như lai tạng chính là Chân như chơn tịnh tức cái tổng
thể của tâm còn bị phiền não che phủ. Bởi thế mới dẫn
đến thuyết Chân như duyên khởi.

Nhưng
vũ trụ (vạn hữu) là biểu lộ động của Chân như nên cuối
cùng
ta phải nhận xét về toàn thể tiến trình duyên khởi
của vũ trụ tức là nói đến Pháp giới duyên khởi. Pháp
giới
bao gồm hai nghĩa, vừa là tánh thể hay cảnh giới của
lý tắc, vừa là thế giới hiện tượng hay cảnh giới của
hết thảy mọi sự tướng. Theo quan niệm viên dung và đồng
khởi, Pháp giới duyên khởilý thuyết cho rằng vũ trụ
cọng hữu trên phổ quát, tương hệ trên đại thể, và hiện
khởi trong giao hỗ, không hiện hữu đơn độc một cách độc
lập
. Do đó, mười hai nhân duyên được hiểu như là một
chuỗi dây tương liên trong thời gian. Trong chiều hướng không
gian
, lý tắc duyên khởi phát biểu sự tương quan lệ thuộc
của cái này và cái kia. Pháp giới duyên khởicực điểm
của tất cả những thuyết lý nhân quả, là kết luận của
thuyết duyên khởi bởi vì nó có tính cách phổ biến và nằm
trong lý bản hữu, vô tận, thông huyền của vũ trụ. Thật
ra, Pháp giới duyên khởi là một thứ triết lý về toàn thể
tính của tất cả hiện hữu hơn là triết học về duyên
khởi
.

Nhìn
vào quá trình tra tầm và nghiên cứu trong mọi lãnh vực khoa
học ta luôn luôn thấy rằng tất cả mọi hiện tượng khảo
sát đều bị lý pháp nhân duyên chi phối, đều là kết quả
của những tác dụng của nguyên lý duyên khởi.

Năm
1944, nhà vật lý học người Áo, Erwin Schrödinger, viết một
quyển sách ngắn có tựa đề “Thế nào là sinh mệnh (What
is life?)” trong đó ông đưa ra những giả thiết rất rõ ràng
và xác đáng về cấu trúc phân tử của gen. Quyển sách này
đã khai thông một đường lối nghiên cứu mới cho ngành di
truyền
học và khởi xướng một bộ môn sinh học mới, khoa
sinh học phân tử (molecular biology).

Trong
nửa phần cuối thế kỷ 20, nhiều công trình nghiên cứu tìm
cách
trả lời câu hỏi được nêu ra trong tựa đề quyển
sách của Schrödinger và nhiều câu hỏi liên quan khác được
đặt ra trong nhiều thế kỷ qua. Làm thế nào những cấu trúc
phức hợp hiện hành từ một mớ phân tử hỗn tạp? Tâm
và não bộ có những quan hệ nào? Thế nào là thức?
Các nhà khoa học chuyển hướng và thay đổi phương cách quan
sát
suy luận. Do đó một thứ ngôn ngữ mới được hình
thành để thích ứng với sự hiểu biếtdiễn tả các
cấu trúc sinh mệnh phức hợp và hỗn nhất. Nào là thuyết
hệ thống động lực (dynamical systems theory), thuyết về tính
phức tạp (theory of complexity), động lực học phi tuyến (non-linear
dynamics), động lực học mạng lưới (network dynamics), v.. v…
Những thuyết ấy bàn về những khái niệm chủ yếu như là
quỹ đạo hấp dẫn hỗn độn (chaotic attractors), hình thể
biến lặp (fractals), cấu trúc tiêu tán (dissipative structures),
tính tự tổ chức (self-organization), và các mạng liên tục
tự tạo tự sanh (autopoietic networks).

Các
nhà sinh học chuyển đổi mục tiêu từ sự khảo sát cơ thể
(organism) qua sự khảo sát tế bào (cells). Các chức năng sinh
học nay không còn phản ảnh cách tổ chức của cơ thể mà
mô tả sự tương giao tác dụng giữa những tế bào đơn
nguyên. Thiên tài Louis Pasteur trong ngành vi sinh vật học (microbiology)
thiết lập được vai trò của vi khuẩn (bacteria) trong một
số quá trình hóa học dùng làm nền tảng cho một môn học
mới, khoa sinh hóa học (biochemistry). Ông đã chứng minh vi sinh
vật (germs; microorganisms) là nguyên nhân của nhiều thứ bệnh
tật. Bằng vào những tiến bộ thực hiện được trong ngành
sinh hóa học, một số các nhà sinh học tin tưởng mọi tính
chất
chức năng của sinh vật đều có thể giải thích
tựa trên các định luật vật lý và hóa học. Số khác chống
đối quan điểm ấy, cho rằng lối sống của sinh vật xét
trên phương diện toàn thể không thể vin vào sự khảo sát
các thành phần của nó mà thông hiểu được. Do đó phát
sinh thuyết hệ thống (systems theory).

Theo
thuyết này, các phẩm tính chủ yếu của một sinh vật hay
sinh hệ là phẩm tính của toàn thể, không cấu phần nào
của hệ có được. Chủ trương của phái này hoàn toàn đối
nghịch với phương pháp giải tích của Descartes. Đó là phương
pháp
chia chẻ vật thể ra thành cấu phần cho đến khi không
còn chia ra được nữa và khảo sát phẩm tính của các cấu
phần bất khả phân đó để thấu hiểu toàn thể vật thể.
Thuyết hệ thống xác quyết rằng không thể hiểu biết hệ
thống
bằng phương pháp giải tích của Descartes. Các phẩm
tính của cấu phần một mặt, không phải là phẩm tính của
hệ và mặt khác, chỉ có thể hiểu được bằng cách xét
chúng trong trạng huống tổ chức của toàn thể hệ thống.

Như
vậy, phẩm tính của hệ sẽ bị hủy diệt nếu chia cắt
hệ ra thành cấu phần riêng biệt. Điều đáng lưu ý ở đây
là hệ này có thể nằm trong một hệ khác. Thí dụ: một
sinh
vật là một hệ nằm trong một hệ khác như một thành
phố chẳng hạn. Do đó hệ có thể sắp hạng thành mức (level).
Mức khác nhau thời tính phức tạp cũng khác nhau. Phẩm tính
của hệ ở vào một mức được gọi là phẩm tính xuất
hiện
(emergent properties) vì chúng xuất hiện tương ưng với
mức riêng biệt đó. Ở mỗi mức, các mối liên hệ giữa
các phần của hệ hỗ tương tác dụng tổ chức sắp xếp
các quan hệ theo thứ tự thành một cấu hình biểu thị đặc
trưng gọi là mẫu hình tổ chức (pattern of organization) của
hệ và do đó mà phát khởi phẩm tính xuất hiện của hệ.

Thay
vì chọn sự vật làm đối tượng thuyết hệ thống chủ
trương khảo sát các mối quan hệ giữa các sự vật. Khi giải
thích
bất cứ sự vật gì thời phải giải thích trong sự
tương quan với những sự vật khác. Thật ra, mỗi sự vật
là một mẫu hình tổ chức gắn vào trong một mạng quan hệ
và không thể tách ly riêng biệt. Nói cách khác, mỗi mỗi
sự vật là một mạng gồm các tương quan liên hệ (relationships),
kết dệt trong những mạng rộng lớn hơn. Cơ học lượng
tử minh chứng rằng chung cánh không có thành phần cấu tử
nào cả! Nói theo ngôn ngữ Phật giáo, thế giới hiện tượng
là một mạng lưới “nhân duyên sinh” vĩ đại trong đó hết
thảy hiện tượng đều là tương đối, quan hệ chằng chịt
với nhau, nương vào nhau mà tồn tại. Không một sự vật
nào trong đó có thể tách rời mối quan hệ nhân duyên
có thể tự tồn.

Từ
lâu hình tướng của kiến thức được ví như một tòa kiến
trúc rộng lớn. Các nhà khoa học cổ điển thường dùng những
danh từ, nào là định luật cơ bản, nào là nguyên lý cơ
bản, nào là khối kiến trúc, … và luôn luôn tin tưởng
thể xây dựng khoa học trên những nền móng vững chắc. Nhưng
nhìn vào quá trình phát triển, cứ mỗi lần có một cuộc
cách mạng tư tưởng khoa học thời nền tảng khoa học lại
chuyển dịch. Einstein viết trong tự thuật tiểu sử: “Điều
xảy ra như là mặt đất sụp biến làm hỏng chân, nhìn không
thấy đâu là nền móng vững chắc để tựa vào đó mà xây
dựng” (It was if the ground had been pulled out from under one, with
no firm foundation to be seen anywhere, upon which one could have built).
Nói theo Phật giáo, sự tri nhận không có nền móng cho mọi
khái niệm khoa học về hiện tượng hay biến cố và về những
tiến trình vận chuyển năng lượngvật chất để tựa
trên đó mà giải thích chính là sự tri nhận tánh Không của
vạn hữu.


ngôi nhà kiến thức được khám phá ra là không có nền móng
nên hình tướng của kiến thức nay được thay thế bằng
một mạng lưới. Theo lối nhìn này thời mọi hiện tượng
đều bình đẳng như nhau vì tất cả cùng nằm trong mạng
lưới, không có hiện tượng nào cơ bản hơn hiện tượng
nào.

Một
câu hỏi vô cùng quan trọng được nêu ra. Nếu một sự vật
tương quan liên hệ với bất cứ sự vật nào khác, thời
hỏi làm thế nào có hy vọng hiểu biết bất cứ sự vật
gì? Là vì trong trường hợp này muốn giải thích một sự
vật tất phải giải thích hết thảy sự vật, đó là điều
không thể thực hiện được. Để trả lời câu hỏi, nên
biết rằng mọi sự hiểu biết trong phạm vi khoa học đều
là sự hiểu biết gần đúng. Lý do: Khả năng của khoa học
gia có hạn. Họ đo lường và mô tả một số hữu hạn phẩm
tính mà họ cho là quan trọng nhất khả dĩ biểu trưng đặc
tính
của sự vật khảo sát. Do đó, luôn luôn có rất nhiều
mối quan hệ bị gạt bỏ, cho nên sự hiểu biết về sự
vật không thể nào chính xác. Heisenberg đã nói: “Cái ta quan
sát
không phải là thực tại mà là cái thực tại biểu lộ
ứng với cách ta đặt vấn đề”.

Trước
năm 1970, giới khoa học gia gặp phải một vấn đề rất nan
giải. Một đằng, theo Darwin, thế giới sinh vật tiến hóa
càng ngày càng tăng trật tự và tăng tính phức tạp. Đằng
khác trái lại, theo nguyên lý nhiệt động học thứ hai của
Carnot, thời thế giới hiện tượng được xem như một hệ
thống
kín, nghĩa là không có trao đổi vật chất hay năng
lượng
với hệ thống nào khác, càng ngày càng trở nên hỗn
độn
như một động cơ hỏng máy. Vậy người nào đúng,
Darwin hay Carnot? Vấn đề đó được giải quyết nhờ công
trình
nghiên cứu các hệ thống không cân bằng mà vẫn tạm
thời tồn tại của nhà khoa học gốc Nga Ilya Prigogine, giải
Nobel năm 1977, giáo sư hóa và vật lý học tại Đại học
Free ở Bỉ. Ông thành công thiết lập một lý thuyết về
hệ thống hở, tức là một hệ thống xa vị trí cân bằng
(non-equilibrium) nhưng vẫn tạm thời giữ được trạng thái
bền vững (stability) do có sự trao đổi vật chấtnăng
lượng
với môi trường chung quanh. Nếu sự trao đổi vật
chất
năng lượng tăng nhịp độ thời ảnh hưởng đến
tính bền vững của hệ thống, gây ra một sự chuyển biến
cấu trúc của hệ thống làm tính phức tạp tăng thêm. Mọi
hệ thống kín về phương diện tổ chức, nghĩa là hệ thống
tự tổ chức lấy nó (self-organizing), không bị môi trường
chung quanh áp đặt trật tự (order) và tập tính (behavior),
nhưng hở vì có sự giao lưu năng lượngvật chất với
bên ngoài thời luôn luôn ở vào một trạng thái rất xa cân
bằng. Tuy nhiên vẫn có thể ổn định bền vững trong một
khoảng thời gian nào đó. Prigogine gọi tên những hệ thống
này là hệ thống tiêu tán (dissipative system) vì chúng phải
tiêu tán vật chấtnăng lượng để tồn tại.

Đó
chính là trường hợp của mọi hệ thống sinh vật, của mọi
sinh mệnh. Thông thường đời sống con người được quan
niệm
như một hiện tượng cân bằng nhưng không bền vững
lâu dài (a state of non-stable equilibrium). Theo Prigogine thời ngược
lại. Đời sống con người là một trạng thái không cân bằng
mà tạm thời bền vững (a temporary state of stable non-equilibrium).
Nếu muốn dùng một vật vô tri để diễn tả hình tướng
của đời sống như một trạng thái không cân bằng nhưng
tạm thời bền vững, ta có thể lấy trường hợp một xoáy
nước (whirlpool) hay một cơn lốc xoắn ốc (tornado) làm thí
dụ
.

Tuy
thuyết hệ thống rất hữu ích và thích hợp để mô tả
các hệ thống sinh vật hay sinh mệnh, nhưng trong thực tế
đến nay không mấy ảnh hưởng đến ngành sinh học. Sau ngày
nhà sinh hóa học Hoa kỳ James D. Watson và nhà sinh vật lý học
Anh Francis H. C. Crick phát minh mô thức cấu trúc xoắn kép của
DNA ứng dụng rất có hiệu quả, và được ca tụng ngang hàng
với Charles R. Darwin, nhà thiên nhiên học đã khám phá luật
tiến hóa tự nhiên, thời phần đông sinh học gia chuyển đổi
đối tượng nghiên cứu. Trước đây tế bào được xem như
khối kiến trúc (building blocks) sinh mệnh, thời nay phân tử
được xem là đơn vị cấu thành sinh vật. Các nhà di truyền
học cũng bắt đầu khai phá bộ môn sinh học mới, khoa sinh
học phân tử. Gần đây, ngoài nhiều phương cách định bệnh
trị liệu trong lĩnh vực y học mới phát minh tựa trên
sự hiểu biết cấu trúc của DNA, có hai thành quả khác rất
quan trọng thường được nhắc đến. Đó là kỹ thuật tạo
sinh vô tính [Tạo sinh vô tính là dịch chữ cloning; vô tính
ở đây là dịch danh từ sinh học asexual, có nghĩa là sự
hình thành cá thể không có sự phối hợp các giao tử (gametes),
hay sự truyền lại các vật liệu di truyền, khác với chữ
vô tính tức vô tự tính dịch tiếng Phạn nihsvabhàva dùng
để biểu trưng tính chất tương đối của mọi hiện thực],
và mới nhất là sự hoàn tất công trình thiết lập trình
tự (sequence) và định danh (naming) các gen trong toàn thể DNA
của tế bào. Điểm đáng ghi nhận về những thành công nói
trên trong ngành sinh học phân tử là sự xác nhận đời sống
con ngườibản chất vô tính (nhân bản vô tính), do nhân
duyên
mà thành hoại chứ không do bàn tay của vị thần linh
nào tạo lập hay hủy diệt.

DNA,
viết tắt chữ deoxyribonucleic acid, là vật liệu di truyền
của hết thảy mọi tế bào sinh vật và của hầu hết virus
(siêu vi trùng). Tế bào (cell) là đơn vị cấu trúc cơ sở
của mọi cơ thể sống. Các tế bào cùng chức năng tạo thành
mô (tissue), mô tạo thành các cơ quan (organ) trong cơ thể. Nhiều
tế bào là sinh vật đầy đủ như vi khuẩn (bacteria) đơn
bào và động vật (protozoa) đơn bào; nhiều tế bào khác như
tế bào của dây thần kinh, gan, và bắp thịt là những thành
phần
chuyên hóa của sinh vật đa bào. Tế bào nhỏ nhất là
tế bào vi khuẩn chất nấm (mycoplasma) có đường kính khoảng
0.1 micromet và tế bào lớn nhất là tế bào noãn hoàng (egg
yolk) đà điểu có đường kính độ 8 centimet. Mọi tế bào
đều hiện khởi do sự phân chia của một tế bào nguyên thủy.
Tất cả tế bào trong con người chẳng hạn, dẫn xuất từ
sự phân chia kế tiếp của một tế bào duy nhất, gọi là
trứng thụ tinh (zygote), do sự kết hợp của trứng nguời
mẹ và tinh trùng của người cha. Hầu hết các tế bào do
sự phân bào tạo ra bắt đầu từ trứng thụ tinh đều đồng
nhất giống nhau và đồng nhất với trứng thụ tinh về phương
diện
thành phần cấu hợp của vật liệu di truyền.

Mặc
dầu
chúng có hình tướngchức năng khác nhau rất nhiều,
tất cả tế bào đều có một màng (membrane) bao quanh một
lớp chất tế bào hay bào chất (cytoplasm). Có hai loại tế
bào: tế bào nhân sơ (prokaryote) chỉ có độc nhất một phân
tử DNA tiếp xúc trực tiếp với bào chất vì không có màng
nhân bao ngoài và tế bào nhân chuẩn (eukaryote) trong đó DNA
đa dạng và độ lượng lớn hơn có màng nhân bọc ngoài phân
cách với bào chất và tạo thành cái được gọi là nhân
của tế bào. Sinh vật có nhân sơ bao gồm vi khuẩn (bacteria)
và táo lam (blue-green algae). Sinh vật nhân chuẩn bao gồm động
vật
thực vật.

Nhân
tế
bào do hai hóa chất tạo thành, protein và DNA. Bên trong
nhân chuẩn, DNA quyện với protein tạo thành những cấu trúc
đơn vị gọi là nhiễm sắc thể (chromosome). Các nhân sơ tuy
không phân cách với bào chất vẫn chứa một ít nhiễm sắc
thể. Tế bào nào trong con người cũng có 23 cặp nhiễm sắc
thể. Trong số đó có 22 cặp gọi là thể thường nhiễm sắc
(autosomal) cả trai lẫn gái đều có giống nhau. Hai thể thường
nhiễm sắc trong mỗi cặp cũng giống nhau. Các cặp thể thường
nhiễm sắc được đánh số từ 1 đến 22. Còn lại một cặp
gọi là thể nhiễm sắc sinh dục (sex chromosomes) trong đó hai
nhiễm thể có độ dài và cấu trúc khác nhau. Các thể nhiễm
sắc
sinh dục quyết định giống đực hay cái của mỗi
thể
. Gái thời có cặp XX, hai bản sao nhiễm thể cái, hay
X nhiễm sắc. Trai thời có cặp XY, một bản sao nhiễm thể
đực, hay Y nhiễm sắc và một X nhiễm sắc. Một thể nhiễm
sắc
sinh dục là do mẹ truyền lại, luôn luôn là X nhiễm
thể; thể kia là do cha truyền lại, có thể là X nhiễm thể
mà cũng có thể là Y nhiễm thể.

Số
nhiễm sắc thể trong các tế bào sinh dục (sex cells) chỉ bằng
nửa số nhiễm sắc thể của tế bào thân (somatic cells). Trong
lúc thụ tinh một tế bào sinh dục của cha (tinh trùng) và
một tế bào sinh dục của mẹ (trứng) hợp lại tạo thành
trứng thụ tinh (zygote) chứa đầy đủ số nhiễm thể như
trong các tế bào thân. Do đó, cha mẹ đã truyền lại cho con
cái các tính chất làm cho con cái giống họ về hình dáng,
tiếng nói, v..v… Nếu vì một lý do nào đó các tế bào có
thừa hoặc thiếu một nhiễm sắc thể nơi trẻ sơ sinh, thời
trẻ
sơ sinh sẽ sinh ra dị dạng, bất bình thường. Chẳng
hạn trường hợp nhiễm sắc thể số 21 có thừa, hay còn
gọi là Dow’s syndrome, trẻ sẽ chậm lớn, ngu đần, hay có
tật bẩm sinh về tim hoặc chết vì ung thư máu.

Sau
hơn 50 năm khoa di truyền học được thành lập và tính di
truyền
qua các gen được giải thích cặn kẽ, vẫn còn nhiều
câu hỏi chưa được giải đáp. Làm thế nào các nhiễm sắc
thể và gen của chúng được sao chép đi sao chép lại nhiều
lần mà vẫn luôn luôn chính xác trong sự phân chia từ tế
bào này đến tế bào khác? Bằng cách nào chúng điều động
và hướng dẫn sự chuyển biến cấu trúc và tập tính của
các sinh mệnh? Một mô hình cấu trúc của DNA được James
Watson và Francis Crick thành lậpcông bố lần đâu tiên
vào năm 1953. Mô hình này giải thích tường tận sự tổng
hợp protein và tiến trình tái bản thông tin di truyền.
vậy
hai nhà bác học tác giả của mô hình DNA được thưởng
giải Nobel Y học năm 1962.

Cấu
trúc của phân tử DNA gồm hai chuỗi xoắn do các hợp chất
hóa học gọi là nucleotide nằm dọc theo hai chuỗi tạo thành.
Chuỗi đơn này xoắn chuỗi đơn kia tạo nên một chuỗi xoắn
kép giống hình một thang lầu trôn ốc. Mỗi nucleotide gồm
ba đơn vị: một phân tử đường gọi là deoxyribose, một
nhóm phosphate, và một trong bốn hợp chất của nitơ gọi là
base: hoặc base A (gọi tắt adenine), hoặc base G (gọi tắt guanine),
hoặc base C (gọi tắt cytosine), hoặc base T (gọi tắt thymine).
Phân tử đường chiếm vị trí giữa, bên này là nhóm phosphate,
bên kia là một trong bốn base vừa kể. Nhóm phosphate của mỗi
nucleotide liên kết với phân tử đường của nucleotide kế
tiếp
. Những liên kết đường-phosphate nằm trên chuỗi đơn
này đối hợp với liên kết đường-phosphate nằm trên chuỗi
đơn kia. Các base trên hai chuỗi đối diện nhau giống như
hai đầu của một nấc thang, mỗi đầu nằm trên một chuỗi
đơn, và như vậy, chúng liên kết hai chuỗi đơn với nhau.
Do ái lực hóa học nên nucleotide chứa A phía chuỗi này luôn
luôn cặp đôi với nucleotide chứa T phía chuỗi kia, và nucleotide
chứa C phía chuỗi này luôn luôn cặp đôi với nucleotide chứa
G phía chuỗi kia.

DNA
vận tống mọi thông tin cần thiết để chỉ dẫn sự tổng
hợp protein (protein synthesis) và sự tái bản (replication). Tổng
hợp protein có nghĩa là sản xuất các thứ protein cần thiết
cho sự hoạt động và phát triển của virus hay của tế bào.
Tái bản có nghĩa là quá trình theo đó DNA tự làm bản sao
chính nó để truyền lại cho virus hay tế bào kế thừa, đồng
thời
chuyển trao thông tin cần thiết cho việc sản xuất protein.

Các
virus không được xem như là tế bào vì chúng không có thiết
bị hóa học tái bản. Chúng phải ăn bám (ký sinh) vào các
tế bào để nhờ đó mà phiên dịch mã hóa lệnh di truyền
của chúng hầu tự sản xuất thêm ra.

Bằng
cách nào DNA chỉ thị sự sản xuất protein? Protein là những
hợp chất hữu cơ tạo nên sinh vật và có nhiều chức năng
rất quan trọng tối cần thiết đối với mọi cơ thể sống,
như điều tiết (regulation), vận chuyển (transport), bảo vệ
(protection), co rút (contraction), kiến tạo cấu trúc (structure),
và sản xuất năng lượng (energy). Thí dụ: protein với tên
gọi enzyme có phận sự điều tiết các phản ứng hóa học;
hormone tiết chế các quá trình sinh lý học; insulin kiểm soát
sự vận chuyển glucose vào tế bào. Huyết cầu tố (hemoglobin)
chuyển oxy và carbon dioxide vào máu; protein trong màng tế bào
kiểm soát sự giao lưu các vật liệu thông qua màng tế bào;
v.. v..

Đơn
vị
cấu tử của protein gồm có vào khoảng 20 phân tử axit
amin (amino acids). Cấu trúc và chức năng của protein là do trình
tự sắp xếp các axit amin định đoạt. Trình tự các axit
amin lại do trình tự các base của nucleotide trong DNA định
đoạt
. Tương hợp với mỗi axit amin riêng biệt là một bộ
ba base của nucleotide gọi là mã hay codon. Thí dụ: bộ ba GAC
là mã của axit amin leucine; bộ ba CAG là mã của axit amin valine.
Nếu một protein có 100 axit amin thời sẽ được ghi mã bằng
một đoạn phân tử DNA gồm có 300 nucleotide. Chỉ một trong
hai chuỗi đơn cấu thành chuỗi xoắn kép của một phân tử
DNA là có chứa thông tin cần thiết để sản xuất một trình
tự axit amin nào đó. Chuỗi này có tên là chuỗi bản năng
(sense strand). Chuỗi đơn kia đóng vai trò phụ lực để thực
hiện
sự tái bản (replication).

Sự
tổng hợp protein bắt đầu bằng sự phân đôi một phân tử
DNA.Trong quá trình phiên mã (transcription), một đoạn cắt (section)
trong chuỗi bản năng của DNA dùng làm mẫu hình (pattern) để
sản xuất một chuỗi mới gọi là thể truyền tin RNA (messenger
RNA viết tắt là mRNA; RNA tức ribonucleid acid). Thể mRNA lìa
khỏi nhân tế bào và buộc vào một cấu trúc tế bào chuyên
hóa gọi là ribosome, cơ xưởng tổng hợp protein. Các axit amin
được tải đến ribosome bằng một thứ RNA khác gọi là thể
vận chuyển RNA (transfer RNA; viết tắt tRNA). Trong quá trình
phiên dịch (translation), các axit amin liên kết với nhau theo
một trình tự riêng biệt đúng theo mệnh lệnh của mRNA để
tạo lập một protein.

Gen
là một trình tự các nucleotide có chức năng định rõ thứ
tự sắp xếp các axit amin trong một protein qua trung gian của
một thể truyền tin mRNA. Nếu biến đổi một nucleotide của
DNA bằng cách thay vào một nucleotide khác với một base khác
thời kết quả là trình tự biến đổi các base của nucleotide
sẽ được truyền lại cho tất cả con cháu tế bào hay virus
về sau. Do đó trình tự các axit amin trong protein sản xuất
cũng có thể biến đổi. Một sự thay đổi như vậy gọi
là một đột biến (mutation). Hầu hết các đột biến phát
sinh từ sự sai lầm trong quá trình tái bản. Bức xạ hay một
số hóa chất nào đó tác dụng trên tế bào hay virus có thể
gây ra đột biến.

Bằng
cách nào thực hiện được sự sao chép một phân tử DNA?
Sự tái bản một phân tử DNA thực hiện trong nhân của tế
bào và xảy ra ngay trước khi tế bào phân hai. Tái bản bắt
đầu với sự tách hai chuỗi xoắn kép của phân tử DNA nguyên
thủy
xa nhau ra. Gọi hai chuỗi tách riêng là chuỗi 1 và chuỗi
2 chẳng hạn. Mỗi chuỗi tách riêng dùng làm mẫu hình để
tựa theo đó mà sắp ghép một chuỗi bổ sung mới hầu tạo
nên một tái bản của DNA nguyên thủy. Sau đây ta xét cách
thức tái bản bằng vào chuỗi tách riêng 1 mà thôi. Những
gì xảy ra cho chuỗi 1 này cũng lặp lại giống hệt cho chuỗi
2 kia.

Mỗi
nucleotide trong chuỗi 1 thu hút một nucleotide mới đã được
tế bào tạo sẵn trước đó. Như vậy, một nucleotide trong
chuỗi 1 liên kết với một nucleotide sẵn có tạo thành một
nấc thang của một phân tử DNA mới. Nên nhớ sự liên kết
chỉ thực hiện do ái lực hóa học giữa A và T, giữa C và
G. Sau đó, các nucleotide bổ sung được một enzyme có tên là
DNA polymerase liên kết lại thành chuỗi bổ sung chuỗi 1. Sự
liên kết được thực hiện giữa nhóm phosphate của nucleotide
này với phân tử đường của nucleotide kế tiếp, giống như
trong DNA nguyên thủy. Cuối cùng, bên cạnh chuỗi 1 ta có một
chuỗi bổ sung hợp với chuỗi 1 thành một phân tử DNA mới,
tái bản của DNA nguyên thủy. Bên phía chuỗi 2, ta cũng có
một tái bản mới của DNA nguyên thủy. Khi tế bào phân hai,
mỗi phần tế bào sẽ mang theo một tái bản của DNA nguyên
thủy
vừa tạo lập.

Với
sự hiểu biết sâu rộng về cấu trúc và chức năng của
phân tử DNA và với những tiến bộ trong việc triển khai
thuyết hệ thống, thử hỏi nên quan niệm sự hiện khởi
của sinh mệnh như thế nào?

Các
nhà khoa học đưa ra rất nhiều giả thuyết để giải thích
nguồn gốc và sự tiến hóa của sự sống. Khi đề xướng
các thuyết ấy họ nương vào những bằng chứng tìm ra nơi
các vật hóa thạch (fossil), hoặc mô phỏng trên máy tính (computer
simulation) các điều kiện nhân duyên hiện hữu trong thời
kỳ
sơ khai của quả đất, hoặc tựa trên cấu trúc và chức
năng
của các tế bào.

Quả
đất thành hình cách đây hơn 4 tỉ năm. Trong một tỉ năm
đầu, mọi điều kiện nhân duyên để sự sống sinh khởi
lần lần hội đủ. Mới đầu quả đất là một quả cầu
lửa. Nhờ thể tích khá lớn nên quả cầu lửa khi nguội
mới đủ khả năng giữ lại một bầu khí quyển và chứa
đủ những nguyên tố hóa học cơ bản cần thiết để tạo
tác những khối kiến trúc sự sống. Quả đất lại cách
xa mặt trời một khoảng thích hợp, vừa đủ xa để sự
nguội diễn tiến theo một quá trình chậm và hơi nước ngưng
tụ thành nước, và vừa đủ gần để các khí không đóng
băng vĩnh viễn.

Sau
độ nửa tỉ năm lạnh lần, hơi nước trong khí quyển ngưng
tụ; mưa xối xả suốt nhiều ngàn năm, và nước tụ lại
thành nhiều biển cạn. Suốt thời gian dài quả đất tiếp
tục
nguội, carbon, nguyên tố cơ bản của sự sống, tổ hợp
với hydro, oxy, nitơ, sulfur, và photpho để tạo tác một số
lớn đủ thứ hợp chất hóa học. Những nguyên tố vừa kể:
C, H, O, N, S, P, là những thành phần hóa học chính yếu
mặt trong mọi sinh mệnh hiện nay.

Trong
suốt
nhiều năm, các nhà khoa học bàn cãi về vấn đề sự
sống sinh khởi từ một hỗn hợp vật liệu xuất hiện vào
thời kỳ quả đất nguội đi và biển lan rộng ra. Có thuyết
cho rằng sự sống phát khởi do một chớp điển. Thuyết khác
cho rằng sự sống được mang lại từ ngoài quả đất qua
trung gian của những vẫn thạch. Có người bác bỏ hai thuyết
ấy sau khi tính thấy xác suất để các trường hợp như vậy
xảy ra quá bé nhỏ gần như triệt tiêu. Hiện nay, những công
trình
nghiên cứu về các hệ thống có khả năng tự tổ chức
(self-organizing system) chứng minh không cần đến những biến
cố
đột nhiên như vừa đề cập để giải thích sự sinh
khởi
của sự sống.

Theo
thuyết hệ thống, môi trường của quả đất trong thời kỳ
sơ khai hội đủ điều kiện để những phân tử phức hợp
thành hình. Một số phân tử phức hợp đó lại có tính chất
xúc tác đối với nhiều loại phản ứng hóa học. Chính những
phản ứng xúc tác khác nhau lần hồi móc lồng vào nhau để
tạo ra những mạng có khả năng tự tổ chức và tự tái
bản. DNA và RNA có thể là thành phần chủ yếu của những
mạng này. Vì chỉ có DNA và RNA là những phân tử hữu
có khả năng tự tái bản mà thôi. Đến giai đoạn này sự
tiến hóa tiền sinh học đã được định hướng. Các chu
trình xúc tác biến chuyển thành những hệ thống gọi là
hệ thống tiêu tán (dissipative system), nghĩa là kín về tổ
chức nhưng hở về cấu trúc vì có giao lưu năng lượng
vật chất. Những hỗ tương tác dụng với bên ngoài của
những hệ thống tiêu tán gây ra sự mất bền vững và làm
xuất khởi những hệ thống hóa học đa dạng hơn như kết
thành màng chẳng hạn. Do đó, sinh khởi những hệ thống
màng bọc quanh, có khả năng tự tái bản, tiến hóa một thời
gian
, rồi tự hủy diệt. Những hiện tượng như vậy xảy
ra liên tiếp không ngưng. Cuối cùng, vào khoảng 2 tỉ năm
về trước, xuất hiện tế bào vi khuẩn đầu tiên và từ
đó sự sống bắt đầu tiến hóa.

Những
mô hình khoa học vừa trình bày trên về tánh sinh, trụ, diệt
của sinh mệnh đưa đến những nhận xét sau đây.

1.
Những chuỗi DNA và RNA là những kho lẫm thông tin biểu hiện
bộ mã hóa lệnh di truyền. Tuy chưa hiểu biết chính xác bộ
mã này hiện khởi và phát triển như thế nào, nhưng tựa
vào thành quả nghiên cứu bằng cách sử dụng nào là toán
học, nào là mô phỏng trên máy tính, nào là thí nghiệm trên
các phân tử sinh vật, các nhà sinh học tin rằng một khi con
số phân tử trong một quần tập hóa chất đủ các loại
tăng vượt quá một ngưỡng mức nào đó, thời toàn thể
sinh mệnh xuất khởi đồng loạt vị phân hóa như là một
mạng các phản ứng hóa học và xúc tác chuyển hóa liên tục
tự tạo tự sinh. Vào lúc ấy bộ mã di truyền hiện khởi
như là một tính chất tự nhiên của một phức hợp hóa học.
Theo Stuart Kauffman, nhà nghiên cứu nguồn gốc sinh mệnh rất
nổi tiếng, bí mật của sinh mệnh không tìm thấy được
nơi cấu trúc tuyệt mỹ của chuỗi xoắn DNA hay RNA, mà chính
ở trong sự thành tựu tự nhiên những hệ thống tiêu tán
liên tục tự tạo tự sinh.

2.
Khái niệm thông tin hiện nay rất thông dụng nhờ khắp nơi
đều biết cách nhập dòng Internet là mạng lưới thông tin
toàn cầu. Thông tin mạng lưới phát hiện là chữ, hình, hay
âm thanh do thông tục quy định nghĩa lý. Những thông tin này
truyền dẫn với một vận tốc không thể quá tốc độ ánh
sáng truyền dẫn. Thông tin cất giữ trong DNA và RNA là một
thứ thông tin khác. Đó là những mã lệnh. Một khi được
phiên mã (transcription) nghĩa là di chuyển mã thông tin di truyền
từ DNA qua mRNA và được phiên dịch (translation) tức là quá
trình mRNA rời nhân đến ribosome và chuyển mã thông tin di
truyền
thành lệnh tổng hợp protein thời DNA hoàn tất vai
trò
tổng hợp protein và tái bản truyền thừa. Trong khi thực
hiện
hai quá trình nói trên, có thể xảy ra đột biến, tức
là sự thay đổi tổ chức và cấu trúc của DNA, hoặc do tia
X, hoặc do tia tử ngoại, hoặc do hóa chất tác dụng trên
các base của DNA. Đột biến có thể gây chứng ung thư hay
những tính khác thường cho chính cá nhân hay truyền xuống
cho con cháu. Nhưng cũng có những đột biến lợi ích phát
triển trong quần thể nhờ sự chọn lọc tự nhiên theo thuyết
tiến hóa của Darwin.

3.
Vì mọi sinh hệ như tế bào (cell), cơ thể (organism), đều
hệ thống tiêu tán, kín trên phương diện tổ chức nhưng
hở trên phương diện cấu trúc, nên chỉ tạm thời ổn định
bền vững. Nói cách khác, sinh mệnh luôn luôn ở trong một
chế độ bền vững nhưng rất gần bờ vực của một chế
độ hỗn độn. Theo ngôn ngữ hệ thống động lực học
(dynamical systems), trong một chế độ hỗn độn, chỉ cần
thay đổi điều kiện nhân duyên trong hiện tại một lượng
rất bé nhỏ thời tất cả hệ thống sẽ thay đổi dạng
thức không thể lường trước. Thí dụ: Vào đầu thập niên
1960, nhà thời tiết học Edward Lorenz nhận thấy không thể
tiên đoán thời tiết trong một khoảng thời gian dài hạn
hệ thống động lực gồm ba phương trình vi phân ông sử
dụng
để tiên đoán thời tiết dẫn đến những lời giải
thật hỗn độn, nghĩa là điều kiện nhân duyên vào một
lúc nào đó thay đổi tí chút là về sau quỹ đạo của lời
giải biến thiên theo nhiều cách thật bất ngờ, không đoán
trước
được. Bởi vậy trong thuyết hỗn độn, hiện tượng
này được gọi là “hiệu quả bướm đập cánh” (Butterfly
effect). Một con bướm ở Huế đập cánh nhẹ tức thời một
cơn giông tố dữ dội nổi lên ở Hoa Thịnh Đốn!

Nói
theo ngôn ngữ Phật giáo, tập tính tồn tại của sinh mệnh
là theo Trung đạo. Nghĩa là không bền vững lâu dài để hóa
ra thường còn vĩnh viễn, không nghiêng về hỗn độn để
rơi vào hư vô đoạn diệt. Theo Stuart Kauffman, lý do các hệ
thống
phức tạp như sinh mệnh ở vào một cách thế tạm
thời ổn định bền vững và rất gần bờ vực của chế
độ hỗn độn là bởi tại luật tiến hóa (Darwin’s evolution
law) đặt chúng vào trạng thái đó.

Tóm
lại
, được thuyết minh như là hiện thân của sự biến hóa
của các phân tử di truyền hay theo thuyết hệ thống tiêu
tán
liên tục tự tạo tự sinh, sinh mệnh và sự phát sinh
của sinh mệnh đúng là pháp do duyên khởi. Do đó, theo ngài
Long Thọ, sinh mệnh “là Không, là Giả danh, và cũng chính là
Trung đạo”.

Tháng
12, 2000


Trích
từ: Nguyệt San Phật Học Xuất Bản – Phật lịch 2545