Thích Thiền Như

Muốn chuyển hóacảm xúc thì chúng ta cần chuyển hóanhận thức trước, đau khổđơn thuần cũng chỉ là một trạng thái của tâm. Nhận thức đúng sẽ giúp chúng tađạt đượcsự giải thoát sâu sắc này.
Mở đầu: Xã hội phát triển nhanh, nhu cầu về đời sống của con người ngày một tăng lên. Nhưng, mặt khác nó cũng kéo theo vô số những tác nhân gây nên cảm xúctiêu cực. Cảm xúctiêu cực được xem là một căn bệnh thuộc về sức khỏetinh thần, bất cứ ai cũng có thể mắc phải, không phân biệt già hay trẻ, giàu hay nghèo, da trắng hay da màu, nam hay nữ… nó có tác độngtiêu cực và dai dẳng đến sức khỏetinh thần cũng như sức khỏethể chất của con người.
Đạo Phật là đạo của sự thấy biết chân thật, nhìn nhận bằng con mắt trí tuệ. Tu tập theo triết lý Phật giáo nhằm phát triển hạnh phúc, tình thương, cùng sống đời sốngtích cực.
Thực hànhPhật giáo giúp tín đồnhận biếtrõ ràng những điều đang có mặt trong hiện tại, giảm căng thẳng và làm cho cảm xúctiêu cựcchuyển hóa nhanh chóng, niềm hạnh phúc cũng từ đó tăng dần.
Thực hànhđời sốnghạnh phúc giúp mỗi một con người trong xã hộigia tăngsức mạnhthể chất và tinh thần để phát triển về thể lực cũng như thành côngtrong đời sống.
I. NỘI DUNG
1. Cảm xúc và cảm xúctiêu cực
a. Cảm xúc
Cảm xúc là một trong những chất liệu vô cùng quan trọng làm nền tảng trong việc xây dựng nên đời sốngtâm lý của con người. Cảm xúctác động mạnh mẽ đến suy nghĩ, lời nói và hành động của con người là điều kiện thiết yếu để phân biệtcon người nói riêng và các loạiđộng vật nói chung, với những đồ vật vô tri vô giác hay là với rô bốt. Một trong những định nghĩa tiêu biểu về cảm xúc của các nhà tâm lý học là: “Cảm xúc là trạng thái tình cảm mãnh liệt xảy ra đột ngột trong một thời gian ngắn và gây xáo trộn trong sinh hoạttâm lý cũng như trong sinh hoạt sinh lý”(1).
b. Cảm xúctiêu cực
Cảm xúctiêu cực được hiểu là: “Những rung độngthể hiệnthái độ khó chịu, không thoải mái của cá nhân đối với các sự vật, hiện tượng có liên quan đến việc không thỏa mãn nhu cầu của họ”(2).
Một số cảm xúctiêu cực thường gặp như:
– Tức giận: Khái niệm tức giận được hiểu như là một phản ứngbản năng của cơ thể khi bị các yếu tố bên ngoài đe dọa đến bản thân, tài sản hay lòng tự trọng… mức độ biểu hiện của loại cảm xúc này không tương đồng ở mỗi người. Tức giận thường biểu hiện ở 3 khía cạnh đặc trưng:
(1) Những dấu hiệu cơ thể: Tim đập mạnh, tăng huyết áp đột ngột, tất cả các cơ đều căng…;
(2) Nhận thức: Có những cách nhìn tiêu cực về hành vi, ngôn ngữ của người khác; (3) Hành vi: La hét, đập phá…
– Buồn bã: Là cảm giácđối lập với vui vẻ, buồn là cảm giáckhông vui. Đây được xem như một loại cảm xúcliên quan đếnđau đớn, mất mát, tuyệt vọng, bất lực. Khi buồn, người ta thường rất dễ xúc động, yếu đuối. Khóc là một dấu hiệu của sự buồn bã.
– Lo âu: Lo âu là một trạng thái phát sinh khi chủ thể cảm nhận được có sự đe dọa đối với bản thân mà chưa xác định được nguyên nhânrõ ràng, biểu hiện rõ nhất của trạng tháilo âu là: Lo lắng, bứt rứt và né tránh với những tình huống gây lo lắng.
Thông thường cảm xúc này sẽ chấm dứt khi vấn đề được giải quyết hoặc sẽ tự mất đi theothời gian.
c. Nguyên nhân gây cảm xúctiêu cực
Có thể chia thành hai nhóm nguyên nhân chính là: Nguyên nhân khách quan và nguyên nhânchủ quan.
• Nguyên nhân khách quan
Những nguyên nhân khách quan cụ thể gây nên cảm xúctiêu cực:
– Cảm xúctiêu cực do môi trường tự nhiên
Cảm xúctiêu cực do môi trường tự nhiên được xuất phát từ những mối quan hệ bên trong và bên ngoài cơ thể. Cụ thể như:
(1) Chu kì thời gian sinh học không được kiểm soát; (2) Do sức khỏehạn chế, cơ thể hay ốm đau, thay đổi về ngoại hình; (3) Những tác động từ môi trường bên ngoài như: Tiếng ồn, môi trường sống đông đúc, không có tính riêng tư, không gianhạn chế, oi bức, thường xuyên thay đổi chỗ ở…
– Cảm xúctiêu cực do môi trường xã hội
Theo thuyết xung đột thì cảm xúctiêu cựcxuất hiện khi con người không có nhà ở, việc làm không ổn định, là hậu quả của những mối quan hệ xấu trong xã hội, của nghèo khổ, không có quyền hạn và vị trí trong gia đình cũng như xã hộiđồng thờivấn nạn của toàn cầu hóa cũng là nguyên nhân gây nên cảm xúctiêu cực.
Thất nghiệp, suy thoái kinh tế, gia tăngtội phạm, hội nhập và tuân giữ các tiêu chuẩnxã hội… tác động lên con người làm cho con người không ứng phó kịp và dễ rơi vào tình trạnglo âu, buồn phiền, tức giận.
– Cảm xúctiêu cực do những mối quan hệ trong gia đình
Gia đình là nơi để con ngườiquay về nương tựa trước những biến cố sốc của cuộc đời. Tuy nhiên, gia đình cũng có thể là tác nhân không nhỏ dẫn đến cảm xúctiêu cực.
Mặt khác, những biến động trong sinh hoạt, đảm trách nhiều vai trò, vấn đề thu nhập trong công việc, quan hệ trong lao động, sự phát triển nghề nghiệp… đều có thể trở thànhtác nhân gây cảm xúctiêu cực cho cá nhân đó.
• Nguyên nhânchủ quan bên trong
Một cá nhân luôn mang trong mình những suy nghĩtiêu cực cũng góp phần tạo nên cảm xúctiêu cực.
Việc cá nhân ít có thẩm quyềnquyết định trước những sự kiện quan trọng, không đảm bảo về tương lai cũng có thể gây cảm xúctiêu cực.
Việc cản trở các nhu cầu của bản thân, thất bại quá nhiều trong quá khứ, mất đi nguồn động lựcthỏa mãn, tự đánh giá thấp về bản thân, nội tâm có quá nhiều mâu thuẫn cũng là tác nhâncăn bản gây cảm xúctiêu cực.
2. Cảm xúctiêu cực trong Phật giáo
a. Định nghĩa
Trong Phật giáo, chúng ta có thể hiểu cảm xúctiêu cực như là một loại phiền não của tâm. Tính từ “tiêu cực” có nghĩa chỉ cho những trạng thái hoặc cảm nhận không tốt. Những cảm xúctiêu cực dẫn đến những hành động tiêu cực và chắc chắn đây là con đường nhanh nhất đưa đến khổ đau.
Trong Phật giáo nguyên thủy, phiền não được gọi với những cái tên khác như: Lậu hoặc, bạo lưu, ách phược, triền cái, kiết sử.
Đức Phật dạy có mười sáu loại phiền nãocấu uế của tâm:
“Này các tỳ kheo, thế nào là những cấu uếphiền não của tâm? Tham dục và tham lam bất chính là một loại phiền não làm cấu uế tâm. Sân hận….. giận dữ…..thù nghịch…..khinh thường…..hỗn láo…..đố kị….. keo kiệt…..dối trá…..lừa gạt….. bướng bỉnh…..ganh đua…..ngã mạn…..kiêu căng…..hợm hĩnh…. phóng dật…..là cấu uế của tâm. Biết rằng tham dục và tham lam bất chính là cấu uế của tâm, vị tỳ kheotừ bỏ nó. Biết rằng sân hận …. phóng dật là cấu uế của tâm, vị tỳ kheotừ bỏ nó”(3).
b. Nguyên nhân gây nên cảm xúctiêu cực
Phật giáo chỉ ra hai trong số những nguyên nhân chính gây nên mọi cảm xúctiêu cực ở con người, dẫn dắt con ngườiđi vàocon đườnglầm thanđau khổ, đọa lạctrong vòngsinh tử luân hồi đó là: Vô minh và tham ái.
• Vô minh
Muốn chuyển hóa khổ đau, đều đầu tiên chúng ta cần làm là phải nhận diệnnguyên nhân gây ra nó. Phật giáo chỉ ra nguyên nhânsâu xa nhất gây ra khổ đau chính là vô minh. Chính bởi tác hại của vô minh mà con người phát sinh những tâm tham lam, sân hận, mê lầm hay những cấu uế khác. Cũng do vô minh mà con người khổ đau với sinh, lão, bệnh, tử rồi trôi lăn mãi trong sáu nẻo luân hồi.
“Vô minh tức là đối với sự lý, không rõ biết được đúng như thật. Do đó mà sinh ra mê lầm, thật cho là giả, giả cho là thật, điên đảo, hư vọng, chấp ngã, chấp pháp, phân biệt mình, người; rồi theo cảnh thuận nghịch mà theo cảnh phiền não, nên cũng gọi là “hoặc”. Từ mê hoặc mà tạo ra các nghiệp”(4).
• Tham ái
Tham ái là nguyên nhân của mọi trở ngại, tái sinh, duyên theo lục dục ngũ trần. Chính tham ái dẫn dắt chúng ta luôn chạy theo những dục lạc phù du để rồi nhấn chìm chúng ta vào đại dươngđau khổ, là nhân đưa đến sự hiện hữu của ngũ uẩn.
Tham ái là khát vọng mù quáng của chúng sinh gây nên sân hận và tất cả mọi khổ đau phiền lụy, là nhân dẫn đến tái sinhtrong vòngluân hồisinh tử. Không phải chất độc hay bom hạt nhân mà chính tham ái là mối hại nguy hiểm nhất tiêu diệtcon người.
“Tham ái sinh sầu ưu
Tham ái sinh sợ hãi
Ai thoát khỏitham ái
Không sầu, đâu sợ hãi”
3. Quá trình chuyển hóacảm xúc
Chuyển hóacảm xúctiêu cực theo Phật giáo là sự chỉnh sửa lại các yếu tốcảm xúctâm lý bị sai lệch cho phù hợp với bản thân theo giáo nghĩatu hành mà đức Phật đã dạy để giải trừ được các phiền não trong tâm, từ đó tác độngtích cực đến hoạt độngcon người.
Quá trình chuyển hóacảm xúc thông qua các phương pháptu tập của Phật giáo có thể được khái quát các bước như sau:
a. Nhận diệncảm xúc
Bước đầu tiên để có được trạng tháicảm xúc hài hòa là cần nhận diện khổ đau để ứng phó với chúng. Như chúng ta đã biết, vấn đề đầu tiên mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng dạy cho các chúng đệ tử của mình là Khổ đế (trong Tứ diệu đế). Khổ là sự cảm nhận mà không ai trong chúng ta không trải qua, ai rồi cũng phải đối mặt và cũng phải tìm cách để thoát khỏi nó. Thực hànhnhận diệnhành tướng tâm ý, đầu tiên chính là nhận diệncon đườngbộc lộ của cảm xúctiêu cực, có hai cách bộc lộ:
– Bộc lộ ra bên ngoài: Là sự tức giận, bực bội, khó chịu… hướng bộc lộ này có thể làm cho bản thân ta vơi đi những cảm xúctiêu cực một cách tạm thời nhưng căn nguyên khổ đau thì vẫn còn đó. Bộc lộcảm xúctiêu cực ra bên ngoài gây nhiều hệ lụy như: Làm tổn thương người khác, làm đứt gãy, rạn nứt những mối quan hệ với người khác.
– Bộc lộ hướng vào bên trong: Thường gây ra mặc cảmtội lỗi, giảm thấp lòng tự trọng. Tội lỗi khiến con người ít năng lượng để thay đổi, trong khi ân hận lại là sự chấp nhận có khả năng khiến con ngườivượt quatổn thương tốt hơn. Tội lỗi cũng có thể làm cho ta chán ghétbản thân hơn, bớt yêu thươngbản thân.
b. Nhận diệnnguyên nhân
Khi đã lắng nghe được những khổ đau đang tồn tại trong ta. Muốn chuyển hóa khổ đau, chúng ta phải nhận diện được nguyên nhân gây ra nó. Phật giáo chỉ ra nguyên nhânsâu xa nhất gây ra khổ đau phiền não đó là vô minh và tham ái. Do vô minh và tham ái mà con người vướng vào tham lam, sân hận, mê lầm,…; cũng do vô minh và tham ái mà con ngườiđau khổ với sinh, lão, bệnh, tử; cũng do vô minh và tham ái mà con người bám chấp vào thân, vào các đối tượng bên ngoài, vào các trạng tháitâm bất thiện nhưng cho đó là tâm mình. Phật pháp hướng dẫn con ngườitrực nhậnsự thật và dũng cảm đối mặt với thực tại để hóa giải phiền não khổ đau thông qua vô số các phương pháptu tập như: Thực tập thiền, giữ giớihành thiện theo lời Phật,…
c. Chuyển hóacảm xúc thông qua nhận thức
Mục đích của Phật giáo là hướng dẫn con ngườithoát khỏi những dục vọng làm cho cảm xúccon người bị lệ thuộc.
Mọi dục tưởng được sinh khởi vởi vọng động mê lầm của vô minh, bởi tham luyến không có điểm thỏa mãnthôi thúc. Dục vọng là yếu tố dẫn tới hệ luỵ khổ đau. Vì vậy, Phật giáo hướng con ngườigiải thoát khỏi dục vọng, sự thoả mãn dục vọng đem lại gia tăng lòng tham và tội lỗi chứ không duyên tới an lạclâu dài, bền vững. Dục vọng không chỉ xuất phát từ sự thèm muốn mà còn ở nhận thứcsai lầm.
Bây giờ, muốn chuyển hóacảm xúc thì chúng ta cần chuyển hóanhận thức trước, đau khổđơn thuần cũng chỉ là một trạng thái của tâm. Nhận thức đúng sẽ giúp chúng tađạt đượcsự giải thoát sâu sắc này.
d. Buông xả, không bám chấp vào suy nghĩ, cảm xúc, đối tượng
Buông xả là sự từ bỏ, không bám chấp và lệ thuộc vào những hiện tượng bên trong cũng như bên ngoài. Sự chấp ngã, bám víu làm cho con ngườiđau khổ. Làm chúng ta nhầm tưởng rằng có những đối tượng thì có hạnh phúc, không có thì không hạnh phúc. Buông xả có được trên nền tảng của sự thực hànhBát Chính đạo, thực hành tám con đường này giúp con ngườiduy trì Chính niệm, giảm sự bám chấp của tâm khi tiếp xúc với các đối tượng, hiểu thực tại như “nó đang là” chứ không phải đi theoảo tưởng, vọng ý của tâm trí. Từ đó, người thực hành sẽ hiểu được cách chuyển hóa khổ đau và cuối cùng là tự giải thoát mình khỏi những trạng tháiphiền não để đạt đếnan lạc và hạnh phúc.
e. Hình thành trí tuệcảm xúc
Giai đoạn cuối cùng là nuôi dưỡngtuệ giác, lòng trắc ẩn, từ bi để bản ngãích kỷ được chuyển hóathành tâm thức rộng lớn, kết nối một cách bình an với vạn vật và tìm thấyý nghĩa của sự tồn tại. Phật giáo cho rằng những suy nghĩ, hình ảnh, cảm xúcliên tục khởi lên rồi mất đi, chúng biến đổiliên tục. Cái mà chúng ta vẫn coi là cái tôi thật sự chỉ là ảo ảnh được dựng lên mà thôi.
Người có khả năng làm cho thân thểthoải mái, hơi thở điều hòa, tâm luôn êm dịu, tỉnh thứcliên hệ rất nhiều đến trí tuệcảm xúc. Đức Phật dùng từ “thiện tri thức” để gọi những vị biết tu tập, có trí tuệ để quan sátcảm xúc giúp cho bản thân được an lạc mà những người xung quanh cũng ảnh hưởng bởi năng lượngbình an ấy.
II. Kết luận
Tóm lại, ý thức được tâm bệnh của mình thì chúng ta nên nhanh chóng tìm cho mình một phương pháptrị liệuthích hợp. Giáo lýPhật giáo thật sự có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với đạo đứcxã hội nói chung và sự hình thành nhận thức, cảm xúccon người nói riêng. Nếu kho tàng giáo lý ấy được phổ cập rộng hơn, được tất cả mọi tầng lớp trong xã hộitiếp nhận, áp dụngthực hành vào cuộc sống thì chắc chắn không còn lo sợ bởi các tệ nạn đang tấn công và rình rập gây tổn hại đến thân và tâm con người. Tu học theo Phật giáo một mặt giúp người phật tử sống đạo đức, gương mẫu để đạt đượchạnh phúc, bình an trên nền tảng cảm xúclành mạnh. Mặt khác, Phật giáo còn bao hàm chất liệu và chất lượng cuộc sống thể hiện rõ ở trị liệu, sức khỏe và tuổi thọ.
Tác giả: Đại đức Thích Thiền Như
Chánh Thư ký Ban Hoằng pháp GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế
Tạp chí Nghiên cứuPhật học Số tháng 11/2024
***
CHÚ THÍCH:
(1) Vĩnh Đễ (1969), Tâm Lý Học, NXB Hiện Đại, tr 96.
(2) Đinh Thị Hồng Vân (2014), Cách ứng phó với cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế, Luận án tiến sỹ, tr 21.

























