CHÁNH QUÁN TÁNH KHÔNG
Nguyễn Thế Đăng
Trung Luận của Bồ tát Long Thọ phá trừ mọi bám chấp thuộc về kiến (cái thấy, quan niệm) của con người để hiển bàytánh Không. Khi tánh Khônghiển lộtrọn vẹn, đó là giải thoát. Nhưng trên con đườngquán chiếutánh Không, nếu người ta lại lạc trong một kiến chấp vào cái không thì chư Phật không thể hóa độ.
9. Đại thánhthuyết pháp Không
Để lìa mọi kiến chấp
Nếu lại kiến chấp Không
Chư Phật không thể dạy.
(Quán về hành, phẩm XIII, theo bản dịch Hán văn của Cưu Ma La Thập).
Kiến chấp Không là cái chấp của ý thứcphân biệt và giới hạn vào một cái Không do nó tưởng tượng, chứ không phải tánh Không thực sự của giải thoát.
Chấp Không là bám chấp vào quan niệmtánh Không là không có gì cả, không có nhân quả, không có kiếp trướckiếp sau, không có phàm không có thánh … Từ đó người ấy tạo nghiệp xấu mà không biết lo sợ, đề phòng. Điều này chỉ làm cho cuộc đời người ấy đi xuống thấp. Kinh điển gọi cái chấp Không này là chấp đoạn, và cái chấp Có là chấp thường. Chấp đoạn hay đoạn kiến người Tây phương gọi là chủ nghĩahư vô (nihilisme). Chúng ta cần nhớ những tác phẩm của Long Thọthường dùng chữ Trung, Trung Đạo, để chỉ tánh Không thực sự thì vượt khỏi Có và Không, nghĩa là vượt khỏi thức phân biệt, để đạt đếntrí huệtánh Không, tức là trí huệ Bát nhã.
Chấp vào cái Không không có gì cả thì ngay cả chư Phật cũng không dạy dỗ, giáo hóa được.
Sở dĩchấp Không vì không theo kinh điển, không có các vị thầy chỉ dạy, nên không thể “chánh quán tánh Không”, và do đó tự hại mình:
11. Không thể chánh quán Không
Người ngu ắt tự hại
Như chẳng rành chú thuật
Chẳng khéo bắt rắn độc.
(Quán Bốn Đế, phẩm XXIV)
Chánh quán tánh Không không phải là đơn giản cho rằng không có các tướng xuất hiện, mà là các tướng xuất hiện là không có tự tánh, vô tự tánh. Thế nên để chỉ “các hiện tượng có xuất hiện nhưng vô tự tánh” này, các kinh luận thường lấy thí dụ “mặt trăng trong nước, như bóng trong gương, như ảo ảnh, như tiếng vang, như huyễn, như mộng…”
2/ Chân lý tương đối và chân lýtuyệt đối
Để chánh quán tánh Không, thoát khỏi sự sai lầm của việc chấp Không, một điều học quan trọng nhất là học hai chân lý: chân lýquy ước, tương đối (tục đế hay thế đế) và chân lýtuyệt đối, tối hậu (chân đế hay đệ nhất nghĩa đế). Thế nên cũng trong phẩm Bốn đế nói về tự hại khi không biết bắt rắn, ngài Long Thọ nói về hai chân lý:
7. Nay ông thật không biết
Không, nhân duyên của Không
Và biết nghĩa của Không
Thế nên sinh phiền não.
8. Chư Phật y hai đế
Vì chúng sanhthuyết pháp
Một là thế tục đế
Hai, đệ nhất nghĩa đế.
9. Nếu người không thể biết
Phân biệt hai đế này
Thì với Phật pháp sâu
Chẳng biết chân thực nghĩa.
10. Nếu chẳng y tục đế,
Chẳng đắc đệ nhất nghĩa.
Chẳng đắc đệ nhất nghĩa
Thì chẳng đắc Niết bàn.
Muốn biết nghĩa của tánh Không, phải biết có hai chân lýquy ước, tương đối và chân lýtuyệt đối, tối hậu.
Chân lýquy ướctương đối là chân lý của thế gian như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thành công, thất bại, trước sau, quá khứhiện tạivị lai, và vân vân. Chân lýquy ướctương đối này cần thiết cho cuộc sống làm người, cuộc sống xã hội. Nhưng nếu cho chúng là tuyệt đối là bắt đầu sai lầm và sự sai lầm này dẫn chúng ta vào sanh tử luân hồi.
Chấp vào chân lý tương đối rồi cho nó là tuyệt đối, điều này gọi là chấp thường và đưa con người vào sanh tử. Để thoát khỏi sự mê lầm này, phải thấy thật tướng của chân lýquy ước và tương đối là không có tự tánh, không thật, vô tự tánh. Nói cách khác, phải đưa chân lý tương đốitrở vềchân lýtuyệt đối là tánh Không để giải thoát cho chân lý tương đối.
Chấp Không là cho rằng không có chân lý tương đối, rộng hơn, không có sanh tử luân hồi. Một hình thứcchấp Không khác là nghĩ rằng phá hoại hết các thứ tạo thành sanh tử thì sẽ đạt đượctánh Không. Nhưng tánh Không không do phá hoại sắc mà thành, vì Bát nhã tâm kinh nói, “Sắc tức là Không, Không tức là sắc. Tất cả các pháp khác cũng đều như vậy”.
Thế nên, muốn giải thoát các pháp tương đối và quy ước tạo thành thế giới và chúng sanh thì không phải là hủy diệt thế giới và chúng sanh mà là đưa thế giới và chúng sanhtrở lạithật tánh của chúng. Thật tánh ấy là không có tự tánh, vô tự tánh, tức là tánh Không.
Chân lý tương đối, quy ước là cần thiết để chứng đắcchân lýtuyệt đối và tối hậu. Sắc là cần thiết để hiển bàytánh Không, vì bản tánh của sắc là vô tự tánh, là tánh Không. Thế nên, câu kệ thứ 10 ở trên nói, “Nếu chẳng y tục đế, chẳng đắc đệ nhất nghĩa, chẳng đắc đệ nhất nghĩa, thì chẳng đắc Niết bàn”. Tánh Không là đệ nhất nghĩa và đệ nhất nghĩa là Niết bàn. Tánh Không chính là Niết bàn.
Hơn nữa, “sắc tức là Không, Không tức là sắc”, nghĩa là thế đế (sắc) là đệ nhất nghĩa đế (Không) và đệ nhất nghĩa đế (Không) tức là thế đế (sắc).
3/ Tánh Khôngchuyển hóasanh tử thành Niết bàn
Luận nói Niết bàn không riêng hiện hữu ngoài sanh tử, nghĩa là đệ nhất nghĩa đế không riêng hiện hữu ngoài thế đế. Trong thật tướngtánh Không, không có cái thấy phân biệt giữa sinh tử và Niết bàn.
10. Chẳng lìa ngoài sanh tử
Mà riêng có Niết bàn
Nghĩa thật tướng như vậy
Làm sao có phân biệt?
(Quán Trói buộc và Giải thoát, XVI)
Bản tánh của các pháp cũng tức là thật tướng của tất cả các pháp. Thật tướng ấy là Niết bàn. Nói cách khác, bản tánh của tất cả các pháp là Niết bàn.
7. Thật tướng của các pháp
Tâm hànhngôn ngữ đoạn
Vô sanh cũng vô diệt
Tịch diệt như Niết bàn.
Như thế, giải thoát đối với Trung Luận không phải là từ bỏ, tránh thoát sanh tử mà là đưa sanh tửtrở vềbản tánh Không của chính nó. Bản tánh Không của sanh tử chính là Niết bàn.
19. Niết bàn và thế gian
Không có chút phân biệt
Thế gian cùng Niết bàn
Cũng không chút phân biệt.
20. Thực tế của Niết bàn
Cùng với tế thế gian
Hai tế ấy như vậy
Không mảy may sai khác.
(Quán Niết bàn, XXV)
Không phải xóa bỏ sắc để có Không, không phải xóa bỏsanh tử để có Niết bàn, mà thật tướng của sắc là tánh Không, thật tướng của sanh tử là Niết bàn.
Thế giansanh tử (thế đế) không có chút phân biệt, khác biệt nào với Niết bàntánh Không (đệ nhất nghĩa đế). Biên tế của sanh tử không sai khác với thực tế của Niết bàn. Chỗ nào có sanh tử chỗ ấy có bản tánh của sanh tử là Niết bàntánh Không.
Cuối cùng, Trung Luận có cùng một kết luận với các kinh Đại thừa, “sanh tử tức Niết bàn”, không mảy may sai khác.




























