Chân Lý Tương Đối Và Chân Lý Tuyệt Đối

0
36

CHÂN LÝ TƯƠNG ĐỐICHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI
Hoà Thượng Thích Thanh Từ

I. CHÂN LÝ TƯƠNG ĐỐI

Chân lý tương đối là những sự thật còn
nằm trong đối đãi đối trị nhau. Những sự đối đãi ấy là: sáng đối tối, lạnh đối
nóng, xấu đối tốt, thiện đối ác, khổ đối vui, động đối tịnh, sanh diệt đối
sanh
…Còn sanh hoạt trong tương đối thì, có xấu phải có tốt, có thiện phải có
ác, có khổ phải có vui…, chúng ta không thể chối cãi sự thật ấy được. Chỗ
khôn ngoan của chúng ta là, khéo lợi dụng cái này đối trị cái khác, để tiến lên
đúng nguyện vọng của mình. Như lương y biết bệnh biết thuốc, khéo dùng thuốc
trị lành bệnh cho người. Phật pháp là những phương thuốc trị lành bệnh cho
chúng sanh, nên gọi Phật là Ông vua thầy thuốc (Vô thượng y vương). Ở đây,
chúng ta chỉ đơn cử vài lối đối trị để làm sáng tỏ lẽ này.

Sáng đối tối.
Chúng ta biết tối không phải tự nó tối, mà do nhân duyên thiếu ánh sáng. Nếu ta
khéo tạo điều kiện – đèn dầu, đuốc, đèn điện…- cho nó ánh sáng thì bóng tối
tự mất. Ngược lại, muốn có bóng tối cũng như thế. Đây là cái tối, sáng của hiện
tượng
bên ngoài. Đến cái tối, sáng tinh thần bên trong của chúng ta cũng có
nhân duyên. Nhân thiếu học, thiếu đọc sách khiến ta tối dốt. Dùng ánh sáng học
tập đọc sách… thì cái tối dốt dần dần tiêu diệt.

Nóng đối lạnh.
Chúng ta nhân chạm khí lạnh, gió lạnh, nước lạnh… nên phát lạnh run. Biết
thế, chúng ta phải tạo điều kiện cho có hơi nóng để đối trị, như đốt lửa hơ, lò
sưởi ấm, mền bông trùm… Ngược lại,

Khổ đối vui. Khổ
có nhiều loại: khổ do đói rét, khổ do bệnh tật, khổ do vô minh phiền não… Nếu
khổ do đói rét, chúng ta phải nỗ lực tạo điều kiện cho có ăn có mặc, tức là lấy
cái vui no ấm trị cái khổ đói rét. Nếu khổ vì bệnh tật, chúng ta phải dùng
thuốc thang điều trị, lấy cái vui khỏe mạnh trị cái khổ bệnh tật. Nếu khổ do
minh
phiền não, chúng ta phải lấy chánh pháp của Phật trị nó. Vô minh phiền não
tức là si tham sân. Si mêvô minh, tham sân là phiền não.

Bệnh si mê, chúng
ta
dùng trí tuệ điều trị. Tức là dùng pháp “quán giới phân biệt” hay “quán nhân
duyên”. Bởi chúng ta lười biếng không chịu phân tích quán sát nên tâm trí mờ
tối. Phân tích nội tâm tự thân và ngoại cảnh có chia từng phần từng giới hạn,
gọi là quán giới phân biệt. Chính sự chia chẻ quán sát ấy, khiến chúng ta thấy
thân tâm này không thật, trí tuệ do đó dần dần phát sanh. Hoặc dùng quán
nhân duyên
, khéo khảo sát như phần “duyên sanh” trong mục Chân lý phổ biến
trước.

Bệnh tham lam,
cần phải tra xét coi tham thuộc loại nào trong năm thứ tham: tham tiền của,
tham sắc đẹp, tham danh vọng, tham ăn uống, tham ngủ nghỉ.

Tham tiền của thì
dùng bố thí trị. Bởi vì tham thì muốn gom góp gìn giữ, mà bố thí thì ban cho,
cứu giúp chia sớt. Chính của mình còn mang ra cứu giúp chia sớt kẻ khác, huống
là của họ mà mình muốn gom góp về, thật vô lý. Do thật tâm bố thí thì bệnh tham
tiền
của từ từ lành hẳn.

Tham sắc đẹp và
ăn uống phải dùng pháp “quán bất tịnh” điều trị. Bất tịnh là bẩn thỉu nhơ nhớp.
Xét nơi thân mình từ trong đến ngoài toàn trữ những đồ nhơ nhớp, như cái bô đậy
kín, nếu nó hở rỉ ở đâu sẽ nghe mùi hôi thối tràn ra đấy. Những thứ nước hoa,
mùi son phấn, đều là loại sơn vẽ khéo của cái bô. Nếu thật con người là sạch
sẽ, cần gì phải tô điểm. Các loại tô điểm ấy chẳng qua là, lối đánh lừa mắt mũi
kẻ khác mà thôi. Những thức ăn uống lúc còn bên ngoài dường như thơm ngon, song
khi qua khỏi cổ, sẽ biến thành những đồ bất tịnh. Thường dùng lối quán sát thân
nhơ nhớp như thế, sẽ trị lành bệnh tham sắc đẹp và ăn uống.

Tham danh vọng và
ngủ nghỉ, nên dùng pháp “quán vô thường” điều trị. Vô thường là chỉ cho sự đời
chợt còn chợt mất không bền bỉ lâu dài. Danh vọng được đó rồi mất đó, như sương
đầu ngọn cỏ, như lằn điện chớp. Thường nghĩ xét như thế thì còn lòng nào đeo
đuổi danh vọng. Đời người mỏng manh sớm còn tối mất, lúc còn khoẻ mạnh còn hoạt
động
, chúng ta phải quí tiếc thời gian, nỗ lực làm lợi ích cho mình cho người,
đừng để một đời trôi qua vô ích. Thấy rõ như vậy thì, đâu cam giết chết thì giờ
trong cái ngủ nghỉ.

Sân hận dùng pháp
“quán từ bi” hạnh “nhẫn nhục” và “hỉ xả”, trị nó. Sân là nóng giận, hận là hờn
phiền. Nóng giận muốn la rầy đánh đập cho đã cơn giận, khiến người phải đau
khổ
. Bởi vì khi giận thì không thương, lúc thương thì không giận. Từ bi là hằng
đem lòng thương chan rải khắp mọi người, xem sự vui khổ của người như sự vui
khổ của chính bản thân mình. Thương người như mình, còn lòng nào hại người đau
khổ
. Tay trái lỡ đập tay phải đau điếng, tay
phải cam nhận chịu không đập lại, vì biết cùng một thân mình. Lòng thương xem
người như mình, dù bị người làm đau khổ mấy cũng nhịn chịu, không nóng giận hại
lại. Nhẫn nhục là nhịn chịu. Khi cơn nóng nổi lên cố gắng dằn ép xuống, để giữ
bình tĩnh
và nhịn chịu cho qua. Bởi đè ép nên chỉ là phương tiện tạm thời không
thể hết gốc nóng giận. Chỉ có quán từ bi thành công thì gốc nóng giận mới tiêu.
Hờn phiền là lòng còn ôm ấp những mối bất bình. Hỉ xảvui vẻ buông bỏ hết,
khiến lòng nhẹ nhàng thơ thới. Ôm lòng hờn phiền là gốc bệnh hoạn khổ đau, vui
vẻ
buông bỏ hết thì lòng vui tươi an ổn, bệnh hoạn khổ đau không có lý do gì
tồn tại.

Khổ từ ngoại
cảnh
, khổ nơi bản thân, khổ của nội tâm, chúng ta khéo lấy sự an vui đối trị.
Vui no ấm, vui khoẻ mạnh, vui sáng suốt, vui hết tham lam, vui không nóng
giận… trị lành các bệnh khổ ở trên.

Khổ là thành quả
xấu do nhân duyên xấu tạo nên. Khổ về vật chất và thể xác, do nhân duyên thiếu
thốn
hoặc phản nghịch của vật chất gây nên. Khổ về tinh thần, do nhân duyên si,
tham, sân… chủ động. Si là không biết đúng lẽ thật nên sanh tham, tham không
được như ý nên nổi sân. Ba thứ này là nhân chánh tạo nên quả khổ. Quả khổ là
Khổ đế, nhân duyên tạo nên nó là Tập đế. Biết rõ nguyên nhân

Động đối tịnh.
Động là xao xuyến rối loạn, tịnh là yên ổn lặng lẽ. Ở đây riêng giải thích về
cách đối trị của tâm thức. Tâm thức chúng ta xao xuyến rối loạn khiến suy yếu
mờ tối. Muốn dừng sự xao xuyến rối loạn này, chúng ta phải dùng sự yên ổn lặng
lẽ
đối trị. Song chúng ta phải biết rõ do nhân duyên gì khiến tâm thức xao
xuyến
rối loạn. Bởi tâm thức chạy theo sự được mất tiền của, được mất sắc đẹp,
được mất danh vọng, được mất ăn uống, được mất ngủ nghỉ, mà thành xao xuyến rối
loạn
. Muốn dừng sự chạy theo ấy, Phật pháp dạy chúng ta trước tiên phải giữ
giới
. Giới là hàng rào ngăn chận tâm thức chạy theo ngũ dục. Kế dùng phương
pháp
thiền quán làm sợi dây cột nó lại. Ngoài có hàng rào giới luật, trong có
sợi dây thiền quán, con khỉ tâm thức sẽ thúc thủ ngồi yên, dần dần ngủ lịm.
Giới có năm giới, mười giới v.v… nhằm ngăn chận mọi sự đuổi theo ngoại cảnh
của tâm thức. Thiền quánsổ tức quán, từ bi quán, bất tịnh quán, nhân duyên
quán
…, cốt cột chặt tâm thức lại một chỗ, bắt buộc nó phải yên lặng. Đây là
phương pháp lấy tịnh trị động.

Sanh diệt đối
sanh
. Cặp đối này cũng gọi là sanh tử đối Niết-bàn. Sanh diệt là nói chung cho
muôn loài, sanh tử chỉ nói riêng cho loài động vật. Sanh tử đối Niết-bàn, lại
khu biệt hoàn toàn vào người Phật tử. Muôn loài hằng chịu sanh diệt, mà không
biết lẽ vô sanh, để dùng đối trị. Đức Phật sau khi giác ngộ đã thấy rõ lẽ ấy,
nên dạy đệ tử lấy vô sanh đối trị sanh diệt hay sanh tử. Vô sanh là nghĩa chánh
của Niết-bàn. Dòng tâm thức biến động là nguồn gốc sanh tử. Tâm thức biến động
bởi do luyến ái bản thânngoại cảnh. Nếu biết rõ cảnh vật vô thường, thân
người vô ngã thì dòng luyến ái sẽ khô kiệt, tâm thức sẽ dừng lặng. Tâm thức
dừng lặng thì nhân duyên sanh tử dứt bặt, đó là nghĩa vô sanh. Ví như gió dừng
thì sóng lặng, mặt biển sẽ bằng phẳng an lành. Luyến áiđộng cơ thúc đẩy tâm
thức
sanh diệt, còn luyến ái thì sanh tử không bao giờ dứt. Chúng ta yêu mến
một người, người ấy vắng đi thì tìm cách gặp lại, hoặc nơi này hay nơi khác.
Lòng yêu mến thúc giục chúng ta tìm gặp nhau mãi mãi. Chỉ khi lòng yêu mến cạn
thì, sự tìm kiếm mới dừng. Trong pháp Mười hai nhân duyên, Ái là động cơ thúc
đẩy
có Thủ, Hữu rồi Sanh Lão Tửđời sau. Ái dứt thì Thủ Hữu không còn, làm gì
có Sanh Lão Tử tiếp nối. Ái là luồng gió mạnh thổi cuốn sóng tâm thức nổi dậy.
Gió Ái dừng thì sóng tâm thức cũng theo đó mà lặng. Bức tường chặn gió Ái không
gì hơn quán các pháp vô thường, quán thân tâm vô ngã.

Bờ sông bên này
sanh tử, bờ sông bên kia là Niết-bàn. Thấy rõ như thế, hành giả cấp bách kết
bè vượt dòng sông qua bờ bên kia, qua rồi từ biệt vĩnh viễn bờ sông bên này. Đó
quan niệm chán sanh tử cầu Niết-bàn của hàng Nhị thừa, vì còn thấy sự đối
đãi
chân thật. Cũng dùng phương pháp đối trị này, song Bồ-tát chỉ thấy là
phương tiện tạm thời, nên không mắc kẹt ưa chán.

Chân lý tương đối
bàng bạc khắp thế gian. Bất luận nhân loại vật loại ngôn ngữ tư tưởng… phát
xuất đều nằm gọn trong phạm vi của nó. Chúng ta khôn khéo ứng dụng tài tình
những phản đề, để tiêu diệt chúng theo đúng đường lối vươn lên của chúng ta.
Không biết dùng, hoặc dùng sai phương pháp đối trị, mà muốn tiêu diệt chúng,
không bao giờ thành công. Thầy thuốc hay, là người khéo biết bệnh biết thuốc và
dùng thuốc trị liệu đúng phương pháp. Vì thế, Phật pháp gọi là “phương pháp trị
liệu”.

II. CHÂN LÝ TUYỆT ĐỐI

Một thực thể
không lệ thuộc nhân quả, duyên sanh, thoát ngoài đối đãichân lý tuyệt đối.
Không thuộc nhân quả nên không sanh diệt vô thường. Không thuộc duyên sanh nên
không phải hợp tướng giả dối. Thoát ngoài vòng đối đãi nên không trị liệu,
không so sánh, không luận bàn, không suy nghĩ đến được. Thực thể này không lệ
thuộc
thời gian, không bị chi phối của không gian, vượt ngoài mọi đối tượng
trong vũ trụ. Chính nó là sanh mạng là mạch sống của chúng sanh, mà chúng sanh
không nhận ra nó. Nó hiển nhiên hằng có mặt nơi chúng ta, mà chúng ta lãng quên
nó một cách đáng thương. Nó là thể chẳng sanh chẳng diệt vĩnh cửu trường tồn
của chúng ta, chúng ta không biết đến nó, đi nhận cái sanh diệt tạm bợ làm
mình. Bỏ quên thực thể này là vô minhsi mê, nhận được nó là giác ngộtrí
tuệ
. Bỏ quên nó, đi theo sanh diệtluân hồi, nhận sống với nó là vô sanh
giải thoát. Bởi thực thể này hệ trọng dường ấy, nên chúng ta phải biết: Nó tên
gì? Làm sao nhận ra nó? Nhận được nó có lợi ích gì? Chúng tôi sẽ theo thứ tự giải
quyết
những thắc mắc này.

Thực thể này
nguyên không có tên, trong Phật pháp tùy công dụng gắng gượng đặt rất nhiều
tên: Kinh Kim Cang gọi là Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật tức là trí tuệ cứu kính
như kim cang. Bởi vì trí tuệ này không có cái gì phá hoại được nó, mà nó hay
phá hoại tất cả, như chất kim cang. Kinh Viên Giác gọi nó là Viên giác tánh, là
tánh giác tròn đầy. Vì đối với các thứ chân lý, chúng ta nhận được từng phần
chân lý nào thì, giác ngộ phần chân lý ấy, nên gọi là phần giác. Chỉ nhận được
Chân lý tuyệt đối này, mới gọi là giác ngộ viên mãn. Kinh Pháp Hoa gọi là Tri
kiến Phật
hay Phật thừa. Bởi vì nó là cái thấy biết Phật, là cỗ xe đưa người
đến Phật quả. Kinh Hoa Nghiêm gọi là Trí tuệ Phật. Vì nhận được thực thể này là
trí tuệ giác ngộ của chư Phật. Kinh Lăng Nghiêm gọi là Chân tâm hay Như lai
tàng
. Nó là tâm thể chân thật hay kho tàng Như Lai của chúng sanh. Kinh
Duy-ma-cật gọi là Pháp môn bất nhị, vì nó vượt ra ngoài vòng đối đãi hai bên.
Thiền tông gọi là Chân tánh. Nó là tánh chân thật của tất cả chúng sanh. Lại
còn những tên thông dụng là: Chân như, Phật tánh, Pháp thân, Đạo, Bản lai diện mục…, không thể kể xiết.

Tạm biết tên thể này một cách khái quát rồi, chúng ta cần phải
nhận ra mặt mày nó mới là điều thiết yếu. Song phàm có nói năng có trình bày
đều thuộc về tương đối, làm sao diễn đạt khiến người chưa hiểu nhận được. Đây
quả là điều thiên nan vạn nan. Tuy nhiên, chúng tôi cũng gắng gượng trước tạm
đặt những nguyên tắc, kế dẫn lời Phật dạy trong kinh, sau cùng nhắc lại những
phương tiện của Thiền sư, họa chăng quí độc giả có nhận được phần nào chăng?

Chúng ta tạm đặt
những nguyên tắc để khả dĩ nhận ra mặt mày của nó. Phàm cái gì “có hình tướng
đều do duyên hợp là hư giả”, cái gì “có tác động là sanh diệt”, cái gì “đối đãi
là không thật”. Ngược lại, cái gì “không hình tướng, không tác động, không đối
đãi
chân thật thường còn vô sanh”. Cái không hình tướng thì không giới hạn
chỗ nơi trong ngoài. Vừa đặt câu hỏi tìm chỗ nơi nó là sai. Cái không tác động
thì không sanh diệt, không bị vô thường theo thời gian. Đặt vấn đề thời gian
với nó là sai. Cái không đối đãi thì không còn so sánh không phân biệt. Đặt vấn
đề
so sánh phân biệt với nó là sai. Thực thể này tràn đầy hiện hữu nơi chúng
ta
. Vừa dấy tâm tìm kiếm nó là sai. Nó là thực thể của giác tri, không phải cái
đối tượng giác tri. Nếu khởi nghĩ cầu biết nó là sai. Nó không hình tướng,
không tác động, không đối đãi, mà có mặt khắp ba nơi ấy. Cho nên nghĩ ly khai
hình tướng tác động đối đãi để tìm nó là sai. Yếu chỉ nhận ra nó là tự ta “trực
nhận, thầm nhận”. Lời Phật dạy, phương tiện Tổ chỉ đều là lối “đập cỏ rắn sợ”
hay “vỗ nước cá đau đầu” mà thôi. Chúng ta muốn nhận ra nó phải khéo nhìn theo
tinh thần “ngón tay chỉ mặt trăng”. Mặt trăng không nằm tại đầu ngón tay, khéo
nương theo ngón tay thấy mặt trăng ở tận trong hư không. Hoặc nhìn theo tinh
thần
soi gương. Nhân thấy bóng trong gương, biết được mặt thật của mình, đừng
chấp bóng là thật, đợi khi xoay gương mất bóng la hoảng lên “mất mình”.

Đây là phương
tiện
tạm đặt những nguyên tắc, nương nó khả dĩ chúng ta thấy được thực thể
chính mình.

Thực thể này biểu
lộ
thường xuyên nơi sáu cơ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) của chúng ta, mà
không lệ thuộc hoàn toàn sáu cơ quan ấy. Dễ nhận dễ thấy nhất là, ở mắt và tai.
Vì thế, đức Phật khi muốn chỉ thực thể chẳng sanh chẳng diệt ấy, thường dùng
phương tiện chỉ ngay nơi mắt và tai của chúng ta.

Kinh Lăng Nghiêm
có đoạn:

…Phật ở trong đại
chúng
đưa tay lên rồi nắm lại xòe ra, nắm lại xòe ra, hỏi ngài A-nan: Nay ông
thấy cái gì? A-nan thưa: Con thấy bàn tay trăm báu của Như Lai ở trong chúng
xòe nắm. Phật bảo A-nan: Ông thấy tay ta ở trong chúng xòe nắm, là tay ta có
xòe có nắm hay cái thấy của ông có xòe có nắm? A-nan thưa: Tay
trăm báu của Thế Tôn ở trong chúng xòe nắm. Con thấy tay Như Lai tự xòe nắm,
chẳng phải tánh thấy của con có xòe nắm. Phật hỏi: Cái nào động cái nào
tịnh? A-nan thưa: Tay Phật động, tánh
thấy
của con còn không có tịnh, huống nữa là động. Phật khen: Đúng thế!

Lúc đó, trong lòng bàn tay Phật phóng một làn hào quang
báu soi bên phải ngài A-nan, A-nan liền xoay đầu nhìn bên phải; lại phóng quang
soi bên trái ngài A-nan, A-nan xoay đầu nhìn bên trái.

Phật hỏi A-nan: Hôm nay tại sao đầu ông dao động? A-nan
thưa: Con thấy hào quang báu của Như Lai phóng đến bên trái bên phải của con,
con nhìn theo hai bên nên đầu tự dao động. Phật hỏi: Ông nhìn hào quang
Phật soi bên trái bên phải nên đầu dao động, thế là đầu ông động hay cái thấy
động? A-nan thưa: Bạch Thế Tôn! Đầu con tự động, tánh thấy của con còn chẳng
dừng, huống là dao động. Phật khen: Đúng thế!

Khi ấy, Như Lai bảo khắp đại chúng rằng: Nếu như chúng
sanh
nhận lấy cái dao động gọi là trần, nhận lấy cái dao động gọi là khách. Các
ông xem A-nan, đầu tự dao động cái thấy không động. Lại xem ta, tay tự
xòe nắm cái thấy không xòe nắm. Tại sao hôm nay các ông lấy động làm thân, lấy
động làm cảnh, từ thủy đến chung niệm niệm sanh diệt, quên mất chân tánh làm
việc điên đảo, tâm tánh đã mất chân, nên nhận vật làm mình, ở trong luân hồi tự
chịu lưu chuyển.

(Kinh Lăng Nghiêm
cuối quyển 1 Hán tự)

Qua đoạn kinh
này, chúng ta nhận thấy thâm ý Phật muốn chỉ cho ngài A-nan và đại chúng biết:
Ngoại cảnh biến động sanh diệt như bàn tay Phật xòe nắm, thân này dao động
thường
như đầu ngài A-nan xoay qua lại. Chỉ có cái thấy, xem thấy cảnh biến
động
mà không bị biến động, tựa nơi đầu dao động mà không bị dao động. Cái biến
động
dao độngvô thường hư giả, tại sao chúng ta nhận nó làm thật thân
mình, làm thật cảnh của mình? Trái lại, cái thấy biết chưa từng dao độngchân
thật
vô sanh, mà chúng ta lại bỏ quên nó, để cam chịu lưu chuyển luân hồi.

Lại cũng một đoạn
trong kinh Lăng Nghiêm:

Vua Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: Con xưa chưa từng nghe
sự chỉ dạy của Phật, gặp Ca-chiên-diên, Tỳ-la-chi-tử đều nói: “Thân này sau khi
chết
không còn gì nữa, gọi là Niết-bàn.” Nay con tuy gặp Phật vẫn còn hồ nghi
“làm sao phát huy chứng biết chỗ tâm này chẳng sanh chẳng diệt”? Đại chúng
đây, những người còn trong hàng hữu lậu, thảy đều thích được nghe. Phật hỏi:
Đại vương! Nhục thân hiện tại của ông là đồng kim cang thường trụ chẳng hoại
hay là biến hoại? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Thân con hiện nay trọn theo biến
diệt. Phật bảo: Đại vương! Ông chưa từng diệt làm sao biết nó diệt? Vua thưa:
Bạch Thế Tôn! Thân biến hoại vô thường của con tuy chưa từng diệt, song con xem
hiện tiền niệm niệm đổi dời luôn luôn chẳng dừng, như lửa tàn thành tro dần dần
tiêu mất, mất hết không dừng, nên biết thân này sẽ theo tiêu diệt. Phật bảo:
Đại vương! Đúng thế. Nay ông đã già, đi theo suy yếu, nhan mạo đâu giống lúc
còn trẻ? Vua thưa : Bạch Thế Tôn! Thuở xưa con còn trẻ da dẻ tươi nhuận, đến
lúc trưởng thành khí huyết sung mãn, nay con già cả suy yếu hình sắc khô khan,
tinh thần mờ tối, tóc bạc mặt nhăn không còn bao lâu sẽ chết, làm sao sánh được
với lúc sung thạnh? Phật bảo: Đại vương! Hình dung của ông đâu lẽ già liền? Vua
thưa: Bạch Thế Tôn! Nó thầm biến hóa đổi dời thật con chẳng biết, nóng lạnh đổi
thay dần dần đến như thế. Vì sao? Khi con hai mươi tuổi tuy nói niên thiếu,
nhan mạo đã già hơn lúc mười tuổi, đến ba mươi tuổi lại suy hơn hai mươi tuổi,
nay đã sáu mươi hai tuổi xem lại thuở năm mươi tuổi rõ ràng cường tráng. Bạch
Thế Tôn! Sự thầm đổi dời tuy đặt thời hạn mười năm, song con suy xét kỹ nó biến
đổi
đâu những mười năm hai mươi năm, mà thật dời đổi từng năm; đâu chỉ từng
năm, mà dời đổi từng tháng, đâu những từng tháng mà dời đổi từng ngày. Suy xét
chín chắn tế nhị hơn thì khoảng mỗi sát-na, mỗi niệm đổi dời. Vì thế, biết thân
con trọn theo biến diệt. Phật bảo: Đại vương! Ông thấy sự biến hóa đổi dời
chẳng dừng, ngộ biết thân ông tiêu diệt; cũng chính khi diệt đó, ông biết trong
thân có cái chẳng diệt chăng? Vua chấp tay bạch Phật: Thật con chẳng biết. Phật
bảo
: Nay tôi chỉ cho ông biết cái tánh chẳng sanh diệt. Đại vương! Ông khi mấy
tuổi được thấy sông Hằng? Vua thưa: Khi con được ba tuổi mẹ bồng đi yết kiến
Kỳ-bà Thiên sang ngang sông này, khi ấy là biết sông Hằng. Phật bảo: Đại vương!
Như ông đã nói, khi hai mươi tuổi già hơn mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, năm
tháng ngày giờ niệm niệm đổi dời, ắt khi ông ba tuổi thấy sông Hằng đến năm
mười ba tuổi thấy sông Hằng, cái thấy ấy thế nào? Vua thưa: Như lúc ba tuổi
ràng
không đổi, cho đến hiện nay sáu mươi hai tuổi vẫn không có khác. Phật bảo:
Nay ông tự lo tóc bạc mặt nhăn, quyết định mặt nhăn hơn lúc còn trẻ, song hiện
nay ông thấy sông Hằng cùng với cái thấy sông Hằng thuở xưa có trẻ có già
chăng? Vua thưa: Bạch Thế Tôn! Không. Phật bảo: Đại vương! Mặt ông tuy nhăn,
song tánh thấy của ông chưa từng nhăn; nhăn thì biến đổi, chẳng nhăn thì không biến
đổi
; biến đổi thì bị sanh diệt, cái không biến đổi vốn không sanh diệt, tại sao
ở trong ấy chịu sanh tử với ông, mà ông dẫn lời Mạc-dà-lê… đều nói thân
này sau khi chết là diệt hết? …

(Kinh Lăng
Nghiêm
đầu quyển 2 Hán tự)

Đọc đoạn kinh
này, chúng ta thấy Phật chỉ rõ ràng ngay nơi thân này cái nào sanh diệt, cái
nào chẳng sanh diệt. Thân là dòng biến động thay đổi từng phút giây, tức là
thường
hoại diệt. Tánh thấy xưa nay chưa từng thay đổi thì làm gì có hoại diệt.
Nói tánh thấy là chỉ cái thấy biết thường xuyên nơi mắt chúng ta, khi chưa hợp
tác
với niệm thứ hai để so sánh đẹp xấu hơn kém. Cho đến mắt chúng ta mở hay
nhắm, nó cũng luôn luôn hiển lộ. Nó không lệ thuộc hoàn toàn vào mắt, cơ quan
mắt tốt thì nó hiện sáng tỏ, cơ quan mắt xấu thì nó hiện lu mờ, cho đến cơ quan
mắt hoại nó cũng không bị hoại theo. Đó là đặc tính chẳng sanh chẳng diệt của
nó vậy.

Chẳng những thực
thể
chẳng sanh chẳng diệt hằng biểu lộ ở mắt, mà ở tai nó cũng có mặt luôn
luôn. Cũng kinh Lăng Nghiêm có đoạn:

Phật bảo La-hầu-la đánh một tiếng chuông, hỏi A-nan:
Hiện giờ ông nghe chăng? A-nan và đại chúng đồng thưa: Chúng con nghe. Tiếng
chuông
bặt dứt, Phật lại hỏi: Hiện giờ các ông nghe chăng? A-nan và đại chúng
đồng thưa: Chẳng nghe. La-hầu-la lại đánh một tiếng chuông, Phật hỏi: Hiện giờ
các ông nghe chăng? A-nan và đại chúng đồng đáp: Nghe. Phật hỏi A-nan: Ông tại
sao nghe, tại sao chẳng nghe? A-nan và đại chúng đồng bạch Phật: Nếu đánh tiếng
chuông
thì chúng con được nghe, đánh lâu tiếng bặt âm vang dứt hết thì gọi là
không nghe.

Phật lại bảo La-hầu-la đánh chuông, hỏi A-nan: Hiện giờ
tiếng chăng? A-nan và đại chúng đồng thưa: Có tiếng. Đợi giây lâu tiếng bặt,
Phật lại hỏi: Hiện giờ có tiếng chăng? A-nan và đại chúng đáp: Không tiếng.
Giây lát La-hầu-la lại đánh chuông, Phật hỏi: Hiện giờ có tiếng chăng? A-nan và
đại chúng đồng đáp: Có tiếng. Phật hỏi A-nan: Ông nói thế nào là có tiếng, thế
nào là không tiếng? A-nan và đại chúng đồng bạch: Nếu đánh chuông thì gọi có
tiếng, đánh lâu tiếng bặt âm vang dứt hết thì gọi không tiếng. Phật quở A-nan
đại chúng: Hôm nay tại sao các ông tự nói rối lọan?

Đại chúng và A-nan đồng thời hỏi Phật: Thế nào hôm nay
chúng con nói rối loạn? Phật bảo: Tôi hỏi các ông nghe thì các ông đáp nghe,
tôi hỏi các ông tiếng thì các ông đáp tiếng. Chỉ nghe với tiếng mà đáp không
nhất định. Tại sao như thế chẳng gọi là rối loạn?

Này A-nan! Tiếng bặt không còn âm vang ông nói không nghe,
nếu thật không nghe thì tánh nghe đã diệt, giống như cây khô, lại đánh tiếng
chuông
thì ông làm sao mà biết? Biết có biết không chính là thanh trần (tiếng)
hoặc có hoặc không, đâu phải tánh nghe kia là có là không. Nếu tánh nghe thật
không
thì ai biết nó không? Thế nên, A-nan! Tiếng ở trong tánh nghe tự có sanh
diệt
, chẳng phải tánh nghe của ông do có tiếng, không tiếng mà nó thành có
thành không. Ông còn điên đảo nhận lầm tiếng làm cái nghe, đâu còn lạ gì chẳng
mê lầm cho cái thường làm đoạn. Trọn không nên nói lìa các thứ động tịnh, thông
bít mà bảo không có tánh nghe…

(Kinh Lăng
Nghiêm
cuối quyển 4 Hán tự)

Đây là cái mê lầm
chung của toàn thể chúng ta, nhận tiếng làm cái nghe, nhận hình tướng làm cái
thấy. Có tiếng gọi là có nghe, không tiếng gọi là không nghe. Có hình tướng gọi
là có thấy, không hình tướng gọi là không thấy. Nghe thấy là cái giác tri của
chính mình, hình tướngâm thanhtrần cảnh bên ngoài. Nhận lầm trần cảnh
là mình, trách gì không mất mình và trôi lăn theo cái sanh diệt mãi mãi. Đó là
bằng chứng hiển nhiên để thấy chúng ta đang bị vô minh điên đảo. Nếu ngay nơi
đây mà chúng ta không chịu thức tỉnh, phát minh tánh chân thường chẳng hoại,
không biết bao giờ ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Đánh thức mọi
người
giác ngộ thể tánh Chân thường của chính mình, âu cũng là mục đích chung
của chư Phật. Kinh Pháp Hoa có đoạn:

…Này Xá-lợi-phất! Chư
Phật tùy nghi nói pháp ý thú khó hiểu. Vì cớ sao? Vì ta dùng vô số phương tiện
các thứ nhân duyên lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp. Pháp ấy không phải do SUY
NGHĨ
PHÂN BIỆT hay hiểu, chỉ có chư Phật mới hay biết đó. Vì cớ sao? Vì chư
Phật Thế Tôn chỉ do một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊNhiện ra đời.

Xá-lợi-phất! Thế nào nói chư
Phật Thế Tôn chỉ do một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊNhiện ra đời? Vì chư Phật Thế Tôn
muốn chúng sanh MỞ TRI KIẾN PHẬT khiến được thanh tịnhhiện ra đời, muốn
chúng sanh NGỘ TRI KIẾN PHẬThiện ra đời, muốn chúng sanh NHẬP TRI KIẾN PHẬT
hiện ra đời.

Xá-lợi-phất! Đó là chư Phật chỉ do một ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN
hiện ra đời…

(Kinh Pháp
Hoa
phẩm Phương Tiện)

Yếu chỉ chư Phật
không có hai, duy dẫn đường chúng sanh vào TRI KIẾN PHẬT. Tri kiến Phật tức là
cái thấy biết Phật, sẵn có nơi chúng ta. Chúng ta thấy nhân nơi sắc tướng, sắc
tướng
mất, nói không thấy. Biết nhân trần cảnh, trần cảnh không, nói không
biết. Ai thấy sắc tướng mất mà nói không thấy? Ai biết trần cảnh không mà nói
không biết? Quả tang chúng ta quên mất chúng ta một cách đáng thương. Mỗi hôm,
sáng ra vừa mở mắt, chúng ta đã đặt sẵn bao nhiêu vấn đề phải giải quyết trong
ngày nay. Đến tối ăn cơm xong, lên gường nằm kiểm điểm lại đã giải quyết được
mấy vấn đề, còn cặn lại và thêm những vấn đề mới ngày mai phải giải quyết. Cứ
thế mãi, ngày nay ngày mai… cho đến ngày tắt thở mà những vấn đề vẫn chưa
giải quyết xong. Những vấn đề là việc bên ngoài mà thiết tha giải quyết, còn
chính ông chủ đặt vấn đềgiải quyết vấn đề lại quên bẵng. Song ông chủ ấy
lại là người không có vấn đề. Quên mình chạy theo cảnh là cái thấy biết của
chúng sanh. Nhân cảnh nhận được tánh chân thường của chính mình là cái thấy
biết Phật (Tri kiến Phật). Quên mình là mê, nhận được mặt thật của mình là giác.
Chuyển mê khai ngộ cho chúng sanh đó là bản hoài của chư Phật.

Chính vì đánh
thức
chúng sanh sống trở lại cái thấy biết Phật của mình, đừng chạy theo trần
cảnh
mà quên mất mình, kinh Kim Cang có đoạn:

… Thế nên,
Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên lìa tất cả tướng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
(Phật), không nên trụ nơi sắc, không nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên
phát tâm không có chỗ trụ. Nếu tâm có trụ tức là chẳng trụ.

(Kinh Kim
Cang
)

Tâm Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác
tâm Phật. Tâm Phật không dính mắc sáu trần, vì sáu
trần
là pháp sanh diệt, dính mắc pháp sanh diệt là tâm hư vọng của chúng sanh.
Cho nên Bồ-tát muốn an trụ nơi tâm Phật thì không nên dính mắc sáu trần. Còn
chạy theo sáu trần là còn thấy trong có tâm ngoài có cảnh, nằm trong pháp đối
đãi
giả dối. Biết trần cảnh duyên hợp giả dối, dừng tâm không chạy theo nó là,
sống trở về tánh chân thật tuyệt đối của mình. Đó là Pháp môn bất nhị trong
kinh Duy-ma-cật.

Kinh Duy-ma-cật
có đoạn:

Ông Duy-ma-cật nói với các vị Bồ-tát: Các nhân giả! Thế
nào là Bồ-tát vào “pháp môn không hai”? Cứ theo chỗ hiểu của mình mà nói.

Bồ-tát Pháp Tự Tại nói: Các nhân giả! Sanh diệt là hai.
Pháp vốn không sanh cũng không diệt, được vô sanh pháp nhẫn, đó là vào “pháp
môn không hai”.

Bồ-tát Đức Thủ nói: Ngã, ngã sở là hai. Nhân có ngã mới có
ngã sở, nếu không có ngã thì không có ngã sở, đó là vào “pháp môn không hai”.

Bồ-tát Văn-thù nói: Như ý tôi, đối với tất cả Pháp không
nói không bàn, không chỉ không biết, xa lìa các vấn đáp, đó là vào “pháp môn
không hai”.

Ngài Văn-thù hỏi ông Duy-ma-cật: Chúng tôi ai cũng nói
rồi, đến lượt nhân giả nói thế nào là “pháp môn không hai”?

Ông Duy-ma-cật ngồi im lặng.

Ngài Văn-thù khen: Hay thay! Hay thay! Cho đến không có
văn tự ngữ ngôn, đó mới thật vào “pháp môn không hai”.

(Kinh
Duy-ma-cật phẩm Pháp Môn Bất Nhị)

Người đọc kinh
Phật rất khó hiểu vì cách lập ngôn trong kinh. Thế thường nói hai hoặc nói một,
nếu không phải một, là hai, không phải hai là một. Tại sao trong kinh nói
“không hai” mà chẳng nói một? Bởi một đối hai, hai đối một, ở đây chỉ pháp
thoát ngoài đối đãi nên nói “không hai”. Nếu có dùng ngôn ngữ cũng vì để dẹp
ngôn ngữ, như đoạn ngài Văn-thù nói. Đến chỗ cứu kính ấy không còn lời để diễn
bày, vừa có diễn bày đều rơi vào đối đãi, chỉ ngay đó nhận được mới là người
đạt đạo. Chính đó là chỗ im lặng của ông Duy-ma-cật. Nói mà không nói là mượn
ngôn ngữ để dẹp ngôn ngữ, không nói mà nói là im lặng để thầm chỉ Chân Lý Tuyệt
Đối
bặt hết ngữ ngôn. Đó là thái độ hai vị Bồ-tát ở cuối phẩm này.

Trong các kinh
còn đầy dẫy những đoạn chỉ dạy Chân Lý Tuyệt Đối này, chỉn e dẫn lắm thêm rườm,
chúng ta hãy bước sang lãnh vực Thiền sư.

Trước tiên là bài
thuyết pháp kỳ diệu của Tổ Huệ Năng:

Sau khi khai ngộ,
được Ngũ Tổ truyền y bát bảo trở về phương Nam, Tổ đi đến ngọn Đại Dữu bị Huệ
Minh
đuổi theo kịp. Tổ để y bát trên tảng đá vào rừng ẩn. Huệ Minh đến gặp y
bát
, song giở lên không nổi, gọi:

– Hành giả! Tôi đến đây vì pháp, không phải vì
y bát.

Tổ nghe gọi, bước
ra
ngồi trên tảng đá bảo:

– Nếu ông vì pháp,
hãy bình tâm nghe tôi nói.

Huệ Minh đứng yên
lặng giây lâu.

Tổ bảo:

– KHÔNG NGHĨ
THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC, CÁI GÌ LÀ BẢN LAI DIỆN
MỤC
CỦA THƯỢNG TỌA MINH?

Nghe câu này, HuệMinh liền đại ngộ.

Bài thuyết pháp
ngắn, gọn này phản ảnh trung thực một sự nghiệp to tát Tổ vừa lãnh hội nơi Ngũ
Tổ
và đang mang nó về phương Nam.
Chính đó cũng là bản hoài của chư Phật.

Bản lai diện mục
là “bộ mặt thật xưa nay” của chúng ta, nó là tên khác của Đạo, của Pháp thân,
của Phật tánh, của Chân tâmChúng ta có bộ mặt thật muôn đời không đổi, mà
tự bỏ quên nó, bám vào thân hình tạm bợ cho là thật mình. Cái thân hình đang
chấp giữ là thật mình, nó thay đổi từng phút giây, hợp tan không nhất định. Thế
thì lấy gì bảo chứng cho nó là thật? Quả thật một hình tướng biến thiên, một
hợp thể tạm bợ. Nó có, mà không thật có vì luôn luôn đổi thay, còn mà không
thật
còn vì hợp tan chẳng định. Nếu chấp chặt nó là ta, thật là cái ta tạm bợ
làm sao! Hoặc có người biết thân này giả dối, chính cái tâm biết thiện, biết
ác, biết phải, biết quấy, tốt xấu… mới thật là ta. Song cái tâm phân biệt hai
bên, cũng là đổi thay tạm bợ. Vì vừa dấy nghĩ về lành về dữ thì nó đã sanh diệt
rồi. Nếu buông hết mọi vấn đề đối đãi, tìm lại nó thì tung tích vắng tanh. Thế
là, ta ở đâu? Mất rồi sao? Thật bối rối vô cùng, nếu chấp cái suy nghĩ làm ta.
Chỉ vì chấp thân tạm bợ, tâm giả dối làm ta nên muôn kiếp trôi lăn trong sanh
diệt
, gọi là luân hồi.

Ngay nơi thân tạm
bợ, tâm giả dối, chúng ta nhận ra “bộ mặt thật xưa nay” của mình và sống hẳn
với nó, dòng sanh diệt ngang đấy liền dừng, kiếp luân hồi đến đây giải thoát.
“Bộ mặt thật xưa nay” chưa từng bị sanh diệt, một thực thể không do duyên hợp,
làm gì bị đổi thay, tan hợp? Nó vẫn có và thường còn mà chúng ta quên đi, gọi
vô minh, nhận ra nó không còn lầm quên nữa, gọi là giác ngộ.

Muốn chỉ “Bộ mặt
thật xưa nay” cho người, không có cách kỳ diệu nào bằng câu “không nghĩ thiện,
không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh” của Lục Tổ.
Người ta cứ thắc mắc “cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh” mà chẳng
nhớ “không nghĩ thiện, không nghĩ ác”, là tối quan trọng. Chính khi “không nghĩ
thiện, không nghĩ ác” là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh chớ gì. Bởi khi
tâm bình thường tỉnh táo, không dấy nghĩ thiện ác, phải quấy…, quả là “bộ mặt
thật xưa nay” xuất hiện. Vừa dấy nghĩ thiện ác…là động, là chạy theo sanh
diệt
, “bộ mặt thật xưa nay” bị khuất lấp mất rồi. Cho nên qua câu nói này,
Thượng tọa Minh khéo thấy được “bộ mặt thật xưa nay” của mình, gọi là ngộ đạo.

Dưới đây thêm
những bài thuyết pháp đơn giản bình dị mà hay tuyệt của các Thiền sư.

“Thiền sư Tùng Thẩm (Triệu Châu) đến tham vấn
Nam Tuyền (Phổ Nguyện), hỏi:

– Thế nào là đạo?

Nam Tuyền đáp:

Tâm bình thường là đạo.

– Lại có thể nhằm
tiến đến chăng?

– Nghĩ nhằm tiến
đến là trái.

– Khi chẳng nghĩ
làm sao biết là đạo?

– Đạo chẳng thuộc
biết chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì
chẳng nghi, ví như hư không thênh thang rỗng rang đâu thể gắng nói phải quấy.

Ngay câu nói này,
ngộ đạo.”

Đạo là tên khác của Bản lai diện mục hay Pháp thân… Nó là thực
thể
tuyệt đối nằm sẵn nơi tâm tánh chúng ta. Chúng ta vừa dấy niệm tìm nó, tiến
đến nó là trái mất rồi. Khởi nghĩ biết nó đã rơi vào vọng giác, không nghĩ biết
để tâm mờ mờ mịt mịt lại thuộc bệnh vô ký. Dấy tâm phán đoán phải quấy càng
xa với đạo.

Câu TÂM BÌNH THƯỜNG LÀ ĐẠO, quả thật đã vén bức màn vô minh cho
mọi người thấy được “Bộ mặt thật xưa nay” của mình rồi. Bởi khởi tâm tìm kiếm
là mất bình thường, xét đoán phải quấy là mất bình thường … Chỉ tâm tỉnh táo
sáng suốt mà không dấy động, mới thật TÂM BÌNH THƯỜNG. Tâm bình thường không
tướng
mạo, không hình dáng, thể nó thênh thang rỗng rang đồng với hư không.
Thấy được tâm thể này là người đạt đạo.

“Thiền sư Đạo Ngộ
bảo đệ tửSùng Tín rằng:

– Ngươi làm thị
giả
ta, ta sẽ chỉ tâm yếu cho ngươi.

Sùng Tín nhận làm
thị giả
, trải qua mấy năm mà không được chỉ dạy điều gì. Sùng Tín thưa:

– Từ ngày con vào
đây đến giờ, chưa được Hòa thượng chỉ dạy tâm yếu.

Đạo Ngộ bảo:

– Từ ngày ngươi
vào đây đến nay, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu.

– Chỉ dạy ở chỗ
nào?

– Ngươi dâng trà
lên, ta vì ngươi tiếp. Ngươi bưng cơm đến, ta vì ngươi nhận. Ngươi xá lui ra
thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?

Sùng Tín cúi đầu
suy nghĩ giây lâu.

Đạo Ngộ bảo:

– Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai.

Ngay câu này,
Sùng Tín khai ngộ.”

Đạo Ngộ nói Tâm
yếu
tức là Nam Tuyền nói Tâm bình thường. Trong mọi hành động ăn cơm, mặc áo,
tới lui qua lại của chúng ta đều biểu lộ tâm yếu đầy đủ. Chỉ đáng tiếc, khi ăn
chúng ta chẳng chịu ăn, lại nghĩ đến các việc này, khi mặc chẳng chịu mặc lại
suy các việc nọ. Chúng ta không thể sống được với tâm bình thường trong mọi
hoạt động của mình. Hằng bị vọng tưởng cuốn hút qua mọi lãnh vực hoạt động của
nó. Do đó cả ngày chúng ta mãi đuổi theo vọng tưởng, hết thứ này đến loại khác,
không bao giờ được dừng nghỉ.

Ở đây,
Thiền sư Đạo Ngộ chỉ tâm yếu phát hiện nơi dâng trà, nhận cơm, gật đầu…, thật
bình thường đơn giản. Tâm yếu hằng hiện hữu nơi mọi hoạt động của chúng ta,
chúng ta thông qua không chịu nhận. Bởi trong đầu óc chúng ta chứa dẫy đầy
các thứ quái tượng, hiếu kỳ thì làm sao nhận được cái bình thường đơn giản này.
Nói đến Tâm yếu, Đạo, Pháp thân…, chúng ta tưởng tượng phải là cái gì phi
thường
kỳ đặc mới được. Đâu ngờ, nó lại là cái rất giản đơn bình dị. Ném phắt
mọi vọng tưởng cuồng loạn, chỉ sống với tâm thể an nhiên trong mọi hoạt động
bình thường là, chúng ta đạt đạo, ngộ tâm yếu. Các lượn sóng lặn hụp trên mặt
biển là hiện tượng sanh diệt. Khi mọi lượn sóng đều lặng yên, chỉ còn một mặt
biển phẳng lì, thử hỏi cái gì là sanh diệt? Có sóng nổi lên là có hình tướng
sai biệt, khi sóng lặng hết tìm xem còn hình tướng gì? Song đến đó không thể
nói không có mặt biển. Tâm thể chúng ta cũng thế, chỉ cần lặng hết mọi vọng
tưởng
thì thể tánh hiển bày. Thế nên vừa suy nghĩ là lấp mất thể tánh rồi.

*

“Thiền sư Hoài
Hải
(Bá Trượng) theo hầu Mã Tổ đi dạo vườn, bỗng có bầy chim bay qua. Mã Tổ
hỏi:

– Bay đó là gì?

Hoài Hải thưa:

– Bầy vịt trời.

– Bay đi đâu?

– Bay qua mất.

Mã Tổ nắm lỗ mũi
của Sư vặn mạnh một cái, đau quá Sư la thất thanh.

Mã Tổ bảo:

– Sao không nói
bay qua mất?

Nhân đây Sư tỉnh
ngộ
.”

Tâm yếu luôn luôn
hiển lộ đầy đủ nơi sáu căn, mà chúng ta không nhận thấy. Chúng ta một bề buông
thả sáu căn chạy theo sáu trần. Mắt đối sắc cho là có thấy, sắc trần qua mất
nói là không thấy, lệ thuộc hẳn ngoại cảnh. Sắc trần là tướng sanh diệt chợt có
chợt không, cái thấy biết sắc trần có khi nào sanh diệt, mà chúng ta chỉ nhận
sắc trần không nhận cái thấy. Cái thấy là hiện thân của tâm yếu, là mạng sống
ngàn đời của chúng ta. Thế mà, chúng ta quên đi mạng sống của chính mình, phóng
tâm đuổi theo dòng sanh diệt của ngoại giới. Trường hợp Thiền sư Hoài Hải cũng
thế
, chỉ nhớ bầy chim bay qua mất, không nhớ tánh thấy thường còn của mình.
Tổ
nắm lỗ mũi vặn mạnh, bảo “sao không nói bay qua mất”. Sư chợt tỉnh ngộ cái
không mất của mình, hay thức được giấc mê “quên mình theo vật”.

Chúng ta sống nhờ lỗ mũi hít vô thở ra, nó là sanh mạng của
mình, lỗ mũi hằng có mặt thường trực ở trước chúng ta, mà chúng ta khó thấy và
ít nhớ. Hằng ngày chúng ta chỉ nhớ những vấn đề: ăn, mặc, đẹp, xấu… còn hơi
thở
là điều tối thiết yếu lại quên đi. Quên hơi thở tức là đã quên mạng sống
của mình. Mạng sống đã quên đi thì sự sống không còn ý nghĩa của sự sống. Sống
của cái chết, của cái cuồng loạn. Phật, Tổ cố đánh thức chúng ta nhớ lại mạng
sống của chính mình. Hằng sống với mạng sống của chính mình, làm gì có nghĩa
chết. Như mãi còn thở ra vào, sao nói chết được. Bởi vì chết là mất đi cái
sống, là dừng hơi thở. Tánh thấy hằng hiện hữu nơi chúng tachúng ta không
thấy, ví như lỗ mũi thường có mặt ở trước mắtchúng ta dễ quên. Cái nắm mũi
vặn mạnh của Mã Tổ, khiến Thiền sư Hoài Hải đau la thất thanh, liền đó tỉnh
ngộ
, quả là diệu thuật trong nhà Thiền, cũng là một bài thuyết pháp không lời
kỳ diệu.

“Tướng quốc Bùi
Hưu
vào viếng chùa Khai Nguyên, thấy trên vách chùa có vẽ hình Cao tăng, Bùi
Hưu
hỏi Thiền sư Hy Vận (Hoàng Bá):

– Hình thấy tại
đây, Cao tăng ở đâu?

Sư cất giọng
trong thanh gọi:

– Bùi Hưu!

Bùi Hưu:

– Dạ!

Sư hỏi:

– Ở đâu?

Bùi Hưu liền ngộ
được hạt châu trên búi tóc.”

Chúng ta đến thăm
nhà người bạn, vừa ấn nút chuông điện ngoài cổng, liền có người mở cửa, bao
nhiêu lần cũng thế. Chúng ta biết chắc chắn rằng nhà này có người gác cửa
thường trực. Cũng vậy, nơi tai chúng ta nếu không có cái linh tri thường trực,
khi động làm sao có phản ứng kịp thời. Ở đây vừa gọi liền đáp, không có phút
giây chờ đợi nghĩ suy gì cả. Cho đến đang lúc ngủ say, bỗng có tiếng gọi to
cũng giật mình thức giấc. Càng thấy rõ cái linh tri nơi tai chúng ta không khi
nào vắng mặt. Chỉ khi thức các cơ quan hoạt động thì nó sáng, lúc ngủ các
quan
đóng bít thì nó mờ. Cái linh tri này mới thật là Chủ nhân ông hay “Bộ mặt
thật xưa nay” của chúng ta. Chúng ta quên lửng ông chủ, cứ chạy theo khách trần
bên ngoài. Một bề quên mình theo vật, nên mãi trầm luân sanh tử. Đang lúc hoạt
động
lăng xăng, có người hỏi: cái gì là ông chủ, chúng ta bàng hoàng sửng sốt
không biết đáp thế nào. Thế là, hằng ngày chúng ta nói sống vì mình, lo cho
mình, mà quả thật chúng ta đã mất mình. Nếu biết rõ ông chủ của mình, chúng ta mới
dám nói thật sống, bằng không biết ông chủ thế nào, làm sao nói rằng mình đang
sống được. Có hoạt động có sống cũng chỉ là cuộc sống vay mượn mà thôi.

Ông Bùi Hưu thấy hình Cao tăng mà không biết Cao tăng ở đâu. Đó
là tâm trạng quên mất ông chủ, đang thao thức dò tầm. Một tiếng gọi của Thiền
Hy Vận, dường như một tiếng sét ngang tai, khiến ông bất chợt ứng thanh
“dạ”, chồng thêm một câu hỏi “ở đâu”, hốt nhiên ông sáng mắt. Ông chủ đã lâu
ông băn khoăn thắc mắc kiếm tìm, bất chợt hiện lồ lộ trước mắt. Hạt châu quí
trong búi tóc của nhà vua, trong kinh Pháp Hoa, chỉ dành tặng riêng cho vị
tướng quân có công to nhất, hôm nay ông nhận được. Cái cao cả quí báu nhất
trong đời sống con người là ông chủ. Nhà không có chủ là nhà hoang, xác thân không
nhận ra ông chủ là xác thân rỗng. Vì thế, mục đích duy nhất của Phật, Tổ là chỉ
cho chúng ta nhận ra ông chủ. Ông chủ ấy hằng có mặt nơi tai, mắt… chúng ta,
chỉ khéo nhận liền thấy.

*

 

“Thiền sư Sư Bị
(Huyền Sa) ngồi trong thất, có vị Tăng đứng hầu, nhìn xuống nền thất có một
điểm trắng, Sư hỏi Tăng:

– Ông thấy chăng?

Tăng thưa:

– Thấy.

Sư bảo:

– Ta thấy ông
cũng thấy, tại sao có người ngộ người không ngộ?”

Hai thầy trò đồng
thấy một điểm trắng trên nền thất, tại sao thầy ngộ mà trò lại mê? Bởi vì trò
thấy chỉ thấy cái bị thấy, cho nên quên mất ông chủ tức là mê. Thầy thấy mà
không chạy theo cái bị thấy, nhân cái bị thấy nhận ra ông chủ hay thấy của
chính mình, tức là ngộ. Đồng một cảnh mà mê ngộ khác nhau, gốc tại quên mình
theo vật hay nhân vật nhận được mình. Ở hội Linh Sơn đức Phật đưa cành hoa sen
lên, Tôn giả Ca-diếp miệng cười chúm chím, đồng ý nghĩa này. Chư Tổ Thiền tông
tận dụng mọi phương tiện, nào đưa tay, dựng phất tử… khiến người nhận được
ông chủ qua cái thấy của mình.

Ngay khi thấy sự vật, tâm không bị dấy một niệm nào, chính khi
ấy “bộ mặt thật xưa nay” bày hiện. Vì có thấy là có biết, cái biết không do suy
nghĩ
, không do phân biệt, mới là cái biết chân thật, thoát ngoài đối đãi sanh
diệt
. Cái biết do suy nghĩ, do phân biệt đều là động, tạm có rồi không, làm sao
nói chân thật được. Cái suy nghĩ phân biệt lặng xuống, tánh giác tri hiện bày
rỡ rỡ, nó mới thật là ông chủ muôn đời của ta. Giác tri mà lặng lẽ thì làm gì
sanh diệt. Chỗ này còn nghi ngờ gì, không nói nó chân thật vĩnh cửu. Thế
nên, mắt thấy sắc tướng mà nhận được tánh thấy của mình, là ngộ đạo, trái lại
là mê.

*

“Thiền sư Cảnh
Thanh ngồi trong thất, có vị Tăng đứng bên cạnh, Sư hỏi:

– Bên ngoài có
tiếng gì?

Tăng thưa:

– Tiếng con nhái
bị con rắn bắt kêu.

Sư nói:

– Sẽ bảo chúng sanh khổ, lại có khổ chúng sanh.

Hôm khác, Sư hỏi
vị Tăng bên cạnh:

– Bên ngoài có
tiếng gì?

Tăng thưa:

– Tiếng mưa rơi.

Sư bảo:

Chúng sanh điên
đảo
quên mình theo vật.

Hòa thượng thì
sao?

– Vẫn chẳng quên
mình
.

– Vẫn chẳng quên
mình
, ý nghĩa thế nào?

Xuất thân còn
là dễ, thoát thể nói rất khó.”

Rắn bắt nhái đó
chúng sanh khổ, vì con lớn hiếp con bé. Song lại có khổ chúng sanh, chính là
người quên mất mình chạy theo ngoại cảnh. Hằng ngày tai chúng ta chỉ lắng nghe
tiếng động tịnh bên ngoài, có khi nào nhận biết mình có tánh nghe thường trực.
Vừa nghe tiếng động liền phân biệt thuộc loại nào, hay dở, lợi hại , phải
quấy
… rồi sanh tâm yêu ghét. Cứ thế mãi không dừng, làm sao chẳng bảo là “chúng
sanh điên đảo quên mình theo vật”? Chỉ có người tỉnh giác mới biết phản quan
lại mình, mọi động tịnh bên ngoài đều là pháp sanh diệt, ông chủ biết được mọi
động tịnh ấy mới là người chẳng sanh diệt. Vì khi động vẫn biết động, lúc tịnh
vẫn biết tịnh, hai tướng động tịnh đuổi nhau, ông chủ vẫn ngồi yên xem sự đổi
thay của chúng. Người biết sống trở về ông chủ của mình, mặc sự sanh diệt đổi
thay của trần cảnh, là “vẫn không quên mình”. Chỗ không quên mình ấy, làm sao
diễn tả được, nên nói “xuất thân còn là dễ, thoát thể nói rất khó”.

Tai nghe tiếng mà
không chạy theo phân biệt tiếng, lại nhận nơi mình hằng có tánh nghe, là pháp
tu “Phản văn văn tự tánh” của Bồ-tát Quán Thế Âm. Âm thanh nhỏ lớn xa gần lúc
nào cũng có, tánh nghe thường hằng nên mới thường nghe. Nếu tánh nghe có gián
đoạn
, ắt chúng ta có khi nghe khi không. Song không khi nào chúng ta
chẳng nghe, dù khi không có tiếng động vẫn nghe không tiếng. Đây là chứng cứ cụ
thể
, tánh nghe thường trực nơi mọi người chúng ta. Trong các phương pháp tu
“trở về tự tánh”, biết phản chiếu lại tánh nghe của mình là ưu việt hơn cả. Cho
nên trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù chọn phương pháp nào
viên thông, Ngài chọn ngay pháp “nhĩ căn viên thông” của Bồ-tát Quán Thế Âm.

Thiền sư có đến
ngàn vạn phương tiện, lãnh hội một thì tất cả đều thông. Sau khi thông lý tuyệt
đối
, có giá trị thế nào?

Bởi vì tất cả
chúng ta đều trông thấy mọi lẽ tạm bợ của cuộc đời, khiến khát khao tìm kiếm
hướng về chỗ trường cửu miên viễn. Song nói đến chỗ này, dường như mọi người
đều thở dài tự nhận là vô phần. Hầu hết đều bó tay cúi đầu trước thực thể bất
sanh
bất diệt ấy. Khao khát ước mơ mà không thể tìm được, không dám mò tới,
thật là đau đớn vô cùng. Một khi bất ngờ bắt gặp được nó thì còn gì sung sướng
cho bằng. Chính tâm trạng Tôn giả Xá-lợi-phất v.v… ở trong kinh Pháp Hoa cũng
thế
. Từ khi tu hành cho đến nay, các ngài chỉ mong được quả Nhị thừa, không khi
nào dám ước mơ đến Phật quả. Bất ngờ được đức Phật thọ ký cho sẽ thành Phật,
thật là một điều quá sức ước mong. Nói thí dụ chàng cùng tử được ông trưởng giả
trao sự nghiệp để bày tỏ tâm trạng của các Ngài. Thiền sư Thủy Lạo nói với đồ
đệ
: “Từ khi ăn cái đạp của Mã Tổ đến giờ, cười mãi không thôi.” Thiền sư Huệ
Hải
cũng nói: “Từ khi nhận được kho báu nhà mình đến nay, dùng mãi không
thiếu.” Cười mãi không thôi, vì hạt châu vô giá bị đánh mất, bất chợt tìm thấy
nắm được trong tay, kể từ đây hết rồi một kiếp lang thang nghèo đói. Dùng mãi
không thiếu, vì nó là kho báu vô tận, ứng dụng tùy tâm, nên gọi là “bảo châu
như ý”. Có được hạt bảo châu như ý trong tay, tự thân mọi nhu cầu đều toại
nguyện
, còn thêm tùy ý cứu giúp tha nhân. Thật là tự lợi, lợi tha viên mãn.

Hạt “Minh châu vô
giá” hay “Bảo châu như ý”, đều do đức Phật lấy làm thí dụ để chỉ thể tánh tuyệt
đối
này. Bởi vì mạng sống là cứu kính của chúng sanh, mạng sống càng dài thì
giá trị càng cao. Cho nên ở thế gian không ơn gì to bằng ơn cứu mạng. Chỉ cần
được cứu sống thêm một vài mươi năm, người ta cho đó là ơn sâu trời bể. Đạt
được
thể tánh này, là nhận lấy sanh mạng trường tồn miên viễn, vượt ngoài vòng
thời gian, không còn dùng con số nào tính kể được. Đức Phật dùng thí dụ “điểm
mực” nơi phẩm Như Lai Thọ Lượng trong kinh Pháp Hoa là nói rõ ý này. Đem thế
giới
tam thiên nghiền thành bụi nhỏ, lấy bụi ấy làm mực, đi sang phương đông
trải qua trăm ngàn muôn ức thế giới mới điểm một điểm mực…, gom hết những thế
giới
có điểm mực không điểm mực đã đi qua, nghiền nát thành bụi, mỗi hạt bụi
tính là một kiếp, thử tính tuổi thọ Phật là bao nhiêu? Dù có nhà toán học tài
tình
mấy cũng không sao tính nổi tuổi thọ của Phật. Phật ở đây là chỉ Phật pháp
thân
, tức là thực thể tuyệt đối sẵn có nơi mọi chúng sanh vậy.

Thực thể này
không những vượt ngoài thời gian, mà cũng bao trùm khắp không gian. Kinh Hoa
Nghiêm
đức Phật dùng thí dụ “phá vi trần xuất kinh quyển”, để nói lên thể rộng
lớn của nó. Nói rằng “Có một quyển kinh lượng bằng thế giới tam thiên đại
thiên
, vò tròn nhét trong hạt bụi nhỏ, có người trí tuệ xem biết, dùng phương
tiện
đập vỡ hạt bụi lấy quyển kinh. Trong quyển kinh ghi chép đầy đủ mọi sự
thật
của thế giới tam thiên đại thiên…”. Quyển kinh dụ thể tánh tuyệt đối hay
Phật tánh, hạt bụi dụ thân tứ đại của chúng sanh. Muốn biết mọi sự vật trong
trụ
, không gì hơn ngay nơi thân này nhận ra thể tánh tuyệt đối, mọi sự thật
hiện bày đầy đủ trong ấy. Có ai ngờ trong hạt bụi nhỏ lại chứa quyển kinh to
như thế, chỉ người trí tuệ (Phật) mới nhận thấy được nó. Chúng ta không khi nào
dám thừa nhận mình có thể tánh rộng lớn trùm khắp vũ trụ, mà hằng tự nhận mình
như cây lau, cây sậy trên địa cầu, như hạt cát trong bãi sa mạc. Vì thế, đọc
kinh
Duy-ma-cật thấy nói “ông Duy-ma-cật đưa tay nắm thế giới dời đi nơi
khác
…”, làm sao chúng ta dám tin. Tôn giả A-nan sau khi ngộ được chân tâm,
bạch Phật rằng “con xem thân cha mẹ sanh (so với chân tâm) như hạt bụi trong
không
, như hòn bọt ngoài bể cả…(Kinh Lăng Nghiêm). Tuệ Trung Thượng Sĩ, một
Thiền sư Việt Nam,
có vị Tăng hỏi: “Sanh tử là việc lớn làm sao giải quyết?” Thượng Sĩ đáp: “Trong
hư không dài có chướng gì hai vành xe, ngoài bể cả có ngại gì hòn bọt nổi.” Ý
nói rằng, sự sanh tử của thân này đối với pháp thân như hai vành xe ném trong
hư không, như hòn bọt nổi trong bể cả, có nghĩa lý gì mà quan trọng. Hạt bụi sánh
với hư không, hòn bọt so với bể cả, giá trị quá rõ ràng, nên nói “viên ngọc vô
giá”.

Sống được với thể
tánh
này thì diệu dụng vô cùng, lợi mình lợi người viên mãn. Hằng ngày chúng ta
chỉ sống với vọng tưởng, mà còn có trăm ngàn tác dụng, tạo ra trăm điều ngàn
việc. Phương chi sống với thể tánh linh minh thì diệu dụng làm sao lường được.
Căn cứ hiện tượng thế gian phán xét, để thấy rõ điều này. Trên thế gian cái gì
càng thô thì dụng càng yếu, cái gì càng tế thì dụng càng mạnh. Như đất thể thô
hơn nước, nên bị nước cuốn; nước thể thô hơn gió, nên bị gió đùa. Sức mạnh của
gió làm tan cả đất, cuộn phăng cả nước mà không thấy hình dáng tướng mạo gì.
Sức mạnh của nguyên tử, của khinh khí cũng tương tợ như thế. Vọng tưởng
tướng tâm duyên theo pháp trần… nên có tướng mạo. Khi tâm ta tưởng quả núi,
liền có quả núi hiện nơi tâm, tâm nhớ người liền có người hiện… Dấy tâm thì
có cảnh, tâm cảnh dính liền nhau. Tâm không rời cảnh, đó là tâm hư vọng cũng
gọi là vọng tưởng. Cảnh có đến ngàn vạn nên tâm duyên cảnh cũng cả trăm thứ. Có
tướng mạo là tâm thô, chia nhiều thứ là bị phân tán. Tâm thô và phân tán nên
công dụng của nó yếu ớt tầm thường. Khi vọng tưởng đã lặng sạch, chỉ còn một
tâm thể linh minh, không hình dáng tướng mạo, nên ứng dụng vô cùng. Đến chỗ này
gọi là “diệu dụng không thể nghĩ bàn”. Bởi diệu dụng không thể nghĩ bàn, nên dụ
Bảo Châu Như Ý. Nắm hạt châu này trong tay thì mọi việc đều như ý, tức là
mãn nguyện tự tại. Một bên công dụng tầm thường cuộc hạn, một bên diệu dụng
không thể nghĩ bàn tự do tự tại, đối chiếu nhau chúng ta thấy rõ giá trị sai
biệt
của đôi bên rồi.

Chân lý tuyệt đối
không có ở bên ngoài, mà nằm sẵn ngay nơi chúng ta. Chúng ta muốn tìm nó, phải
biết quay lại mình, đừng chạy ra ngoài tìm kiếm vô ích. Chân lý tuyệt đối nơi
mình, chính là ông chủ của mình, nhận ra ông chủ thì mọi chân lý trong vũ trụ
đều thấy rõ. Nhận ra và sống được với ông chủ của mình thì, vòng luân hồi chấm
dứt
, mọi khổ đau hết sạch, được giác ngộ giải thoát hoàn toàn.

h