Thích Chơn Thiện

I. Khái quát
Nhìn là cái gì quen thuộc với chúng ta , mà cũng là rất xa lạ. Cái gần nhất có khi lại là cái xa lạ nhất. Có lúc nó hiện ra như dòng thác lũ phiền nãonhận chìmcon người. Có lúc khơi dậy những nét đẹp của cuộc
sống, sự thật và hạnh phúc. Nó trở nên bí mật. Nó gây kinh ngạc, và chính nó là sự kinh ngạc.
Thông thường, nhìn có nghĩa là mắt nhìn với sự có mặt của hoạt độngý
thức hay có thể nói, tâm nhìn sự vật qua mắt. Tương tự, tâm nhìn sự vật
qua tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
Nói đến nhìn là nói đến nội dung của cái thấy và tác dụng của cái thấy. Tác dụng này tác động đến người nhìn, vật bị nhìn và lan rộng ra ngoài như một làn sóng. Hầu như thế giới ta đang sống chỉ là hiện hữu của cái nhìn, mà không phải là thế giới của chính nó.
II. Những cái nhìn quen thuộc
Cái nhìn chụp phủ lên sự vật những gì của nó, và nó mãi mãi chỉ thấy
sự vật bị chụp phủ, mà không phải là sự vật như thật.Ca dao nói:
Cái nhìn này lại phơi bày một niềm đau, một nỗi thất vọng khác.
Nguyễn Du, qua truyện Kiều, nhìn xã hộiViệt Nam ly loạn của thế kỳ 18 với cái nhìn rất hiền triết và rất ngậm ngùi rằng:
Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòngÔn Như Hầu thì nhìn xã hộiViệt Nam của thế kỷ 18 với tâm trạng oái oăm, cay đắng:
Trải vách quế gió vàng hiu hắt Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng Oán chi những khách tiêu phòng Mà xui phận bạc nằm trong má đào.Vạn Hạnhthiền sư đời Lý nhìn cuộc đời một cách trí tuệ, thấy rõ nó là mỏng manh, vô thường; với thái độ nhìn thanh thản, tự tại:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô Nhậm vậnthịnh suy, vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô Tạm dịch Thân như bóng chớp hữu rồi vô Cây cỏ xuân tươi, thu lại khô Tùy vận thịnh suy lòng chẳng sợ Thịnh suy đầu cỏ hạt sương phôVua Trần Nhân Tôn, Điều NgựGiác Hoàng, thể nghiệm giải thoátsâu xa giữa đời nên cái nhìn trở nên rất thiền, rất tự nhiên:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên Gia trung hữu bảo hưu tầm mích Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền ( Cư trần lạc đạo phú ) Tạm dịch: Sống đời vui đạo cứ tùy duyên Hễ đói thì ăn, mệt nghỉ liền Có báu trong nhà đừng chạy kiếm “Vô tâm” trước cảnh, hỏi chi thiềnMỗi cái nhìn cuộc đời chuyên chở một nội dung khác nhau tùy theođiều kiện, khả năng, và vị trí của người nhìn
III. Triết lý về cái nhìn
Cái nhì không đơn thuần là một quá trình vật lý, mà là một chuổi những quá trình vật lý và tâm lýtiếp nối nhau. Trong chuỗi quá trình tâm vật lý ấy xuất hiện những thái độtâm lý buồn, vui, ưa, ghét…
Carl Jung, một nhà phân tâm học của thế kỷ 20, đã nói : “Bao giờ cái nhìn của bạn cũng bị giới hạn bởi những gì bạn đang có và đang là”
Quả thực, trước cùng một sự vật, mỗi người có một cái nhìn riêng và bị đóng khung trong các điều kiệnvật lý, tâm lý, sinh lý, kiến thức, tập quán, thành kiến…của mình. Văn hóathời đại cũng góp phần vào giới hạn đó. Vì thế, trước cuộc đời, trước con người khổ đau hay hạnh phúc, đã phát sinh nhiều cái nhìn giới hạn, nghiêng lệch, dẫn đến những hệ lụy
khác nhau.
IV. Hệ lụy của cái nhìn – Giáo dục và cái nhìn
Nếu không nhìn ra bản chất của cái nhìn, nếu không thấy tính tương đối và hư cấu của nó, con người sẽ rơi ngay vào các hệ lụy, cạm bẩy của nó và trở thành nạn nhân khốn đốn của chính nó.
Kinh nghiệm sống cho thấy rằng cái đẹp không trói buộc – nói đúng là không thực sự trói buộc – người nhìn nó, mà chính cái nhìn của người nhìn trói buộc mình; chính lòng ham muốn; sân hận, hay si mê khởi lên từ
cái nhìn trói buộc mình.
Có những cái nhìn gây thiện cảm với tha nhân, có những cái nhìn gây ác cảm. Cũng có những cái nhìn khiến mình và người bình an hay lúng túng…
Các nhà tâm lýgiáo dụcghi nhận rằng phần lớn rối loạntâm lý của một con người là do cái nhìn sai lệch của người ấy, mà không thực sự do tha nhân hay hoàn cảnh. Hầu như người đời thường đánh mất 90 % năng lượngđời sống do những rối loạn gây ra bởi những cái nhìn sai lệch ấy. Thật đáng suy gẫm.
Thế nên, để sống vui mình, vui người, người ta phải biết nhìn như thế
nào để tránh các phiền nãohệ lụy. Cái nhìn, cách nhìn là một nghệ thuật sống cần được nghiên cứu, học hỏi và truyền đạt.
Trong một tập thể xã hội, cái nhìn của đa số cũng quyết định sự hưng suy của tập thể, xã hội ấy. Vì thế, cái nhìn càng được trân trọng và cẩn
trọngquan tâm. Đổi mới tư duy là đổi mới cái nhìn. Nói ngược lại cũng thế.
Cái nhìn tốt đẹp đòi hỏi trình độvăn hóa, trí thức, tình người, và trí tuệ của người nhìn. Nó cần được huấn luyện, giáo dục và cần thời gian. Phật giáo đã nói rất nhiều về cái nhìn và đã giới thiệu với đời con đườngchuyển đổi cái nhìn thành cái nhìn đầy tình người, trí tuệ, an
lạc, và giải thoát.
V. Phật giáo và cái nhìn
1- Cái nhìn duyên khởi, vô ngã
Nếu đêm cuối cùng dưới cội Bồ đề, Đức Phật không phát hiện ra cái nhìn duyên khởi thì sự thật về Tứ đế, Nhân quả và Duyên khởi của cuộc đời chưa được phát hiện, và đạo Phật chưa có mặt ở đời. Vì thế cái nhìn duyên khởi, vô ngã và cái là cái nhìn Phật giáogiải thoátcon người ra
khỏi các hệ lụy khổ đau của cuộc đời.
Con ngườixưa nay chịu khổ đau vì tự giam hãm mình trong cái nhìn hữu
ngã, cho rắng mọi cái nhìn hiện hữu đều có tự ngã, rồi cái nhìn hữu ngã ấy khởi lên tham lam, sân hận, tà kiến, sợ hãikiêu căng, thị phi… làm nên dòng cuồng lưu của tâm lý và cuồng lưu của cuộc đờinhận chìm mình trong sanh tử.Sau ngày giác ngộ đạo vàng, Đức Phật suốt 45 năm giáo
hóa đã giới thiệu với đời cái nhìn duyên khởi, vô ngã ấy để dập tắt các
sầu bi, khổ, ưu não ngay trong hiện tại. Con đườngxây dựng cái nhìn này là đạo đế hay còn gọi là con đườngthiền địnhPhật giáo.
2- Kinh Pháp cú
Bài kệ 170, Kinh Pháp cú ghi:
Hãy nhìn đời như bọt nước Nhìn đời như ảo ảnh Hãy nhìn đời như thế Thần chết không bắt gặp (Bản dịch của HT, Minh Châu)Do vì biết hết thảy hiện hữu là do nhân duyên sinh nên hết thảy hiện hữu là không có tự ngã, là vô thường và dẫn đến khổ đau. Bài kệ trên đã giới thiệu một cái nhìn về hiện hữu, thấy nó mòng manh, vô thường, không
thật như bọt nước ảo ảnh như chúng đang là. Thấy như vậy, người nhìn sẽ
thức tỉnh ra khỏi cái tâm lýtham lam, sân hận, ngã mạn…và từ đó xuất hiệntâm lýgiải thoát, trí tuệgiải thoát.
3- Kinh Kim CangBát Nhã
Tương tự với bài kệPháp Cú trên, bài kệkết thúc kinh Kim Cương dạy:
Nhất thiết hữu vi pháp Như mộng huyễn, bào ảnh Như lộ diệc, như điển Ứng tácnhư thị quánDịch nghĩa toàn kệ:
Nên khởi lên cái nhìn hết thảy moi hiện hữu ( Các pháp bị duyên tác thành) là như sương, như chớp, là huyễn hư, là bọt nước.
Cứ nuôi dưỡng cái nhìn đó thì dần dần tất cả các tưởng về các tự ngã sẽ bị dập tắt. Từ đó cái gốc để làm dấy lên tham sân si không còn cái nhìn đó sẽ đưa chúng ta đến giải thoát sau cùng: giáp mặt với sự thật và
hạnh phúc.
4- Kinh Pháp Hoa
Kinh Pháp Hoa thì nhằm chỉ cho thấy sự thậtduyên sinh, vô ngã, ngộ, và nhập sự thật ấy.
Phẩm Phổ Môn đã giới thiệu sự tu tập, huấn luyện cái nhìn như sau:
Chơn quán thanh tịnh quán Quảng đại trítuệ quán Bi quán cập từ quán Thường nguyện thường chiêm ngưỡng Vô cấuthanh tịnh quang Huệ nhật phá chự ám Năng phục tai phong hỏa Phổ minh chiếu thế gian Bi thể giới lôi chấn Từ ý diệu đại vân Chú cam lồpháp vũ Diệt trừphiền não diệmDịch nghĩa:
Hãy nhìn sự thật hãy nhìn với cái nhìn trong sáng Hãy nhìn với trì tuệ rộng lớn Hãy nhìn với lòng từ bi Ánh sáng (trí tuệ) không cấu uế của cái nhìn ấy Sẽ như mặt trời phá tan các hôn ám (vô minh) Làm tiêu tan các tai nạn chiếu sáng khắp thế gian Lòng bi như là sấm kéo lại Tâm từ như đám mây lớn (bủa ra) Rơi xuống cơn mưa Pháp Dập tắt lửa phiền nãoHuấn luyện cái nhìn như phẩm kinh Phổ Môngiới thiệu ở đây thì người đời sẽ nhận ra cái Nhìn xuất hiện như là một phép lạ tạo thành cơn mưa Pháp trong tâm và dập tắt hết phiền não khổ đau từ tâm.
Cái nhìn rất từ bi và trí tuệ ấy là cái nhìn giải thoát khổ đau của Phật giáo.
5- Tứ Thánh đế: Giáo lýthánh đế là giáo lý căn bản của các bộ phái Phật giáo. Vừa nói lên sự thật vừa giới thiệuphương pháp nhìn sự thật của các hiện hữu.
– Các hiện hữu vốn không thật, vô thường và dẫn đến khổ đau .
– Nguyên nhân của khổ đau ấy là lòng tham ái mọi hiện hữu và vô hữu.
– Lòng tham áibị dập tắt là khổ đau hết. Niết-bàn xuất hiện.
– Con đườngdập tắt khổ đau.
Nhìn cuộc đời thế nào để dập tắt lòng tham ái kia. Cái nhìn ấy thường
được lập đi lặp lại mãi cho đến khi khổ đau diệt. Nuôi dưỡng cái nhìn ấy là thực hiệncon đường hay gọi là tu tậpTứ Niệm xứ (hoặc tu tậpđạo đế).
IV- Cái nhìn thiền địnhPhật giáo.
Tứ niệm xứ là pháp mônthiền định của Phật giáo, cơ sở của sự thực hiện 37 phẩm trợ đạo (đạo đế). Đây là phần công phu huấn luyện cái nhìn đơn thuần và tỉnh giác.
Niệm là sự tập trung chu ý vào cái Nhìn, theo dõi một trong bốn đối tượng: hơi thở, cảm xúc, tâm lý, và các đối tượng của nhận thức.
Đại để có thể giới thiệucông phugiáo dục, huấn luyện này qua bảy bước đi chính.
- Bước đi làm ổn định thân, lời và hơi thở; thuộc giới học
- Bước di làm tịch lặng năm thứ ngăn che tâm (trạo cử, hôn trầm, dục, sân, nghi ) và cáctạp tưởng khác, sao cho cái nhìn dán chặt vào đối tượng được theo dõi; gọi là bước đi thanh tịnh tâm.
- Bước đi thấy rõ, hiện rõ ràng là đúng đối tượng theo dõi đó là một chuỗi quá trình vật lý và tâm lý do nhân duyên sinh, chúng rỗng không không có tự ngã, và không có mặt cái ta ở đó hay ở nơi nào khác cả. Con người và thế giới chỉ là quá trình tâm lýduyên sinh ấy; đây là bước đi “thanh tịnh kiến” (thanh tịnh cái thấy).
- Tiếp tục bước đi thứ ba với cái thấy suy diễn rộng hơn lan ra mọi hiện hữu và thấy rõ tất cả là duyên sinh. Vô ngã. tại đây, một nguồn hạnh phúcvô biên tuôn trào ra từ cái nhìn và cái thấy ấy; đây là bước đi qua khỏi các nghi ngờ.
- Nhưng tại đây, cái nhìn trí tuệ cần được an trú để nhận rõ cái nguồn
hạnh phúc đang tuôn trào ra ấy là chướng ngại cho công phu phát triển cái nhìn trí tuệ, và để giữ tâm an tịnhtiếp tục huấn luyện cái nhìn trên; đây là bước đi thứ năm thấy rõ những gì là đạo, những gì không phải đạo. - Tiếp tụccông phu huấn luyện cái nhìn theo hướng tiến triển ấy, mọi hiện hữu sẽ tan biến tự ngã ngay trước cái nhìn của ta đến nỗi ta có cảm
nhận tát cả hầu như không có hiện hữu nữa. Cứ tiếp tục nhìn rồi dần dần
các hiện hữu sẽ hiện rõ trở lại với sự thậtduyên sinh của nó. Hành giả
tại đây sẽ có kinh nghiệmloại bỏ các sợi dây tâm lýtrói buộctrí tuệgiải thoát (loại bỏ các kiết sử), lần lượtđi vào kết quả trí tuệgiải thoát của các bậc Thánh; đây là bước đi thấy các đạo, các quả. - Tiếp tụcan trú trong công phu nhìn kia cho đến kết quả thấy và biết
hoàn toànthanh tịnh, an ổn, thì hành giảđi vàosức mạnh của tâm lýgiải thoát ( năm căn và năm lực) cho đếnquả vị A-la-hán chặt đứt hoàn toàn mọi nhân tố tâm lý đưa vào sinh tử, khổ đau.
Cái nhìn được giáo dục và huấn luyện trên đây gọi là cái nhìn của sự chú ý thuần túy. Nó là cái nhìn vừa đầu tiên vừa cuối cùng của công phuthiền định. Nó là chánh niệm, tỉnh giác. Có thể gọi đó là cái nhìn trí tuệgiải thoát. Bám chặt công phu nhìn này, các tạp tưởng, vọng tưởng sẽ
lần lượt ra đi, và đối tượng nhìn (trong tâm và ngoài cảnh) sẽ tự phơi bày sự thật của nó. Bây giờ những gì mà trước đó được gọi là ảo hóa, hư huyễn đều tiêu biến.
Từ bước đi thứ sáu, hành giả đã nhìn sự vật với tâm tự tại không vướng mắc, cáí điều mà Điều NgựGiác Hoàng gọi là “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (vô tâmtrước cảnh hỏi chi thiền). Có thể nói rằng cái nhìn “vô tâm” của Điều Ngự là cái nhìn trí tuệ của bước đi thứ sáu và thứ bảy
của công phuthiền định kia. Tại đây, vắng mặt các phiền nãohệ lụy.
Bí mật của cuộc sống là ở chỗ giữa khi hiện hữu là một dòng duyên sinhtrôi chảy thì con người và tư duyngã tính của con người đi tìm một
cái ngã không bao giờ thực sự có mặt. Sự thật của khổ đau và hạnh phúc không phải ở trong tay một đấng quyền năngthiêng liêng nào cả, cũng không phải ở ngoại cảnh, mà là ở trong chính ta, trong chính cái nhìn của ta vậy.
TẠP CHÍ VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 111 – VU LAN | THÍCH CHƠN THIỆN






















