Bố Thí Ba La Mật

0
107


BỐ
THÍ BA LA MẬT
 

Thích
Trí Siêu

Mục Lục

Phần I

1. Mở Đầu
2. Bồ-tát Đạo
3. Bố Thí là gì?
4. Bố Thí có mấy loại?

Phần II

5. Bố Thí Ba-la-mật
6. Bố Thí và sáu Ba-la-mật
7. Những điều lầm lẫn về Bố Thí
8. Kết luận 

PHẦN I

1. Mở Đầu

Đa sốchúng ta ngày nay hầu như
không
còn biết bố thí, cúng dường một cách trong sạchlợi ích nữa! Bố thí
bố thí chứ có gì mà trong sạch với không trong sạch? Nói như vậy không phải là
Phật tử! Nếu không phải Phật tử thì muốn nói sao cũng được, nhưng nếu là con
Phật thì cần phảihọc đạo, hiểu đến nơi đến chốn. Có nhiều người trong chúng ta
thường hãnh diện nói rằng: ‘Tôi tu lâu, ăn chay trường, tụng kinh mấy chục năm
rồi, biết Hòa Thượng này Hòa Thượng nọ từ lúc các vị ấy mới tu, chùa này là do
tôi giúp từ lúc mới lập,…, và đa số đều là Bồ Tát tại gia (tức là thọ Bồ Tát
giới
). Thọ Bồ Tát giới tức là muốn bước trên Bồ Tát đạo; và Bồ Tát đạo thì gồm
Lục độ (Ba La Mật). Trong đó thì Bố thíđứng đầu. Bồ Tát mà không biết bố
thí
thì đó không phải là Bồ Tát. Vậy Bố thí là gì? Có mấy loại Bố thí? Phải Bố
thí
những gì: Bố thí làm sao, khi nào,…?

Trước khi đi vàogiải đáp xin đọc
giả phá bỏ thành kiếnsai lầmxưa nay, cho rằng Bố thí là đem tiền cúng chùa,
cúng Thầy, đó chỉ là một hình thức nhỏ của sự Bố thí. Không những Phật tửtại
gia
hiểu lầm mà ngay cả giới xuất gia cũng lơ là hay cố ý chỉ muốn dạy cho Phật
tử
sự Bố thí đó mà thôi, nên luôn luôn kêu gọi Phật tửphát tâmBồ Tát (phát
tài) cúng chùa, cúng Phật… Riết rồi Phật tử không dám đến chùa nữa, vì sợ đến
thì phải cúng, nếu không cúng thì sợ tội, nên hay hơn hết là ở nhà cho xong. Đó
là nói người biết sợ tội phước, còn có những người học Phật mà bất chấp tội
phước, hoặc quá si mê, là những người hay đi rêu rao chùa này nhiều tiền, chùa
kia ít tiền, Thầy này giàu, Thầy kia nghèo,… Nói cho sướng cái miệng mà đâu
có hay là mình đang tạo khẩu nghiệp, đó là chưa kể đã phạm vào các giới trọng,
giới khinh của Bồ Tát.

Chùa là gì? Tại sao phải đến chùa?
Phật tử, chúng ta ai cũng biết rõ lịch sử của đức PhậtThích Ca, biết Tứ
Diệu Đế
, biết đời là khổ, biết quay về nương tựa nơi Tam Bảo (Phật, Pháp,
Tăng). Chùa là nơi tượng trưng cho Tam Bảo, nhưng nơi nào chỉ có tượng Phật
kinh sách thôi mà không có chư Tăng thì không được gọi là Tam Bảo; và đúng lý ra
thì chùa phải là nơi thoát tục của người trần tục. Khi bước chân vào một ngôi
chùa, với không khí thoảng mùi hương thơm, với tiếng chuông tiếng mõ, ta sẽ cảm
thấy
tất cả những ưu phiền, bon chen của cuộc sống bên ngoài lắng xuống và tâm
hồn
ta trở nên lâng lâng thoát tục. Trước khi vào chùa, ta đầy phiền não, vào
đến chùa được tắm mình trong sự thanh tịnh (sự trở về với chính ta), nên phiền
não
tiêu tan, và khi ra về ta cũng đem luôn sự thanh tịnh của chùa về tưới vào
gia đình. Được như vậy thì ta là người biết đến chùa.

Nhưng trên thực tế thì không phải
như vậy. Mặc dù thân của ta vẫn đến chùa đều đều, nhưng ta không còn biết đến
chùa thực sự là gì nữa! Chúng ta đã biến cảnh chùa chiền thành chợ chiều. Thay
vì đến chùa để lấy sự thanh tịnh, ta lại đi đem những ô uế và phiền não nhét
đầy vào chùa. Thay vì đến chùa để hỏi đạo, ta lại đem chuyện đời kể cho quý
Thầy nghe; thay vì đến chùa làm công quả kiếm chút phước, ta lại đi tạo khẩu
nghiệp
nói chuyện người này, kể chuyện người kia. Rồi cứ thế, ngày qua tháng
lại, một ngày kia ta sực tỉnh, nhận thấy rằng từ bao lâu nay ta đến chùa mà chả
học được gì hữu ích cả. Kinh băng, sách Phật chất đầy nhà, vậy mà tâm ta vẫn
không an, và hình như tham, sân, si vẫn còn đầy, thế rồi ta hoảng sợ vội vàng
chạy đến chùa để cầu cứu, thì ô hay! Sao chùa bây giờ giống như cái chợ chiều?
Tìm các Thầy để hỏi đạo thì các Thầy chỉ nói chuyện đời, nếu không thì lại kêu
gọi ta phát tâmcúng dường… Thế rồi ta chán nản bỏ ra về, ghê tởm và xa lánh
chùa! Lòng tin nơi Tam Bảo của ta càng ngày càng giảm. Ta nào có biết đâu rằng
tất cả những gì xảy đến cho ta đều có nguyên nhân, đâu phải tự nhiên mà có; mà
nguyên nhân thủ phạm lại chính là Ta. Vì ta không biết điều đó nên ta rao rằng:
chùa này làm tiền, chùa kia làm tiền! Vì sao lại có tình trạng tệ hại như vậy?
Tại vì trước kia đến chùa ta không chịu học đạo cho đàng hoàng, chỉ học lý
thuyết
suông cho vui, nên ta đã bố thícúng dường không đúng đắn, không trong
sạch
. Chính chúng ta đã biến cái chùa thành cái chợ, thì nay cũng chính chúng ta
phải biến cái chợ thành cái chùa như thuở nào, và nhất là những ai có thọ Bồ
Tát giới
. Công việc này không phải một người có thể làm nỗi, mà tất cả hàng
Phật tửtại gia cũng như xuất gia. Tuy nhiên điều đầu tiên là chúng ta phải ý
thức
được sự tệ hại và đình trệ của Phật giáo Việt Nam (hải ngoại). Có ý thức
được thì chúng ta mới mong muốn sửa đổi, còn nếu không thì chẳng có gì để nói
nữa cả. Nhược bằng ý thức được thì ta hãy lên đường làm lại cuộc đờiPhật tử
của mình, cũng tức là cuộc đời của Phật Giáo Việt Nam vậy. Ta hãy can đảm đừng
ngại ngùng học lại những giáo lý căn bản, rồi đem ra áp dụng vào đời sốnghằng
ngày
. Chúng tathói quen là thân thì ngồi dưới đất, mà tâm trí thì cứ tưởng
ở trên mây. Có nghĩa là sao? Nghĩa là trình độtu học thì rất kém (tham, sân,
si chưa trừ) mà lại hay nói những lý lẽ cao siêu, chỉ thích tụng kinh Đại Đại
Thừa
Đại Đại Phương Quảng, v.v… Nhất là có những Kinh nào nguyên văn bằng chữ
Hán thì ta lại mù tịt, không hiểu gì cả. Ta quên mất rằng đức Phật có nói: ‘Nếu
tin ta mà không hiểu ta thì đó là hủy báng ta,’ vậy nếu ta tụng kinh Phật mà
không hiểu thì không biết một ngày ta đã hủy báng Phật bao nhiêu lần rồi? Với
mục đích giúp cho đọc giả nào muốn làm lại cuộc đờiPhật tử của mình, tôi xin
biên soạn về ‘Bố thí Ba La Mật’, là một trong sáu hạnh của Bồ Tát. Vì sao lại
chỉ nói về Bố Thí thôi mà không nói cả sáu hạnh của Bồ Tát? Đó là tùy tình
cảnh, tùy thời. Tùy tình cảnh vì Bố Thí là hạnh đầu tiên trong Lục Độ và nó dễ
thực hành cho Phật tửtại gia. Còn tùy thời là vì ngày nay rất nhiều Phật tửthan phiền là chùa này nhiều tiền, hoặc Thầy này giàu, Thầy kia nghèo,… Bố
thí
mà biết cách thì được phước đứcvô biên cho cả người cho lẫn người nhận.
Còn Bố thí mà không biết cách thì chỉ có một bên hoặc chả có bên nào được lợi cả.
Do đó, Bố thí mà không biết cách thì tốt hơn là đừng bố thí!

-oOo-

2. Bồ Tát Đạo

I. Bồ Tát Đạo

Định nghĩa Bồ Tát.

Bồ Tát là nói tắt của Bồ Đề Tát Đỏa
tức Bodhisattva (Sanscrit). Bodhi là giác, Sattva là hữu tình. Bodhisattva có nghĩa
là người giác ngộ. Nói như vậy thì hơi mơ hồ, vì đức Phật cũng là người giác
ngộ
, A-La-Hán cũng là người giác ngộ, vậy Bồ Tát khác Phật, khác A-La-hán chỗ
nào? Có nhiều lối giải thích:

1. Trên phương diệnđộ sanh: A La
Hán
tự độ (độ mình), Bồ Tátđộ tha (độ người), còn Phật là giác hạnhviên mãn
(độ mình và độ người đã xong).

2. Trên phương diệnphát nguyện thì:

A La Hán chỉ cầu thoát khỏisinh
tử luân hồi
.

Bồ Tát là người phát tâm cầu thành
Phật
để độ tất cả chúng sinhthoát khỏisinh tử luân hồi. Trên quảng đường từ
lúc mới phát Bồ đề tâm (Bodhicitta) cho đến lúc thành Phật thì gọi là Bồ Tát.

3. Trên phương diệnchứng đắc thì:

A La Hán đã phá được ngã chấp, tức
chứng được ‘ngã không’ (Sattvàsùnyatà), không còn chấp vào một cái Ta (Atman)
hiện hữu.

Bồ Tát cũng chứng được ‘ngã
không’, nhưng chưa hoàn toàn được ‘pháp không’ (Dharmasùnyatà).

– Phật thì đã phá hoàn toànngã chấp
pháp chấp, tức là thấy được thực tướng của vạn pháp, thấy được các pháp
không
sinh (anutpanna), không diệt (anirudha).

4. Trên phương diệntu trì:

A La Hán tu theo Tứ Đế, ba mươi
bảy phẩm trợ đạo
.

Bồ Tát hànhLục độ (Bố thí, Trì
giới
, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ).

– Phật thì cũng giống như Bồ Tát nhưng
đã tới đích. Trên đây chỉ là khái lược sơ về sự khác biệt giữa Phật, Bồ Tát
A La Hán.

Chúng ta là hàng Sơ phát tâmBồ Tát
thì cần chú trọng nhiều về hai phương diệnphát nguyệntu trì. Phát nguyện
phát Bồ đề tâmtức tâm nguyện thành Phật để cứu độchúng sinhthoát khỏisinh tử luân hồi, còn tu trì là luôn luôn tìm mọi cách để thực hànhLục độ.

II. Tầm quan trọng của
phát nguyệnhồi hướng

Trong đạo Phật, ta thường nghe nói
về Tam Độc tức là lòng ham muốn, giận tức và si mê, chúng trói buộc ta trong
vòng
sinh tử luân hồi. Và muốn giải thoát thì ta phải dẹp trừ chúng bằng cách
bớt ham muốn, mở rộnglòng từ bi, trau dồi giáo lýPhật Pháp. Do hiểu như vậy,
0nên nhiều người trong chúng ta không dám mong cầu gì cả, đến chùa tụng Kinh
cho vui vậy thôi chứ không thành tâmphát nguyệnhồi hướng (trong các thời
Kinh ở chùa đều có văn phát nguyệnhồi hướng, nhưng vì không chú tâm hoặc
không hiểu nên gọi là không thành tâm), khi bố thí thì bố thí vậy thôi chứ
không nghĩ gì hết. Rồi ta cho như vậy là đúng, vì trong Thiền Tông thường nói
giữ ‘Tâm Không’, nên ta không dám nghĩ, không dám mong cầu gì hết, chỉ giữ Tâm
Không
thôi. Nếu ta cứ làm như vậy hoài thì kiếp sau ta sẽ đầu thai thành cục đá
bên lề đường, vì cục đá cũng có Tâm Không, vô tri vô giác, không nghĩ, không
biết gì cả. Cõi Ta Bàchúng ta đang ở đây thuộc về cõi Dục. Chúng sanh ở đây
luôn luôn ham muốn, ham muốnngũ dục: tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon,
ngủ ấm. Nhưng chúng ta quên mất một điều là tất cả chư Phật đều thị hiệnthành
Phật
ở cõi này, chứ không thành Phật ở hai cõi Sắc và Vô Sắc. Đức Phật dạy ta
lìa bỏngũ dục chứ đâu có dạy ta lìa bỏNiết Bàn dục (tức lòng ham muốnđạt
được
Niết Bàn). Ở đời, khi làm một việc gì thì ta thường cólý domục đích.
Lúc nhỏ ta cắp sách đến trường, lý docha mẹ ta muốn cho ta nên người. Mục
đích
của sự học là để được bằng tú tài. Có tú tài để được vào Đại Học. Vào Đại
Học
mấy năm để có được một văn bằng (diplôme). Có văn bằng để đi ra làm việc.
Làm việc để có tiền. Có tiền để nuôi thân hoặc nuôi gia đình,… Tất cả những
cái ‘để’ đó đều là mục đích của những hành động và việc làm của ta. Khi có mục
đích
là có sự mong cầu. Sự mong cầu hay ham muốn được xem là tốt hay xấu tùy
theo
mục đích của nó tức là đối tượng của sự mong cầu. Nếu ta ham muốnngũ dục
thì đó là xấu vì kết quả là ta sẽ đau khổ, ngược lại nếu ta ham muốnhọc đạo,
tu đạo, thì đó là một sự ham muốn tốt vì kết quả là ta sẽ giải thoát, hưởng sự
an vui của Niết Bàn. Khi ta ham muốn vừa vừa thì gọi là mong cầu, khi ta hết
lòng
ham muốnquyết chí đạt cho được mục đích thì gọi là nguyện. Tất cả chư
Phật và Bồ Tát đều là những người đã mong cầu, đã phát nguyện năm xưa. Ta há
không nhớ Đức PhậtThích Ca đã phát nguyệndưới gốc cây Bồ Đề? Ngài nguyện:
‘Dù máu khô, thịt nát, xương tan, nếu khônggiác ngộ (thành Phật) ta thề không
rời khỏi nơi đây.’

Ngoài ra đọc trong Túc Sanh Truyện
(Jataka) kể về các tiền thân của đức Phật, ta sẽ thấy là mỗi khi làm một hạnh
gì, ngài đều phát nguyệnhồi hướng. Phát nguyện cầu thành Phật để cứu độchúng
sanh
hồi hướng tất cả công đức cho quả vị Phật.

Hồi hướng là gì?

Là gom góp tất cả để đặt vào một
chổ. Người làm phước nhiều mà không biết hồi hướng sẽ giống như người đi làm
cho có thật nhiều tiền đem về chất đầy nhà, rồi không biết làm gì với đống tiền
đó.

Hãy lấy một thí dụ:

1. Ta đến chùa làm một việc công
đức
, mà trong tâm ta luôn luôn nghĩ đến sự giàu sangsung sướng, thì kiếp sau
ta sẽ được giàu sangsung sướng.

2. Cũng một việc công đức đó, mà ta
hồi hướngđược giải thoátsinh tử luân hồi, thì trong những kiếp sau ta sẽ được
giải thoát
khỏi sinh tử luân hồi.

3. Cũng một việc công đức đó, mà ta
hồi hướng cầu thành Phật thì chắc chắn một kiếp xa xôi nào đó ta sẽ thành Phật.

Tại sao trong thí dụ (1) nói kiếp
sau
, thí dụ (2) nói những kiếp sau, và thí dụ (3) nói một kiếp xa xôi, ý nghĩa
là sao?

Thí dụ (1) nói về sự giàu sangsung
sướng
ví như một cái áo bành tô (manteau) trị giá 700 quan. Thí dụ (2) nói về
sự giải thoátsinh tử luân hồiví như một chiếc xe hơi trị giá 70.000 quan. Thí
dụ
(3) nói về sự cầu thành Phậtví như một căn nhà villa trị giá 700.000 quan.

Nếu ta đi làm lương một tháng là
5000 quan, và trong đầu ta không có một mục đích gì cả, thì khi đi đường, nếu
thấy một cái áo bành tô đẹp, vừa giá ta có thể mua được thì ta mua ngay không
chần chờ.

Cũng với số lương đó mà ta muốn có
một chiếc xe hơi thì ta phải dành dụm năm này qua năm nọ, không dám lấy tiền
lương xài vào việc khác như mua quần áo, thì khoảng vài năm là ta có thể có
được một chiếc xe hơi.

Cũng với số lương đó mà ta muốn có
một căn nhà villa thì ta phải dành dụm lâu hơn nữa vì lương của ta quá ít so
với giá tiền của cái nhà. Do đó ta phải gom góp dành dụm tiền lương không dám
xài hoang phí vào việc khác, mà cốt chỉ để mua nhà. Vậy thì khoảng hai mươi năm
hay hơn nữa ta mới hoàn toàn làm chủ cái nhà (vì ở bên Pháp cho trả Crédit).

Sau ba thí dụ trên, ta thấy rằng
cũng cùng một hành động (karman) cùng một nhân (hetu) mà có quả báo khác nhau.
Đó là do tâm hồi hướng mà ra. Nếu ta tạo công đức nhiều mà không biết hồi hướng
thì uổng lắm, vì sao? Dĩ nhiên là khi tạo công đức thì chắc chắn ta sẽ gặp quả
báo
tốt, nhưng uổng vì đó là quả báohữu lậu của thế gian, sau một thời gian ta
sẽ còn lại hai bàn tay trắng mà thôi.

Nếu thấy được tầm quan trọng của sự
phát nguyệnhồi hướng thì sau này : trước khi, trong khi, và sau khi làm một
việc gì tốt ta nên phát nguyệnhồi hướng. Và hơn nữa khi ta gặp một việc
công đức nào ta sẽ vui mừng vì đó là một cơ hội cho ta tiến mau đến mục đích
(nếu là trường hợp ta thích xe hơi hoặc căn nhà, mà không thích áo bành tô).

Vậy theo ta hiểu thì Bồ Tát là phải
nhớ đến Bồ đề tâm, nhớ phát nguyệnhồi hướng cầu thành Phật, nhưng không
hiểu tại sao khi ta đọc Tâm Kinh thì thấy trong đó có nói câu ‘vô trí diệc vô
đắc, dĩ vô sở đắc cố’. Lúc đó ta nên khởi tâm nghĩ như vầy : Bồ TátQuán Tự Tại
là bậc Diệu GiácBồ Tát, còn ta đây là Bào thaiBồ Tát (Bồ Tát còn nằm trong
bụng mẹ). Hơn nữa Quán Tự Tại Bồ Tát đã hiểu, đã thấy, đã chứng được tánh
Không
, tức thực tướng của vạn pháp, còn ta đây không biết cái gì là phải cái gì
là trái, cái gì tốt cái gì xấu, cái gì là Từ Bi cái gì là ác độc, nói chi đến
tánh Không với tánh Có. Ta đừng làm giống như người đang đi trên sông, thấy
người khác đến bờ vứt bỏ con thuyền, mà ở đây ta cũng vội vàng lấy búa ra đập
thủng thuyền của mình. Ta phải luôn luôn ý thức nhìn lại xem mình là ai? Em bé
lên 3, thanh niên 20, hay ông lão 70. Nếu là em bé lên 3 thì ta hãy vui vẻ tập
đi, không nên bắt chước lấy cây gậy của ông già bảy mươi mà chết sớm. Còn ngược
lại nếu thấy mình là ông lão bảy mươi thì ta cứ việc ‘vô trí diệc vô đắc, dĩ
sở đắc
cố’, không ai cấm cản vì đạo Phật là đạo tự giác không có bắt buộc hay
độc tài.

Sau khi hiểu được sự phát Bồ đề tâm
cũng như sự phát nguyệnhồi hướng của Bồ Tát, ta bước sang phần thực hành
của Bồ Tát tức Lục Độ.

À, hình như chúng ta quên mất một
điều, là không biết tại sao Bồ Tát lại phát Bồ đề tâm? Mục đích của Bồ đề tâm
thành Phậtcứu độchúng sanh, nhưng lý do và căn nguyên của sự phát Bồ đề
tâm
là gì? Bồ Tátphát Bồ đề tâm, lý doBồ Tát thấy chúng sanhđau khổ nên
muốn cứu khổchúng sanh, muốn cứu khổchúng sanh nên mới cầu thành Phật tức cầu
sự giác ngộhoàn toàn.

Bồ Tát là những người ý thức được sự
đau khổ của cuộc đời, thấy rõ được sự bất công, sự đàn áp, bóc lột, lợi dụng,
tàn hoại, ác độc của chính con người tạo cho con người. Nếu Bồ Tát chỉ ngồi một
chỗ, cần gì hô lên một tiếng, có người đem đến dâng cho, thì Bồ Tát khó ý thức
được sự khó khăn, đổ mồ hôi sôi nước mắt của người dâng cho mình. Nếu không tự
thân chứng nghiệm đau khổ, thì ít nhấtBồ Tát cũng tập ý thức sự có mặt của đau
khổ
nơi mọi loài. Vì có đau khổ nên mới có đạo Phật, nếu khôngđau khổ thì
không có đạo Phật. Bồ Tátý thức được sự đau khổ không phải để sợ hãi, mà là để
nuôi dưỡnglòng từ bi của mình. Bồ đề tâm của Bồ Tát cũng ví như ngọn lửa được
đốt bằng dầu đau khổ. Nếu không có dầu đau khổ thì ngọn lửa Bồ đề tâm sẽ tắt.
Do đó đối với Tứ Diệu Đế, Bồ Tát đã thấu triệthoàn toàn. Nếu chúng ta muốn đi
theo
con đường của Bồ Tát thì chúng ta cũng cần phải học cho thông suốtTứ Diệu
Đế
, nếu không được thì ít nhấtchúng ta cũng cần phải hiểu được ‘Nhị diệu đế’
tức là hai Diệu đế đầu: Khổ ĐếTập Đế. Và sau khi hiểu rõ rồi thì ta hãy
tiến bước trên Bồ Tát đạo, nếu không như thế thì ta chỉ là ‘danh tự Bồ Tát’,
tức là ta đến chùa thọ bồ tát giới cho vui mà thôi.

Sau khi hiểu được nguyên nhânmục
đích
của Bồ Tát, ta bước sang con đường đi của Bồ Tát, tức Bồ Tát đạo
(Bodhisattvamàrga).

Bồ Tát đạo thường được biểu hiện qua
Lục độ, tức sáu hạnh, còn gọi là Lục Ba La Mật (Pàramità) gồm có: Bố thí
(Dàna), Trì giới (Sila), Nhẫn nhục (Ksànti), Tinh tấn (Vìrya), Thiền định
(Dhyàna), Trí tuệ (Prajna). Pàramità dịch âm là Ba La Mật Đa, dịch chữ là Đáo
Bỉ Ngạn
có nghĩa là đến bờ bên kia. Lục Ba La Mật là sáu phương tiện có khả
năng đưa (độ) Bồ Tát sang đến bờ bên kia là bờ Đại Giác, tức Phật.

Trong phạm vi nhỏ hẹp, sách này chỉ
xin nói về Bố thí Ba la mật thôi. Vì bố thí đúng với ý nghĩa của nó thì nó bao
gồm
cả sáu Ba la mật, nếu không thì nhiều khi nó cũng không được gọi là Bố thí
nữa.

-oOo-

3. Bố thí là gì?

I. Bố thí là gì?

Bố thí là hạnh đầu tiên trong sáu
hạnh của Bồ Tát. Nguyên âm chữ Phạn là Dàna có nghĩa là sự cho, dịch sang tiếng
Hán Việt là Bố thí. Bố là khắp, thí là cho. Bố thí là cho khắp tất cả. Nếu nói
như vậy thì hơi đơn giảnmơ hồ. Vì cho khắp tất cả có nghĩa là cho khắp tất
cả những gì mình có, hay cho khắp tất cả chúng sinh?

Khi ta đi đường gặp một kẻ nghèo khó
đứng xin ăn, ta lấy năm đồng hay một cắc ra cho họ, thì ta gọi đó là bố thí cho
kẻ nghèo. Trong gia đình khi ta cho con cái vật gì thì ta chỉ gọi đó là cho.
Đối với những người có địa vịxã hội cao hơn ta, hay đối với hàng ông bà chú
bác thì ta không gọi là cho mà gọi là Tặng hay Biếu. Rồi khi vào chùa đối với
Tam Bảo ta lại có tiếng gọi khác là cúng dường. Cũng là một hành động cho mà
lại có nhiều tên gọi khác nhau vì đó là tùy ở nơi đối tượng của sự cho, tức là
người nhận. Mùa Xuân Tết đến, ta không thể đem một món quà đến gặp ông chủ của
mình mà nói rằng: ‘Tôi xin bố thí cho ông chủ món quà’, hoặc gặp một vị Thầy ta
nói: ‘Con xin bố thí cho Thầy’, hoặc ta cũng không thể nói: ‘Ba cúng dường cho
con một hộp bánh’, v…v… Tiếng Việt của ta rắc rối lắm, không phải dễ dàng
đâu! Nếu không chú ý cẩn thận một chút là ta có thể gây phiền phức cho chính mình
và cả người khác nữa.

Như ta đã thấy Bố thígồm có nhiều
nghĩa: cho, tặng, biếu, cúng dường, bố thí. Nhưng để giản tiện bớt cho những
trang sau, ta tạm gọi tất cả những cái đó là Bố thí.

II. Vì sao phải bố
thí?

Bố thí đem lại nhiều lợi ích sau
đây : Bố thí là một kho tàng phước đức luôn luôn đi theo người chủ (tức người
cho) đời này sang đời khác; bố thíxây dựnghạnh phúctiêu trừđau khổ;
người biết bố thí thì ai cũng thương mến; bố thí làm cho tâm (người cho) được
an vui, khi gần chếttâm khôngsợ hãi; bố thítiêu trừ lòng tham lambỏn xẻn;
người biết bố thí thì chư Thiênủng hộ; bố thícon đườngtrong sạch mà tất
cả Thánh nhân đều đã đi qua; bố thí là một thiện nghiệp sẽ cho ra quả báo tốt;
bố thí là hành động của những người hùng; bố thí sẽ tiêu trừ sự nghèo và đóng
cửa
dẫn đến ba đường ác (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh); bố thígiữ gìncông đức;
bố thíđiều kiện đầu tiên của con đường dẫn đến Niết Bàn; bố thí là gốc rễ
của tất cả thiện pháp; bố thí là nhà ở của những người cao quý, là thú vui của
những bậc Thánh (Arya) và Vĩ nhân; bố thí là một cái gương sáng đáng để cho
những người thiếu phước đứctrí huệ noi theo.

* Người trí và người ngu trong cuộc
hỏa hoạn
.

Khi có một cuộc hỏa hoạn, người có
trí khôn biết nhận xét xem lửa có thể lan đến nhà mình hay không? Nếu có thì
vội vàng thâu góp tài sản dời đi chổ khác yên ổn trước khi lửa cháy tới. Đến
khi lửa lan tới và mặc dù căn nhà của mình bị cháy tiêu rụi, nhưng người ấy vẫn
còn nguyên những gì quý giá, và nhờ đó có thể xây cất lại căn nhà khác. Cũng
như thế, người trí biết được cái thân xác của mình rất mong manh dễ tàn, và của
cải
vật chất cũng vậy nay còn mai mất, thừa dịp tốt lúc thân xác và của cải
chưa mất, người ấy trau giồi tích tụcông đức bằng cách thực hành bố thí, cũng
giống như người khôn biết thâu nhặt đồ vật quý giá trước khi nhà cháy; và trong
những kiếp sau người ấy (người bố thí) sẽ được hưởng lại sự bố thí do phước báo
đã tạo, giống như người khôn xây lại căn nhà mới vậy.

Ngược lại, cũng trong một cuộc hỏa
hoạn, người ngu không biết làm gì, chỉ vì tham lam không muốn rời bỏ căn nhà;
đến khi lửa cháy tới nơi, hoảng hốt lo chạy thoát thân một mình, không đem theo
được đồ vật nào cả; người này không có trí khônnhận xét được sự lan tràn nhanh
chóng của lửa (nhất là khi có gió to), để rồi dưới sức gió mãnh liệt và ngọn
lửa vô tình, căn nhà của mình chỉ trong vài phút là cháy rụi ra tro. Tệ hơn nữa
là chờ đến giờ phút chót mới lo chạy thoát thân nên không đem theo được tài sản
nào hết. Do đó sau cuộc hỏa hoạn, người này phải chịu đói khát, chịu nóng lạnh
và sống cực khổcho đến hết cuộc đời. Trường hợp của một người tham lam, bỏn
xẻn
, keo kiệt cũng giống như người ngu vừa kể trên, tức là không biết rằng thân
xác, của cải và mạng sống rất mong manh, dễ tàn nay còn mai mất, không thể nào
giữ mãi mãi được, chỉ trong một tíc tắc đồng hồ thôi là có thể tiêu tan mất
hết. Vì không biết được như vậy nên trong suốtcuộc đời, người ngu chỉ chúi đầu
vào việc tích tụcủa cải, vơ vét tiền bạc, rồi bảo vệ, giữ gìn chúng một cách
tham lamích kỷ. Nhưng rồi bất thình lình một ngày nào đó ‘Thần chết’ đến gõ
cửa nắm đầu lôi đi (không thể từ chối được). Xác thân tứ đại này tan rã trở về
với đất rừng, những của cải, tài sản khổ công tích tụ đều phải bỏ lại không đem
theo
được, và kiếp sautái sinh trong cảnh nghèo khổ, đói rét giống như người
ngu hoảng hốt trong cơn hỏa hoạn vậy.

Người trí, rộng lượng biết được
rằng: khi bố thí cho người khác tức là làm lợi ích cho chính mình. Ngược lại
người ngu, bần tiện, không biết được rằng: nếu khôngbố thí hay giúp đỡ người
khác tức là chả làm được lợi ích gì cho chính mình cả.

-oOo-

 4. Bố thí có mấy loại?

Nếu ta là người học Phật lâu năm ta
sẽ nhanh nhẹn trả lời rằng có 3 loại:

1) Tài thí: tức bố thí tiền.

2) Pháp thí: tức bố thí pháp.

3) Vô úy thí: tức bố thí sự không sợ
hãi
.

Trả lời như vậy xong, ta yên chí cho
là mình đã hiểu xong Bố thí Ba La Mật, rồi ta bỏ qua, đi lấy Kinh Hoa Nghiêm ra
đọc, hoặc lấy sách Tổ Sư Thiền ra coi. Nhưng than ôi! Ta đã lầm to, Bố thí Ba
La Mật
đâu phải chỉ có bấy nhiêu thôi!

Khi nói đến sự bố thí, thì ta nhận
ra
có ba yếu tố tạo ra nó, đó là: người cho (năng thí), món đồ (vật thí), và
người nhận (sở thí).

Ba món Bố thí mà ta vừa kể trên
(Tài, Pháp, Vô úy) thuộc về vật thí. Còn người cho và người nhận, ta đã sơ xuấtbỏ quên. Ba yếu tố cho ra sự Bố thí quan trọng lắm, nếu thiếu một trong ba cái
đó thì sẽ không có sự Bố thí.

Có người cầm trong tay một món đồ
muốn cho mà không có ai nhận thì không có sự bố thí. Có món đồ mà không có
người cho và người nhận thì cũng không có sự bố thí. Có người sẵn sàng nhận đồ
mà không có ai cho thì cũng không có sự bố thí.

Nếu muốn phân loại thì ta phải căn
cứ trên ba yếu tố của sự Bố thí mà phân loại:

– Trên phương diện người cho
(dayaka) thì có hai loại: Bố thítrong sạch (visuddhadàna) và không trong sạch
(avisudha).

– Trên phương diệnvật thí (deya)
thì có ba loại: Tài thí (Dravyadàna), Pháp thí (Dharmadàna) và Vô úy thí
(Abhayadàna).

– Trên phương diện người nhận (tức
đối tượng của sự bố thí), còn được gọi là ruộng phước (phước điền) thì có hai
loại: ruộng phước nhỏ (karunàpunyaksetra) và ruộng phước lớn
(satkàrapunyaksetra).

Trên đây chỉ là tạm phân loại tổng
quát thôi, vì mỗi loại lại được phân ra làm các phần nhỏ nữa mà ta sẽ đi sâu vào
chi tiết sau.

I. Trên phương diện
người thí

hai loại bố thí: Trong sạch
không trong sạch.

1) Thế nào là bố thí không trong
sạch?

Đó là bố thí vì: tư lợi, bất kính,
chán ghét, yếu hèn, muốn dụ dỗ, sợ chết, muốn chọc tức, ghen tức, ganh đua,
kiêu ngạo, cầu danh, tránh né sự nguy hiểm, muốn mê hoặc lòng người,… Tóm lạibố thí vì một cái tâm xấu xa, không nghĩ đến sự an vui hay lợi ích cho người
nhận.

2) Thế nào là bố thí trong sạch?

Nói một cách giản dị, đó là sự bố
thí
có tánh cách ngược lại những gì đã tả ở phần trên. Còn có nghĩa là Bố thí
mà muốn đem lại lợi ích cho người nhận.

Vừa kể trên là sự bố thítrong sạch
cho tất cả mọi người. Riêng cho Phật tử thì Bố thítrong sạch còn có nghĩa là
bồi đắp công đức cho sự giải thoát, tức Niết Bàn (Nirvàna).

Phải bồi đắp cách nào? Bằng cách bố
thí
với tâm trong sạch, không cầu phước báo của Trời (Deva), người (Manusya),
không cầu sự sung sướngtrong đời này và đời sau, chỉ cầu giải thoát của Niết
Bàn
, bố thí với tấm lòng cung kính (satkàra) hoặc từ bi (maitrìkarùna). Trong
lúc chưa chứng được hoàn toàn quả Niết Bàn, ta vẫn tái sinh ở cảnh an vui của
Trời, người (mặc dù không cố ý cầu), đó là do nghiệp báo tốt của sự bố thítrong sạch. Đức Phật có nói rằng: ‘Trên đời này có hai hạng người rất là hiếm
có: 1) Một vị Tỳ Khưu đã hoàn toàngiải thoát trong số các tu sĩ lang thang
(pravajita); 2) Một người biết bố thítrong sạch trong số các cư sĩ tại gia’
(Anguttara I).

II. Trên phương diệnvật thí

Có ba loại: Tài thí, Pháp thí
úy thí
.

Trong mỗi loại trên lại chia ra:
chân chính và không chân chính.

1) Tài thí

Tài thí lại chia ra hai loại: Ngoại
thí và Nội thí.

a) Ngoại thí (bàhyadàna): Ngoại thí
bố thí những đồ vật bên ngoài như: vàng, bạc, của cải, quần áo, đồ ăn thức
uống

b) Nội thí (àdhyàtmika): Nội thí là
bố thí những gì trong thân thểcon ngườichúng ta; như xưa kiađức Phật còn làm
Bồ Tát đã bố thí đầu, mắt, chân, tay… Ngày nay ta không làm nổi như vậy thì
ta có thể ra công giúp sức như làm công quả cho chùa, kéo xe cho người già,
v…v… Hoặc tiếp máu cho bệnh nhân ở nhà thương, hoặc ký giấy cho những bộ
phận trong thân thể mình nếu bị chết bất đắc kỳ tử.

c) Tài thíchân chính: là những đồ
vật được bố thí không phải do từ trộm cắp hay cướp giật. Nếu ngược lại là tài
thí
không chân chính.

Ngoài ra nếu ta bố thí trong những
trường hợp sau đây thì phước báo sẽ tăng lên gấp bội:

1. Bố thíđúng lúc. Có nghĩa là bố
thí
cho: những người đi xa, người từ xa mới đến, người bịnh, người trông coi kẻ
bịnh, trong những mùa giá lạnh.
2. Bố thí luôn luôn mà không thấy mệt mỏi hay chán nản.
3. Bố thítùy theosở thích của người xin.
4. Bố thí những vật quí giá.
5. Bố thí cho những người làm việc cho Chùa, làm vườn, đào mương …
6. Bố thí cho chư Tăng.
7. Bố thíkính trọng người nhận.
8. Bố thí cho những người có đức hạnh.
9. Bố thí tất cả những gì mà mình có.

* Sự bố thítoàn vẹn của Họa sĩ
Karna (Sùtralamkara).

Thuở đó ở làng Puskaravàvati có một
người họa sĩ tên là Karna. Vì làm ăn không khá nên anh ta đã từ giả gia đìnhvợ
con
, lên đườngmột mình sang nước lân cận là Taksasila. Nơi đây anh ta tận tụy
làm việc, kết quả là sau mười hai năm, anh ta đã dành dụm được ba chục đồng
tiền
vàng. Hớn hở, anh ta trở về quê cũ, trên đường về làng nghe thấy một hồi
chuông trống báo hiệu sắp có một cuộc hội họp quan trọng của Chư Tăng, thế là
anh ta lần mò đến. Với một đức tintrong sạch anh đi gặp vị Tăng Tri sự (tức vị
Tăng phân phối chỉ huybuổi họp) mà hỏi rằng: ‘Thưa ngài, buổi họp như vậy nếu
kéo dài một ngày thì phải cần chi phí bao nhiêu để có thể cúng dường (vật thực)
đầy đủ cho chư Tăng?’ Vị Tăng Tri sựtrả lời: ‘Khoảng ba mươi đồng vàng thì đủ
cho một ngày’. Nghe vậy xong, anh liền móc túi lấy ra ba mươi đồng vàng đưa hết
cho vị Tri sự mà thưa rằng: ‘Con xin thành tâm, dâng cúng vật thực một ngày cho
chư Tăng’. Sau đó anh ta trở về nhà với hai bàn tay trắng.

Về đến nhà, vợ anh mừng rỡ chạy ra
đón và hỏi: ‘Trong suốt mười hai năm anh đã làm được bao nhiêu tiền?’ Anh ta
trả lời: ‘Được ba mươi đồng vàng’. Vợ anh hỏi tiếp: ‘Thế ba mươi đồng vàng đâu
anh hãy cho xem?’ Anh ta nói: ‘Tôi đã gieo tất cả vào một ruộng phước
(punyaksetra) rồi’. Vợ anh hỏi ruộng phước nào thì anh trả lời: ‘Tôi đã cúng
dường
hết cho Giáo đoànTăng Già (Sangha)’. Vừa nghe như vậy xong, người vợ
liền nổi giận la hét mắng chửi và đánh đập anh, rồi lôi kéo anh ra tòa nhờ quan
trên xét xửtrừng phạt anh. Ra đến tòa, quan hỏi có chuyện gì thì vợ anh
thưa rằng: ‘Chồng tôi là một tên khùng nặng ! Trong suốt mười hai năm trời đi
làm ở nước ngoài, dành dụm được ba mươi đồng vàng. Nhưng về đến đây không biết
nghĩ và thương hại đến vợ con, nên chồng tôi đã phung phí, cho người ta hết
không còn đồng nào. Chiếu theo pháp luật, tôi lôi anh ta đến đây xin quan trên
xét xử’. Quan tòa hỏi người chồng: ‘Tại sao anh lại đưa cho người ta hết thay
vì đem về đưa cho vợ con?’ Anh trả lời: ‘Trong những kiếp sống trước của tôi,
tôi đã không biết làm các hạnh lành, vì thế nên trong kiếp này tôi phải chịu
cảnh nghèo và cực khổ. Nhưng cũng trong kiếp này, tôi có duyên may gặp được một
ruộng phước, và nếu tôi không nắm lấy cơ hội gieo vào đó những hạt giống lành,
thì chắc chắn trong những kiếp vị lai tôi sẽ phải chịu mãi mãi cảnh nghèo khổ
không biết đến bao giờ mới hết. Vì muốn thoát khỏi cảnh nghèo khổ nên ngày hôm
nay tôi đã cúng dường hết số vàng của tôi cho đoàn Tăng Già’.

Vị quan tòa này lại là một Ưu bà tắc
(Upàsaka), có đức tintrong sạch nơi Tam Bảo, nên sau khi nghe anh họa sĩ trả
lời
như thế, liền hết lòngtán thán: ‘Việc làm của anh quả thật là cao thượng,
anh đã biết bố thítoàn vẹn cho Giáo đoàn số tiền dành dụm được sau bao năm làm
lụng cực khổ. Thật là cao quý, tôi đây thiệt không bằng’. Thế rồi vị quan tòa
liền tháo cái vòng ngọc đang đeo ở cổ đưa tặng anh ta, cùng lúc cho anh ta con
ngựa của mình đang cưỡi và một làng nhỏ. Rồi cuối cùng quan tòa lại nói thêm: ‘Anh
vừa mới hiến tặng cho Giáo đoàn, thì tôi đây cũng xin hiến tặng lại anh, nhưng
đó chỉ gọi là một chút quả báohiện tại, chắc chắn trong những kiếp tới phước
đức
quả báo của anh sẽ vô lượng’.

* Sự cúng dường của Ma Ha Ca Diếp
(Maha Kasyapa)

Ca Diếp có nghĩa là Ẩm Quang, vì
thân hình của ngài lúc nào cũng tỏa ra ánh sáng rực rỡtrang nghiêm. Do nhân
duyên
nào mà được như thế? Trong một tiền kiếpquá khứ xa xưa vào thời Đức PhậtTỳ Bà Thi (Vipasyin), lúc đó tôn giả Ca Diếptiền thân là một thợ bạc chuyên
đúc tượng. Một ngày nọ, có một thiếu nữ nghèo vào tiệm trên tay mang theo một
thoi vàng, nhờ ông đúc một pho tượng Phật. Người thợ bạc thấy thế liền hỏi :
” Vàng ở đâu mà cô có? ” Thiếu nữtrả lời :” Trên đường đi lễPhật về đã nhặt được.”

Người thợ bạc lấy làm ngạc nhiên hỏi
: ” Tôi thấy cô nghèo khổ quá, không đủ cơm ăn, áo mặc, sao cô không đem
vàng này bán đi để chi dụng cho cuộc sống mà lại đem đúc tượng Phật? “

Thiếu nữ nói : “Vì tôi có phát
lời nguyện tại chùa là nếu có đủ thuận duyên thì tôi sẽ đúc một pho tượng Phật
bằng vàng đẻ cho chúng sinhchiêm ngưỡnglễ bái. Và hôm nay làm được như vậy là
tôi mãn nguyện lắm rồi, không còn mong cầu chi khác hơn.”

Cảm động trước sự phát tâmbố thícúng dường quá rộng lớn của thiếu nữ, người thợ bạc cũng phát tâm : ”
Được, tôi sẽ đúc cho cô pho tượng Phật này và tôi cũng xin nguyện cúng dường
không lấy tiền công.”

Do nơicông đứcbố thícúng dường
này mà chín mươi mốt kiếp sau, hai người sinh ra lúc nào thân hình lúc nào cũng
trong sángtrang nghiêm và gặp được nhiều thiện hữu tri thức, cho đếnkiếp sau
cùng sinh vào nước Ấn Độ gặp Phật Thích Ca xuât gia học đạo đồng chứng quảA La
Hán
.

2) Pháp thí

Thế nào là pháp thí?

Được xem là pháp thígồm có:

1. Tất cả những lời nóichân thật,
hữu ích có thể đem lại an lạc cho người nghe.

2. Giảng dạy chánh pháp của đức Phật
(Buddhadharma).

3. Giảng dạy ba Tạng pháp: Kinh
(Sùtra), Luật (Vinaya) và Luận (Abhidharma).

4. Giảng dạy cho người biết hai
pháp: Thanh văn (Sravaka) và Bồ Tát (Bodhisattva).

Nghi vấn: Tại sao Đề Bà Đạt Đa
(Devadatta) cũng giảng dạy ba Tạng pháp, pháp Thanh vănBồ Tát mà lại bị đọa
xuống Địa ngục? Lý do tại sao?

Ai cũng biết Đề Bà Đạt Đa là người
chuyên môn ganh đuatìm cách hại đức Phật, lại còn hay chia rẽ phá rối sự hòa
hợp
của Tăng đoàn. Ngoài hai trọng tội này ra, Đề Bà Đạt Đa lại còn tạo rất
nhiều tội về tà kiến. Sự giảng dạy thuyết pháp của Đề Bà Đạt Đa không phải là
một sự bố thí Pháptrong sạch, nhằm cầu sự giải thoát, mà là cầu danh, cầu lợi,
cầu sự kính trọng, … Chính vì sự Pháp thí không trong sạch này nên Đề Bà Đạt
Đa
chẳng gặt hái được công đức nào, và vẫn bị xuống địa ngục như thường.

* Pháp thí không chân chính là giảng
dạy những giáo pháp của ngoại đạo, không đưa con người đến sự giải thoátsinh
tử luân hồi
(như dạy xuất hồn, dạy làm bùa phép, v…v…)

* Pháp thíchân chính là giảng dạy
những giáo pháp đưa con người đến giải thoát rốt ráo của Niết Bàn (Nirvàna).

3) Vô úy thí

Vô úy thí có nghĩa là bố thí sự
không sợ hãi, tức là làm cho người khác được an tâm yên chí, không sợ gì cả.

Theo nguồn gốc Kinh tạngnguyên thủy
(Anguttara, Itivuttaka) thì chỉ có hai loại Bố thí, đó là Tài thíPháp thí.
Nhưng theo giáo lýĐại thừa (Mahayàna), có thêm vào một loại bố thí thứ ba là
Vô úy thí.

Theo ý kiếncá nhân, thì tôi thấy
úy thí
nằm trong Tài thí hoặc Pháp thí. Vì sao? Vì khi bố thí, tức là cho, thì
có hai cách: một là cho bằng hành động, hai là cho bằng lời nói. Nếu bằng hành
động thì đó thuộc Tài thí, còn nếu bằng lời nói thì đó thuộc Pháp thí.

Thí dụ:

* Nếu có một người đi đường ban đêm
sợ cướp giật, thấy thế ta liền đi theobảo vệ cho người đó hết sợ. Ta gọi đó là
Vô úy thí. Nhưng hành động đi theo của ta chính là thân thí (có nghĩa là vác
cái thân của ta đi theo người đó), vậy tức là thuộc tài thí rồi.

* Nếu có người sợ chết, sợ xuống địa
ngục
, ta liền đem giáo lýan ủi họ, chỉ cho họ làm lành hoặc biết niệm Phật thì
sau khi chết sẽ về Cực Lạc. Nhờ đó họ không còn sợ chết nữa. Ta gọi đó là vô úy
thí
. Nhưng những lời lẽ mà ta an ủi họ, đó chính là Pháp thí rồi.

Ta không thể nào tự nhiên làm cho
người khác hết sợ hãi được. Ta phải làm một cái gì đó (một lời nói, một sự hiện
diện
, một sự an ủi, một sự giúp sức,…) cho người ấy thì người ấy mới hết sợ
(vô úy) được. Sự hết sợ chính là kết quả của Tài thí hoặc Pháp thí. Vì vậy
úy thí
không thể được xem là một loại bố thí riêng biệt không tùy thuộc gì nơi
hai sự bố thí kia cả (Tài và Pháp thí).

* Thế nào là vô úy thí chân chính?

Vô úy thíchân chính hay không chân
chính
đó là tùy thuộcTài thíPháp thíchân chính hay không? Thí dụ:

– Có một người sợ chết. Ta bảo họ
đừng sợ, cứ lo niệm Phật, ăn chay, làm phước, đến khi chết sẽ về Cực Lạc. Thế
rồi họ nghe theo và hết sợ chết. Đó là vô úy thíchân chính.

– Cũng cùng một người, nếu ta bảo họ
đừng sợ chết, vì chết là hết, không có gì phải lo cả, không có địa ngục, không
thiên đàng. Nếu họ tin ta mà không sợ chết nữa, thì đó là Vô úy thí không
chân chính (vì ta dạy họ chấp đoạn).

4) So sánh ba loại Bố thí

Vì thấy Vô úy thí nằm trong Tài thí
hoặc Pháp thí nên ở đây tôi chỉ so sánhTài thí với Pháp thí thôi.

Đa sốchúng ta ai cũng biết trước
Pháp thí quý hơn Tài thí. Chính đức Phật đã nói: ‘Trong hai loại Bố thí này,
thì Pháp thí là trên’ (Anguttara I). Vì sao? Vì nhiều lý do:

Phước báo của Tài thí vẫn thuộc
cõi Dục giới (Kàmadhatu) còn phước báo của Pháp thí có thể nằm trong ba cõi
(Traidhàtuka) hoặc ngoài ba cõi.

– Sự Bố thí tài (tiền của, đồ vật)
giới hạn, còn sự Bố thí Pháp không có giới hạn (apramàna), vì tiền cho lâu rồi
cũng hết, còn giáo pháp cho hoài không bao giờ hết.

Quả báo của Tài thí còn thuộc về
hữu lậu, trong khi quả báo của Pháp thí thuộc vô lậu.

Bố thí tài cần phải đòi hỏi nhiều
sức lực, ra công trong khi bố thí pháp chỉ cần sự thông minhtrí tuệ.

– Chỉ có bố thí Pháp mới có thể gặt
hái được những phước báo giống như các hàng Thanh Văn (Sravaka), Bích chi Phật
(Pratyekabuddha) hay Bồ Tát (Bodhisattva).

– Chỉ có bố thí Pháp mới có thể dẫn
người khác đến con đườnggiác ngộ (Bodhimàrga).

– Ta có thể thực hànhTài thí trong
bất cứ thời đại (Kalpa) nào, dù có Phật hay không có Phật ở đời. Ngược lại, chỉ
trong thời đại có một đức Phật ra đời ta mới có thể thực hiệnPháp thí được. Vì
thế Pháp thí hiếm hơn Tài thí.

Ta có thể nêu ra nhiều lý do nữa,
nhưng tóm lạibố thí Pháp sẽ gặt hái được nhiều công đức hơn bố thí tài.

III. Trên phương diện
người nhận hay ruộng phước

Tại sao lại gọi người nhận
(pratigràhaka) ruộng phước (punyaksetra)? Tại vì chính ở nơi họ mà ta gieo hạt
giống
phước đức nên gọi là ruộng phước. Nhờ có họ mà ta mới thực hiện được sự
Bố thí.

Có hai loại ruộng phước:

1) Ruộng phước nhỏ(Karunàpunyaksetra) : Vì lòng thương hại (karunà) người nhận nên ta phát tâmbố
thí
. Những hạt giốngthương hại sẽ cho ra những cây lúa nhỏ, nên gọi là ruộng
phước
nhỏ.

2) Ruộng phước lớn
(satkàrapunyaksetra) : Vì có tâm kính trọng (satkàra) người nhận nên ta phát
tâm
bố thí. Những hạt giốngkính trọng sẽ cho ra những cây lúa lớn, nên gọi là
ruộng phước lớn.

* Sự Bố thí của vua A Dục (Asoka)

Một hôm đức Phật đi tản bộ cùng với
ngài A nan trên thành Vương Xá (Ràjagrha). Đến một quãng đường có hai trẻ nhỏ
Jaya và Vijaya đang vui đùa lấy đất sét nắn thành những cái nhà nhỏ. Khi thấy
đức Phậtđến gần, chúng rất vui mừng hớn hở. Jaya lấy đất sét nắn thành một cái
bánh, thành kính cúi đầu cúng dâng cho đức Phật, còn Vijaya lức đó cũng chắp
hai tay lại cúi lạy theo bạn. Jaya, trong lúc cúng dường cái bánh đất, phát
nguyện
rằng sau này sẽ làm vua an trị cả một thế giới, rồi em tụng lên một bài
kệ
cúng dườngđức Phật. Đức Phậthoan hỷ đưa tay đón nhận cái bánh đất của em
mỉm cười. Thấy đức Phậtmỉm cười, ngài A nan lấy làm lạ nên hỏi lý do, và
đức Phậttrả lời rằng: ‘Một trăm năm, sau khi ta nhập Niết Bàn, đứa bé này sẽ
là một vị Chuyển luân thánh vương (Cakravartin) trông coi một trong bốn châu
thiên hạ, và trong thành phố Kusumapura (Pàtaliputra), nó sẽ làm một vị minh
vương
tên là A Dục (Ásoka). Sau khi chia phát những xá lợi của ta xong, nó sẽ
xây cất 84.000 bảo tháp để làm lợi ích cho muôn loài’.

Sự tích trên cho ta thấy ý nghĩaphước báo của một sự bố thí với lòng kính trọng người nhận, tức ruộng phước
lớn.

* Sau khi phân tách tỉ mỉ, đi sâu
vào chi tiết từng loại bố thí, ta có thể tóm tắt lại như sau:

Một sự bố thí được xem là trong sạch
và đem lại phước đứcquả báovô lượngvô biêncần phải có ba yếu tố sau đây:

1) Người bố thí phải có tâm trong
sạch
.

2) Vật được thí phải chân chính.

3) Người nhận phải được kính trọng
tối đa.

PHẦN II

5. Bố Thí Ba La Mật

Thế nào gọi là Bố thíBa La Mật?

Về Bố thí (Dàna) thì chúng ta đã được trình
bày trong các phần trước rồi. Bây giờ chúng tatìm hiểu chữ Ba La Mật
(paramità).

Paramità dịch âm là Ba La Mật Đa. Nhưng ở đây
chúng ta nói tắt là Ba La Mật (parami). ‘Para’ có nghĩa là bờ bên kia, ‘mi’ có
nghĩa là đi đến. Bố thí Ba La Mật có nghĩa là băng qua con sông Bố thí
(dànanadi) và đến được bờ bên kia. Chữ ‘đến được bờ bên kia’ quan trọng lắm. Vì
sao? Vì có nhiều khi ta bắt đầu qua sông, nhưng đến nửa đường ta lại quay trở
về
, đó không gọi là Ba La Mật.

1. Ngoài ra ‘bờ bên này’ còn có nghĩa là bờ
tham lam, bỏn xẻn, con sông là sự Bố thí, ‘bờ bên kia’ là bờ đại bi
(mahakarunà).

2. ‘Bờ bên này’ là bờ tà kiếnchấp trước
(mithyàdrsti), ‘bờ bên kia’ bờ Trí huệ (prajnà).

3. ‘Bờ bên này’ là bờ sanh tử luân hồi
(Samsàra), ‘bờ bên kia’ là bờ Niết Bàngiải thoát (Nirvàna).

4. Ngoài ra, Bồ Tát khi bố thí thấy rằng sự
bố thí không sanh, không diệt, không có thiệt, tức là không thấy có người cho,
vật được cho, và người nhận, đó gọi là Bố thí Ba La Mật.

Ở chỗ này ta nên dừng lại, phân tách một
chút, vì đa sốchúng ta đều lầm lẫn cho rằng mình Bố thí Ba La Mật nhưng thực
sự thì không phải vậy. Ta thường được nghe giảng trong Kinh Kim Cang nói rằng
bố thí mà không phải bố thí thì mới thực là bố thí, hoặc bố thíkhông chấp
nhân, ngã, chúng sinh, thọ giả mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không thấy ta
là người cho, đây là vật được cho, và kia là người nhận mới là bố thí,v…v…

Chữ Bố thí mà ‘không thấy’ ở đây không có
nghĩa là bố thí mà nhắm mắt lại để khỏi thấy, hoặc bố thítâm không dám nghĩ
gì hết. ‘Không thấy’ ở đây là kết quả của một sự quán chiếu nhân duyên thấy
được các pháp khôngtự tánh. Vì thấy các pháp khôngtự tánh nên thấy sự
bố thí không có tự tánh. Như ta đã xem qua ở các phần trước, bố thí không thể
là một cái gì tự nhiên có được, phải có đầy đủ ba yếu tố (người cho, vật cho,
người nhận) hợp lại mới có nó. Nếu thiếu một trong ba thì không thể có sự bố
thí
. Do đó bố thí không có thiệt, nó chỉ là giả danh của một hợp thể (yếu tố).
Xa hơn nữa, ba yếu tố vừa kể trên, chúng cũng lại là giả danh của một hợp thể
nào đó. Như người cho và người nhận là giả danh của hợp thể ngũ uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức), đồ vật được cho là giả danh của một hợp thể vô số chất
liệu. Và cứ thế ta quán chiếu để thấy không có một yếu tố nào có thực tướng, nó
hiện hữuvô số các yếu tố khác hiện hữu. Thấy được như vậy gọi là thấy
‘Không’ (sùnya). Đem áp dụng cái thấy ‘Không’ vào sự bố thí ta sẽ thấy không có
cái gì thực sự là bố thí cả, mà chỉ có một sự biến chuyển, diễn tiến, sinh diệt
của vô sốnhân duyên, đây gọi là Bố thí Ba La Mật.

Chúng ta nên cẩn thận, đừng vội vã hấp tấp
thực hành ‘Bố thí Không’, nếu ta chưa thực sự hiểu được ‘tánh Không’ (Sùnyatà),
hay thấy được sự duyên khởi của các pháp. Tốt hơn là ta nên thực hành sự Bố thítrong sạch như đã nói ở phần trước. Còn nếu ta cố chấp cứ muốn bố thí theo kiểu
(hiểu lầm) Kim Cang, tức là nhắm mắt để khỏi thấy ta, thấy vật, thấy người,
hoặc bố thítâm không nghĩ gì cả thì đó chẳng khác gì một người máy ‘Rô bô’ cầm
hộp bánh bố thí cho một em bé. Đó gọi là Bố thí Rô bô máy, chứ không phải là Bố
thí Ba La Mật
! Dĩ nhiên là Rô bô chả được phước báo gì hết !

* Bồ Tátthực hiệnBố thí Ba La Mật
ra sao?

Bồ Tátthực hiện tất cả các loạibố thítrong sạch, Tài thí, Nội thí, Ngoại thí, Pháp thí không bao giờ hối tiếc.

Bồ Tátbố thí một cách bình đẳng với tất cả
mọi loài, không bao giờ nghĩ rằng:

– Phải bố thí cho người lớn chứ không cho trẻ
em.

– Phải bố thí cho người tu hành chứ không cho
người thường.

– Phải bố thí cho người chứ không cho thú
vật
.

– Phải bố thí cho Hòa Thượng chứ không cho
chú tiểu.

Bồ Tátbố thí không cầu được phước báo.

Bồ Tátbố thí không kể ngày hay đêm, mùa
đông
hay mùa hè, trời tốt hay trời xấu.

Bồ Tátbố thí để thực hiệnthực tướng
(bhùtalaksana) của sự bố thí.

 -oOo- 

6. Bố thíSáu Ba La Mật

Trong sáu Ba La Mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn
nhục
, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ) thì Bố thíđứng đầu, vì nó làm nền tảng
cho cả sáu Ba La Mật.

I. Bố thí làm nền tảng
cho bố thí

Bố thígồm có ba trình độ: hạ, trung, thượng.
Nghĩa là sao?

Khi mới bắt đầu bước chân vào Bồ Tát đạo, Bồ
Tát
tập bố thítrong sạch, nhưng chỉ bố thí những đồ vật tầm thường như : đồ
ăn, thức uống, đèn, dầu,v…v… Đó gọi là bố thí hạ (avara).

Từ chỗ luôn luôn thực hành bố thí hạ, tâm của
Bồ Tát bắt đầu phát triển, Bồ Tát tập bố thí nhiều hơn như : quần áo, thuốc
men, nhà, cửa, vàng, bạc, những món đồ quý giá, v…v… Đó gọi là bố thí trung
(madhya).

Từ chỗ thực hành bố thí trung, hảo tâm của Bồ
Tát
phát triển tới mức cùng tột, tức là bố thí tất cả những gì mà mình có (nội
thí và ngoại thí) không ngần ngại hay hối tiếc như: đầu, mắt, tay, chân,
v…v… Đó gọi là bố thí thượng (agra).

II. Bố thí làm nền tảng
cho trì giới

Bồ tát biết rằng nếu ta tham lam, bỏn xẻn,
keo kiệt, không bao giờ biết làm phước bố thí cho ai, thì kiếp sau ta sẽ chịu
cảnh nghèo khổ. Vì nghèo khổ nên ta có những ý tưởngtrộm cắp, lường gạt.Và nếu
đi trộm cắp hay cướp giật thì ta dễ phạm phải tội giết người. Vì nghèo khổ nên
ta khó có thể thỏa mãndục lạc, dục lạc không được thỏa mãn thì ta sẽ dễ phạm
vào tà hạnhdâm dục.Vì nghèo khổ nên ta phải chịu làm những việc hạ tiện, hạ
cấp. Vì hạ tiện, hạ cấp nên ta luôn luôn sợ chủ và ta sẽ dễ phạm phải tội nói
dối
, nịnh bợ, v…v… Như vậy, vì nghèo khổ, ta sẽ dễ phạm vào mười điều ác
của thân, miệng, ý.

Ngược lại, Bồ Tát nghĩ, nếu thực hành bố thí,
ta sẽ tái sinh trong cảnh giàu sang, tiền của đầy đủ, nhờ đó sẽ dễ giữ gìngiới
luật
.

* Chuyện tích con rắn, con ếch và
con rùa (Jàtaka)

Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), trong một tiền kiếp
xa xưa, là một con rắn. Con rắn này ở trong một cái lạch cùng với một con ếch
và một con rùa, và cả ba con đều làm bạn giao duvới nhau. Thế rồi một hôm hạn
hán, nước ở trong lạch cạn dần và sắp hết, trong lạch chả còn gì để ăn. Mỗi con
chia nhau ra đi kiếm ăn. Vì quá đói không tìm được gì nên con rắn đã nghĩ
chuyện tính ăn con ếch. Nó bèn nhờ con rùa đi tìm con ếch lại nhà nó chơi. Đến
khi rùa gặp được ếch thì ếch trả lời rằng:

Khi rơi vào cảnh nghèo đói, túng thiếu
Người ta thường quên hết nghĩa ban đầu
Không kể gì đến đạo đức,
Chỉ biết làm sao
Cho hết đói mà thôi!

Hãy nhớ những gì ta vừa nói và về bảo với rắn
rằng: ‘Con ếch sẽ không bao giờ trở về gặp rắn nữa đâu!’.

III. Bố thí làm nền
tảng cho nhẩn nhục

1. Khi Bồ Tátthực hành hạnh bố thí mà đối
tượng (người nhận) từ chối, xua đuổi, hay đòi hỏi hơn, hoặc xin không đúng lúc,
hoặc không cần xin mà cứ xin. Lúc đó Bồ Tát sẽ nghĩ như vầy: ‘Nay ta thực hành
bố thí
, cốt để cầu giác ngộthành Phật; không có ai bắt buộc ta phải cho cả. Bố
thí
đây là làm cho chính ta, tại sao phải nổi giận?’ Suy tư như vậy, Bố Tát
thực
hành nhẫn nhục.

2. Khi Bồ Tátbố thí mà người nhận không bằng
lòng, nổi giận hay mắng chửi, thì Bồ Tát lại nghĩ như vầy: ‘Nay ta cho tất cả
những tài sản quý giá của ta. Ta tập xả bỏ những gì khó xả bỏ. Có lý đâu ta lại
không chịu được những lời mắng chửivô nghĩa lý này? Nếu ta không nhẫn nhục thì
sự bố thí của ta sẽ không trong sạch. Bố thí mà không kiên nhẫn cũng giống như
con voi trắng (bạch tượng), sau khi tắm ở dưới sông, vừa lên trên bờ lại nằm
ềnh ra đất dơ.’ Suy tư như vậy, Bồ Tátthực hànhnhẫn nhục.

IV. Bố thí làm nền tảng
cho tinh tấn

Trong lúc thực hành bố thí, Bồ Tát cũng thực
hành
luôn cả tinh tấn (Vìrya). Khi mới bắt đầu thực hành bố thí, phước đứcquả
báo
của Bồ Tát rất ít nên Bồ Tát không thể thực hiện nhiều sự bố thí. Nhưng vì
muốn bố thí nhiều, cho tất cả mọi loài, nên Bồ Tát phải tinh tấnthực hành bố
thí
. Nhờ tinh tấnbố thí nên phước đức (Tài, Pháp) của Bồ Tát càng tăng trưởng
khiến Bồ Tát lại càng say mê bố thí nhiều hơn, và cho nhiều người. Cứ thế Bố
thí
Tinh tấn vừa làm nhân vừa làm duyên cho nhau.

V. Bố thí làm nền tảng
cho thiền định

Người tu Thiền định,ban đầu luôn luôn gặp
phải năm chướng ngại (ngũ cái) : tham lam, giận tức, hôn trầm, trạo cửnghi
hối
. Nếu khôngdiệt trừ được năm chướng ngại này thì không thể tiến xa trong
Thiền định.

Thực hành Bố thítrong sạch tức là đang diệt
trừ
năm chướng ngại. Vì sao?

Bố thídiệt trừtham lam, bỏn xẻn.

Bố thítrong sạch tức có nhẫn nhục, có nhẫn
nhục
thì tiêu trừ được giận tức.

– Khi bố thí để cầu quả vị Phật, Bồ Tát cần
nhiều Tài và Pháp để có thể bố thírộng rãi cho tất cả mọi loài. Vì cần nhiều
Tài, Pháp nên Bồ Tát phá trừ được lười biếng, giải đãinguyên nhân đưa đến
hôn trầm.

– Khi bố thíBồ Tátkhởi tâmtrong sạch, tâm
kính
trọng người nhận, chú ý đến hành động của mình không dám suy nghĩ bậy bạ,
nên luôn luôn tỉnh thức không chạy theovọng tưởng, do đó diệt trừtrạo cử.

– Khi thực hành bố thí, Bồ Tát biết chắc là
sẽ gặt được phước đứcquả báovô lượng, vì thế nên Bồ Tát luôn luôn tìm cơ hội
để bố thí. Nhờ bố thí nên được nhiều phước báo và từ đó lại càng tin nơi sự bố
thí
. Nhờ lòng tinvững chắc này Bồ Tát phá trừ nghi hối.

VI. Bố thí làm nền tảng
cho trí huệ

1. Nhờ bố thí đời này qua đời khác, Bồ Tát
gặt được nhiều phước đức, do đó Bồ Tát tin nơi Tam Bảo, nhờ tin nơi Tam Bảo, Bồ
Tát
phát tâm học chánh pháp, nhờ học chánh pháp, Bồ Tát phá trừ tà kiến,và
minh
, nhờ phá trừ vô minhtrí huệtăng trưởng.

2. Hơn nữa, khi thực hành Bố thíBa La Mật,
Bồ Tát luôn luôn suy tư về thực tướng của ba yếu tố (người cho,vật được cho,
người nhận). Nhờ luôn luôn suy tư như vậy, Bồ Tát hiểu được thực tướngcủa Bố
thí
. Hiểu được thực tướng tức là trí huệ bát nhã.

3. Tất cả mười phương chư Phật đều bắt đầu
con đườnggiác ngộ bằng một hạnh đầu tiên là bố thí. Cũng vậy, một ngàn vị Phật
quá khứ của hiền kiếp, mỗi vị trong lúc phát Bồ đề tâm (tức tâm cầu thành Phật)
lần đầu tiên, đều là đang bố thícúng dường cho một đức Phật nào đó: có vị thì
cúng dường một hoa sen, có vị cúng dường một cái áo, có vị cúng dường một cái
tâm xỉa răng, v…v… và trong lúc cúng dường như vậy, các ngài đều phát Bồ đề
tâm
(bodhicitta). Do đó Bố thí là nền tảng của Phật đạo.

-oOo-

 7. Những
điều lầm lẫn về bố thí

Qua những phần trước, ta đã có một ý niệm về
thế nào là bố thítrong sạch, hay không trong sạch, đúng đắn hay không đúng
đắn
. Nhưng đó là trên phương diệngiáo lý tổng quát. Sợ có nhiều người tâm tínhthành thật, chất phác không hiểu rõ, nên trong phần này ta hạy tạm lấy những
thí dụcụ thể xảy ra thường xuyêntrong đời sống sinh hoạt của chùa chiền, để
mọi ngườihiểu rõ hơn.

* Về Pháp thí :

Thường đi song song với pháp thí là sự khinh
người. Nếu ta là một vị thầy, thì ta không thể thực hànhtài thí được, mà chỉ
có thể bố thí Pháp thôi.

Bố thí pháp là một việc rất tốt, nhưng nếu
không
khéo thì song song với việc bố thí ta sẽ nhiễm phải cái tánh khinh người.
Tánh này là một tánh rất xấu, không những đạo Phật mà tất cả các đạo khác đều
khuyên ta phải trừ bỏ nó. Trong một Hội Đoàn Phật Giáo, Tăng già khinh Tăng
trẻ, Tăng trẻ khinh Phật tử già, Phật tử già khinh Phật tử trẻ thì hậu quả của
nó sẽ ra sao? Hậu quả sẽ là Phật tử trẻ bất kính Phật tử già, Phật tử già bất
kính Tăng trẻ, Tăng trẻ bất kính Tăng già. Và trong một Hội Đoàn mà từ trên
xuống dưới, từ dưới lên trên có một sự khinh thường và bất kính như vậy thì
chắc là Hội viên sẽ sớm rút lui. Đạo phật không dạy ta khinh người, mà ngược
lại dạy ta tánh bình đẳng, có nghĩa là kính trọng tất cả mọi người như nhau.
Xưa kiađức Phật đâu có khinh ai, ngay cả đối với một em bé cũng vậy (Xem tích
chuyện Asoka). Chúng ta hãy noi theo hạnh của Thường Bất Khinh Bồ Tát trong
Kinh Pháp Hoa, gặp ai ngài cũng lễ lạy và nói : “Tôi chẳng dám khinh quý
vị, vì quý vị đều sẽ làm Phật”.

Nếu ta có cơ duyên học nhiều, hiểu rộng thì
khi có người đến hỏi đạo, ta nên vui lòngchỉ dẫn. Trong trường hợp ta bận tu
trì
, tụng niệm hay nghiên cứu thì ta có thể dời lại khi khác, chứ ta không nên
khinh người đến hỏi ta, cho họ là chúng sinh ngu tối không biết gì. Chính vì
không biết nên họ mới đến hỏi, chứ nếu biết rồi thì họ đâu có đến, mà nếu họ
không đến thì làm sao ta có cơ hội bố thí pháp? Vì vậy ta cần phảicảm ơn họ.
Trước khi, trong khi và sau khi bố thí Pháp, ta cũng nên phát nguyệnhồi
hướng
. Nguyện cho người hỏi đạotrước mặt ta mau có được trí huệsáng suốt
hồi hướng công đứcpháp thí này cho sự giải thoátluân hồi, hoặc quả vị Phật
(nếu ta là Bồ Tát).

Hoặc giả ta tu lâu năm, có chùa to mà khinh
người mới tu, có chùa nhỏ, thì ta coi chừng sẽ có một ngày đức Phậthiện ratrách mắng ta đó! Nhưng chỉ sợ lúc đó ta lại không nhận rađức Phật, hoặc nếu
nhận ra đi nữa ta cũng làm bộ nhắm mắt bịt tai không muốn nghe. Nếu vậy thìđức Phật cũng phải lắc đầu chịu thua.

Và nếu ta để ý một chút thì ta sẽ thấy danh
từ “Tu” rất nguy hiểm, vì nó gây ra nhiều hiểu lầmtai hại.

Đối với một người tánh tình chất phác, khi họ
nghe nói ta tu lâu rồi, họ sẽ nể và kính trọng ta lắm, vì họ nghĩ rằng ta đã
chứng được gì rồi, không chứng được A La Hán thì chắc cũng chứng được Thượng
Tọa
hay Đại Đức. Trong tâm họ, cho “Tu” là được cái gì, giống như đi
lính vậy. Vì đi lính lâu năm thì được lên chức quan ba, quan năm, có quyền ra
oai với lính binh nhì, binh nhất hay sĩ quan dự bị. Nhưng sự thực thì không
phải vậy, Tu có nghĩa là sửa. Thí dụ ta có một chiếc xe hơi mới mua mà bị hư,
thì ta phải sửa nó. Nếu ta là một người thợ giỏi thì chỉ trong một ngày là ta
sửa xong. Nhược bằng sửa năm ngày rồi mà chưa xong, thì ta quả là một người thợ
dở. Trong trường hợp này, ta sẽ không dám chạy cùng làng khắp xóm mà la lên
rằng: ‘Tôi sửa (xe) lâu rồi, tôi sửa lâu rồi’. Cũng như thế, khi ta nói với mọi
người
rằng ta Tu lâu năm rồi, đó có nghĩa là ta sửa lâu năm rồi. Sửa cái gì?
Sửa những tánh hư, tật xấu, nhất là cái tánh ngã mạn của ta. Sửa xong chưa?

Ở đây có hai giả thuyết. Nếu xong rồi thì ai
lại đi nó rằng tôi sửa (tu) lâu! Nếu nói rằng tôi sửa (tu) lâu tức là chưa
xong. Nếu sửa chưa xong thì ta phải biết mắc cở chứ ! Ta tu theo đạo Phật cốt
để trừ bỏ cái tánh ngã mạn và khinh người của ta, nhưng không khéo ta lại để
cho chính chữ “Tu” nó đánh lừa ta, làm cho lòng ngã mạn, khinh người
của ta lại tăng thêm. Nếu ý thức được sự tai hại tạo nên do chữ “Tu”
thì ta đừng ngần ngại thưa và đề nghị với quý Thầy từ nay trở đi không dùng chữ
“Tu” nữa mà thay thế bằng chữ “Sửa”. Hơn nữa chữ
“Tu” là một danh từ Hán việt, còn chữ “Sửa” là tiếng Việt,
chính xác, rõ ràng, và dể hiểu hơn, và nó lại có công năng rất lớn, khiến
cho ta ý thức được luôn luôn là mình có những tánh hư tật xấu cần phải sửa cho
xong, và cũng diệt được cái tánh ngã mạn, khinh người của ta nữa.

Chỉ có người dại dột mới hay khinh người. Vì
sao? Vì khinh người tức là khinh mình vậy ! Nếu ta khinh người thì người sẽ
khinh lại ta, đó tức là ta khinh ta. Nhân quả là thế ! Nếu ta hay khinh người
mà lại thích người kính trọng ta thì không thể có được. Trừ ratrường hợp ta
làm quan lớn dùng thế lực hay quyền hành bắt người khác phải kính phục ta thì
có. Ngoài mặt thì họ kính phục ta, nhưng ta đâu có biết trong tâm họ chửi rủa
ta. Và nếu ta không biết điều đó thì ta vẫn là kẻ ngu mà thôi !

Trên đây là nói về Pháp thí khinh người, đó
thuộc vào loại Pháp thí không trong sạch (avisuddha dana). Trong trường hợp ta
học nhiều, hiểu rộng mà lại có tài có tài ăn nói nữa, thì rất là may mắn cho
đạo Pháp. Nhưng nếu ta ưa thuyết pháp với mục đích cho mọi người nể ta, kính
trọng
ta thì đó là Pháp thícầu danh, cũng thuộc vào loại pháp thí không trong
sạch
.

Trong sự Pháp thí không trong sạch này, hiệu
quả
của nó cũng có hai loại: lợi và hại. Trước hết là xét về giáo lý mà ta bố
thí
, xem đúng hay sai với chánh pháp. Đúng, là khi người nhận nghe theo đó hành
trì
, tu tâmsửa tánh, tạo thiện nghiệp (kusalakarma), trong trường hợp này thì
người nhận được lợi, còn ta chả được gì cả vì lửa ngã mạn đã đốt hết rừng công
đức
Pháp thí của ta. Trong trường hợpgiáo lý sai với chánh pháp thì cả hai bên
đều bị hại cả.

* Về Tài thí :

Phật tửtại gia tức Ưu bà tắc (Upàsaka),
Ưu bà di (Upàsika), ta có bổn phận phải hộ trì Tam Bảo, có nghĩa là giúp đỡ và
gìn giữ cho Phật giáo được dài lâu. Tại sao dài lâu? Vì ta biết rõ Phật giáo
dạy ta con đườnggiải thoát, có lợi ích cho tất cả mọi người nên ta muốn nó dài
lâu. Tùy theo khả năng cá nhân, ta có thể giúp đỡ, bố thítiền của hay sức lực.

Như ta đã đọc qua các phần trước, bố thí
một việc rất tốt đem lại nhiều phước báu cho ta, và bố thí lại là một hạnh đầu
tiên của Bồ Tát. Nhưng bố thí mà không biết cách bố thí thì không đem lại lợi
ích
gì cả! Ta hãy tự nhìn lại mình xem, sau bao năm bố thí, bây giờ ta thế nào?
Ta bỏ chùa, ở nhà tu rị (tức là tu một mình) ta sợ đến chùa vì đến đó có người
ra quyên tiền ta, rồi ta bất mãn rao lên rằng chùa này làm tiền, chùa kia làm
tiền. Tất cả những cái đó có là do tại ta, vì trước kia ta đã không học cách bố
thí
. Gặp Thầy nào bố thí Thầy đó, nhất là hay ưa bố thí các Thầy tu lâu để được
phước hay để lấy danh. Rồi Thầy muốn cái gì là ta dâng cái ấy. Dâng riết đến
lúc hết dâng được thì ta chạy trốn luôn, không dám gặp Thầy nữa.

Khi đến chùa, gặp một việc kêu gọi bố thí hay
cúng dường thì ít nhất ta phải suy tư một chút, xem việc đó nếu có lợi cho
Thầy, cho ta, cho mọi người thì ta hãy vui lòngbố thí. Nếu việc đó không có
lợi cho Thầy, hoặc cho ta mà có lợi cho tất cả mọi người thì ta cũng sẵn lòng
bố thí (trong trường hợp ta là Bồ Tát).

Ngoài ra đúng theo như luật xưa đức Phật để
lại thì bổn phận của cận sự nam (upasaka) và cận sự nữ (upasika) là bố thícúng
dường
bốn việc cho chư Tăng : nơi ở, quần áo, thức ăn và thuốc men. Nơi ở thì
có chùa, ta có thể đóng góp hàng tháng cho Hội, rồi Hội chi phí cho chùa. Quần
áo thì ở xứ Tây phương này quý Thầy, người nào cũng rất là đầy đủ. Thức ăn thì
ta xem chừng, lâu lâu mua gạo, hay mua rau cải đến tiếp tế, hoặc nếu không
thời giờ thì ta có thể đưa tiền cho vị Tri khố lo giùm. Còn về thuốc men thì ta
cần lưu ý, vì ở bên Pháp này quý Thầy không đi làm chính thức nên không có ‘bảo
hiểm xã hội’ (Sécurité sociale), tức là khi có bệnh tật gì thì quý Thầy ráng
chịu. Vì lý do đó ta không nên bắt quý Thầy tụng đám, cầu an, cầu siêu nhiều
quá, rủi quý Thầy cảm cúm, ho lao … hay mệnh hệ nào thì ta không có đủ tiền
lo thuốc men, lúc đó ta sẽ ân hận lắm đấy!

Đa số quý thầy ngày nay thường hay kêu gọi ta
đóng góp để làm chùa to. Có nhiều người không hiểu, cho rằng thầy tu gì mà còn
ham danh lợi. Sau đó đi rao là chùa làm tiền hoặc chùa giàu, vv… Là Phật tửchúng ta nên hiểu rằng quý thầy do lòng từ bi muốn độ nhiều chúng sinh, đền đáp
ơn Tam Bảo, hoằng truyền chánh pháp mà bất đắc dĩ phải làm như thế. Nếu quý
thầy ích kỷ chỉ lo ngồi yên trong một cái cốc nhỏtự tu tự độ thì đỡ khổ cho quý
thầy biết mấy. Kêu gọi như vậy vừa nhọc mệt lại thêm mang tiếng, đâu có vui thú
gì !

* Khi Ta bố thí cho chùa, ta phải tập ý thứcviệc làm của ta, có nghĩa là ta
biết lý domục đích của sự bố thí, còn có nghĩa là ta phải biết phát nguyện
hồi hướng công đứcbố thí của mình. Được vậy thì ta sẽ không ân hận, hay hối
tiếc
, mà ngược lại sẽ cảm thấyvui vẻan tâm. Đây gọi là Ý thứcbố thí.

* Khi bố thí (cúng dường) cho quý
Thầy
. Cũng vậy, ta phải tập
ý thức việc bố thí của mình. Quý Thầy là đối tượng của sự bố thí, còn gọi là
ruộng phước (punyaksetra). Vì sao? Vì chính nơi quý Thầy là chỗ để ta gieo hạt
giống
phước nên gọi là ruộng phước.

– Khi ta thương hại hay tội nghiệp một vị
Thầy nào đó, tu hành khổ cực mà ta bố thí, thì vị Thầy đó trở thànhruộng phước
nhỏ, vì được gieo bởi những hạt giốngthương hại (karunà), nên sẽ cho ta cây
lúa nhỏ.

– Khi ta kính trọng một vị Thầy nào mà ta bố
thí
, thì vị Thầy đó trở thànhruộng phước lớn, vì được gieo bởi những hạt giốngkính trọng (satkàra), nên sẽ cho ta những cây lúa lớn.

– Nếu ta vừa kính trọng vừa thương hạibố
thí
thì ta sẽ gặt được cả hai loại lúa lớn có nhỏ có.

Trước khi cúng dường cho quý Thầy ta biết
được vì thương hại hay kính trọng, và khi đang cúng dường ta cũng biết được là
ta đang cúng dường, cúng dường xong ta biết hồi hướng công đức mà ta vừa tạo
cho sự giải thoátsinh tử của mình, hay cho quả vị Phật (nếu ta là Bồ Tát). Đó
gọi là Bố thítrong sạchý thức. Ta đừng lầm lẫn ‘ý thức’ với ‘chấp trước’.
‘Ý thức’ ở đây có nghĩa là chánh niệm, biết ta đang làm gì, phải làm gì, sẽ làm
gì. Còn bố thíchấp trước không nằm trong bố thítrong sạch, vì khi bố thí cho
rằng ta đây là người cho, đây là vật bố thí, còn kia là người nhận, rồi khởi
tâm
ngã mạn khinh người, hoặc trước khi bố thí đã có cái tâm cầu danh hay ngã
mạn
rồi, nên khi vừa tác động thì sự bố thí đã là bố thíchấp trước rồi.

– Khi gặp một vị Thầy nào, ta lấy tài của ra
gọi là cúng dường hoặc có nhiều khi ta đưa cho vị Thầy ấy mà chả nói chả rằng
gì cả, thì đó là bố thívô tâmvô ý thức. Bố thívô ý thức ta đã thấy ở trên
rồi. Còn vô tâm là sao? Vô tâm ở đây cũng có nghĩa là vô ý thức nhưng thêm vào
vô kývô tư. Ta học trong Kinh Kim Cang thấy nói rằng bố thí mà không bố thí
mới thực là bố thí, hoặc bố thí mà không thấy có ta là người bố thí, đây là vật
bố thí, và kia là người được bố thí. Học như vậy xong nên khi bố thí ta không
dám nghĩ gì cả, vì sợ suy nghĩ thì rơi vào chấp trước, hoặc có bố thí thì làm
sao cho nhanh để khỏi kịp ý thức được việc làm của mình, hoặc trong lúc bố thí
thì miệng nói, mắt nhìn chổ khác. Đó gọi là bố thívô tâm. Bố thívô tâm cũng
phát xuất từ một tấm lòng tốt, nhưng vì không hiểu đạo nên phước báo của nó
thuộc loại hữu lậu.

Ta không nên lầm lẫnvô tâmbố thí với Tánh
Không
bố thí. Vô tâmbố thítâm không nghĩ và không ý thức được sự bố thí
trong lúc đang bố thí. Còn tánh khôngbố thí thì hiểu và thực hiện được tánh
Không
của sự bố thí trong lúc đang bố thí. Tánh Khôngbố thí chính là Bố thí Ba
La Mật
(dànaparamità), nghĩa là thấy cả ba yếu tố tạo ra sự Bố thí đều không có
tự tánh. Trước khi thực hànhTánh Khôngbố thí, ta cần phảithực tậpquán chiếu
nhiều về lý nhân duyên, tức thấy được sự tương duyên tương sinh của mọi vật,
thấy rằng các pháp phải nương vào nhau mà hiện hữu, nên không có một tự thể
riêng biệt. Khi ta quán chiếuthuần thục về Tánh Không của các pháp rồi, ta đem
sự quán chiếu đó áp dụng vào việc Bố thí, đó gọi là Tánh Khôngbố thí.

Khi thực hành bố thí, ta hãy nên thành thực
với chính ta, xem lại ta còn chấp trước hay không chấp trước, có lầm tánh Không
với Vô tâm không? Nếu có thì ta sửa lại, vì đó là việc nội tâm của mình, bên
ngoài không ai hay cả, cũng không có ai chấm điểm hay thưởng phạt ta cả, chỉ có
chính hành động của ta thưởng phạt ta mà thôi.

Cũng cần nói thêm về Tánh Không (Sùnyata).
Tánh Không là con dao hai lưỡi. Nếu ta hiểu được nó thì nó giúp ta sớm chặt đứt
các giây vô minhtrói buộc ta. Còn ngược lại, nếu ta hiểu lầm thì nó sẽ khiến
ta tạo những hành động vô phước. Vì thế Cổ nhơn có câu: ‘Thà chấp có như núi Tu
Di
còn hơn chấp không như hạt cải’. Nếu ta chưa hiểu được tánh Không thì ta cứ
thực hànhhữu tướngbố thí, tức là phát nguyện, ý thức, và hồi hướng, trước
khi, trong khi và sau khi bố thí. Đó gọi là biết cách bố thí.

– Trên đây là nói qua trường hợpbố thí
thương hại hay vì kính trọng một vị Thầy mà ta bố thí. Còn trong trường hợp đối
với một Thầy từ xa mới đến mà ta chưa quen biết thì sao? Thì đó lại là một việc
dễ xử đối với ta, vì ta không biết quá khứ riêng tư của Thầy đó, nên ta dễ khởi
tâm
kính trọngbố thí. Và trong lúc bố thí ta có thể nguyện như vầy: ‘Con
thành tâmcúng dường Thầy, cầu cho Thầy mau đắc đạo để cứu khổ chúng sinh’. Ta
có thể niệm thầm hoặc nói thẳng ra ngoài được thì càng tốt. Đây là một sự bố
thí
trong sạchquả báo của nó sẽ vô lượng. Vì sao? Vì người cho thành tâm
người nhận được kính trọng . Người nhận được kính trọng hay không là tùy ở nơi
tâm người cho. Nếu ta khôn khéo biết được phước bào do sự bố thí của mình sẽ
lượng
hay hữu lượng tùy ở nơi tâm người cho thì ta sẽ luôn luôn khởi tâmkính
trọng
người nhận. Đó là biết cách bố thí vậy.

– Bây giờ nếu có trường hợp ta không thương
hại
, không kính trọng, mà cũng không ưa một vị Thầy nữa thì ta phải làm gì? Có
phải bố thí không?

Ở đây lại là một vấn đề khác. Ta cần tự xét
lại mình trước. Tại sao không ưa? Không ưa chỗ nào? Sau khi xét lại nội tâm
xong ta có thể xin đến gặp vị Thầy đó để giải tỏa những điều thắc mắc đã tạo ra
sự bất hòa (khi có một sự bất hòa thì cả hai bên đều có lỗi cả). Trong trường
hợp
thầy và trò đều có chí cầu tiến và phục thiện thì tốt quá. Nhưng nếu cả
thầy lẫn trò đều nhận thấy mình là đúng và người kia sai thì lúc đó đường ai
nấy
đi, ta được quyền rút lui nhưng phải có trật tự, nghĩa là không được tạo
khẩu nghiệp. Sau khi rút lui xong ta nên đi tìm một vị Thầy khác để nương cậy.
Vì sao? Vì ta là một cận sự nam hay cận sự nữ. Cận sự có nghĩa là ở gần để giúp
đở và học hỏi.

Không phải vì không ưa một Thầy mà ta ghét
tất cả các Thầy khác. Không phải vì không ưa một chùa mà ta xa lánh tất cả các
chùa khác. Nếu làm như vậy thì gọi là ‘Vơ đũa cả nắm’. Thái độ nầy không tốt vì
nó làm cho ta không mở mang được kiến thức, không thực hiện được các hạnh tốt,
cùng lúc đó thì cái gọi là ‘ngã kiến’ của ta sẽ tăng trưởng. Và nếu ta cứ giữ
mãi thái độ ‘Vơ đũa cả nắm’ thì ta sẽ biến thành ‘Con ếch ngồi đáy giếng’.

* Lầm lẫnbố thí với trả công

Bố thí là một hành động phát ra từ tấm lòng
thành
, muốn cho người nhận được an vui hạnh phúc.

Còn trả công là một hành động vô tình, tức là
không có tình nghĩa gì cả, nó dựa trên một sự đổi chác.

Khi ta đi ra ngoài đường gặp một người nghèo
xin ăn, ta lấy năm cắc ra cho họ. Ta cho vì ta thương hại, chứ không phải vì người
đó làm gì cho ta. Ta cho mà không cần được trả lại, ta chỉ cần người đó nhận
cho là ta đã vui rồi. Đó gọi là bố thí.

Còn trả công thì khác, nó là kết quả của một
sự đổi chác. Thí dụ như ta là ông chủ một hãng. Đến cuối tháng ta phát tiền cho
nhân viên. Hành động phát tiền của ta không được gọi là bố thí mà phải gọi là
trả công. Vì sao? Vì suốt một tháng vừa qua nhân viên đã làm việc cho ta, nên
bây giờ ta phải trả lương cho họ. Và khi ta đưa tiền cho họ, trong tâm của họ
đâu có mang ơn ta, vì họ biết đó là tiền của họ phải được. Trong tâm ta cũng
vậy, tuy nhân viên làm việc cực nhọc suốt tháng vừa qua cho sự sản xuất của
hãng ta, nhưng ta cũng đâu có mang ơn họ, vì ta trả tiền cho họ rồi mà! Giữa
hai bên không có tình nghĩa gì hết, cũng không ai mang ơn ai cả. Ta đưa tiền vì
người kia đưa công, người kia đưa công vì ta đưa tiền.

Sau khi hiểu rõ thấy được sự khác biệt giữa
bố thítrả công rồi, ta hãy đưa mắt nhìn về chùa của mình xem sao? Xem mình
có phạm cái lỗi lầm đó không?

Ngày thường ta chả bao giờ đến chùa, tự nhiên
đến bố thí hay cúng dường các Thầy. Đến khi trong gia đìnhcha mẹ chết, lúc
đó ta mới đến chùa thưa thỉnh lễ phép rước Thầy về nhà tụng Kinh cầu siêu cho
cha mẹ ta. Rồi sau khi đám sám xong, ta rút vài tờ giấy bạc bỏ vào phong bì
cúng dường cho Thầy. Làm xong việc như vậy, ta ra về thở phào nhẹ nhõm, trong
tâm nghĩ rằng đã làm xong bổn phận đối với cha mẹ, đã làm xong bổn phận đối với
ông Thầy, và cùng lúc lại làm phước nữa chứ! Thử hỏi hành động của ta được gọi
là gì? Tuy nhiên trong cuộc thì cũng có người được chút ít. Đó là người được
thí, tức ông Thầy : ông Thầy có được vài trăm bỏ túi đi xe lửa. Vì lầm lẫn như
thế nên ta cứ tiếp tụcbố thí cái kiểu trả công. Riết rồi ban đầu Thầy đi xe
lửa, sau đến xe hơi, rồi đến tàu bay. Tới lúc đó thì ta la lên rằng chùa giàu!
Chùa giàu hay nghèo đều do ta cả. Ta phải tự hỏi ta chứ! Chùa giàu để làm gì?
Nghèo để làm gì? Nếu ta ý thức rằng sự phát triển của chùa có lợi cho chúng ta
nên phải cần tài chánh thì ta làm cho chùa giàu. Còn nếu thấy cần nghèo thì ta
làm cho chùa nghèo. Giàu không phải là một cái tội, nghèo cũng không phải là
một cái phước.

Tiền dùng đúng tiền hiền như Phật,
Bạc xài lầm bạc ác hơn ma.
Phật, ma cũng tại người ta
Chớ tiền bạc nó vốn là vô tri. (Thanh Sĩ)

Ngoài ra ta phải thông cảm cho quý Thầy chứ!
Ban đầulòng từ bi mà Thầy đi cầu siêu. Cầu siêu xong ta lại bố thí cái kiểu
trả công cho Thầy. Vì sự si mê của ta, ta đã biến lòng từ bi của Thầy, ban đầuvô giá, dần dần xuống giá còn khoảng hai ba trăm bạc. Rồi tội nghiệp quý Thầy,
cứ phải è cổ ra nhận tiền của người chết. Ta đã biến quý Thầy thành giống như
các nhà Hòm (pompes de funèbre) tức là sống nhờ người chết. Thật đáng buồn cho
đạo Phật! Sao ta có thể nhẩn tâm được như vậy?

Nói như vậy không có nghĩa là từ nay về sau
ta không cầu an, cầu siêu cho cha mẹ ta, hoặc cầu siêu xong ta không trả công
cho quý Thầy nữa. Ta vẫn tiếp tục làm, nhưng phải biết các, thêm vào nữa là lâu
lâu ta lui tới chùa xem trong chùa có cần gì giúp đỡ không thì ta phát tâmbố
thí
cúng dường, không phải chờ đến khi có ai chết hay đau mới tới. Còn trong
trường hợp rước Thầy đi tụng đám xong mà ta muốn cúng dường thì ta phải tập suy
nghĩ
như vầy: ‘Thầy đã vì lòng từ bi tụng niệm cho cha mẹ ta, công ơn thật
cùng
, ta chỉ biết thành tâmphát nguyệntu học Phật để mau thoát sinh tử luân
hồi
hồi hướng công đức (bố thí, phát nguyện) này cầu cho cha mẹ ta được siêu
sanh Cực lạc’. Từ lúc trước khi, trong khi, và sau khi cúng dường, ta phải lập
đi lập lại như vậy. Ta thành tâm, phát nguyệnhồi hướng, cùng lúc đó ta xem
vị Thầy trước mắttượng trưng cho Từ bi (chứ không phải thợ tụng) và ta hết
lòng
kính trọng. Nếu làm được như vậy thì ta đã biến sự trả côngthành sựbố
thí
trong sạch.

* Không phải chỉ có chùa chiền mới
là nơi cho ta thực hiện hạnh Bố thí

Ta có thể thực hiệnbố thí ở khắp nơi với tất
cả mọi loài : như cho con chó một khúc xương, con chim một mẩu bánh mì, con
kiến một hạt đường, v…v…. Cụ thể nhất là khi ta đi ngoài đường bố thí cho
người xin ăn. Tuy nhiên khi bố thí ta cũng phải tập bố thí cho đàng hoàng không
được khinh người. Bố thí đàng hoàng hay trong sạch là ta biết phát nguyện, ý
thức
, và hồi hướng trước khi, trong khi và sau khi bố thí. Thí dụ như ta gặp
một bà lão ở trong góc Metro đứng xin tiền. Ta lại gần lấy tiền ra, nhưng không
đưa liền, đứng ngay lại sửa soạn phát nguyện. Có hai trường hợp:

1) Ta xem đối tượng tức bà lão là một vị Bồ
Tát
hóa thân làm bà già để ta thực hiệnbố thí. Như vậy ta sẽ phát nguyệnthành
Phật
để cứu độchúng sinhhồi hướng công đứcbố thí này cho quả vị Phật.

2) Nếu ta không thể xem bà lão là một hóa
thân
Bồ Tát được thì ta nguyện như vầy: ‘Nguyện cho bà mau thoát khỏi cảnh khổ
của sinh, già, bệnh, chết, và ta hồi hướng công đứcbố thí này cầu mau giải
thoát
sinh tử, hoặc mau thành Phật’ (nếu ta là Bồ Tát).

Có một điều lầm lẫn mà ta hay phạm phải, đó
là khi ta không ưa một vị Thầy nào rồi thì ta ngưng luôn việc bố thí ! Một vị
Thầy không phải là đối tượng duy nhất của sự Bố thí. Ta có thể về nhà bố thí
cho con cho cháu, cho gia đìnhhọ hàng, hay cho bạn bè, xa hơn nữa là bố thí
cho các Hội Từ Thiện (Croix Rouge, Unicef, Médecins du Monde, Médecins sans
frontières, …) hoặc cho những loài khác như chim, gà, kiến, … Đối tượng của
sự bố thí rất rộng rãibao la, quan trọng ở chỗ là ta có muốn bố thí hay
không? Nếu muốn thì ta luôn luôn tìm thấy đối tượng, còn không thì ta sẽ chả
thấy ai là người đáng cho ta bố thí cả.

* Ta nên bố thí trực tiếp

Lâu lâu nhớ đến Phật, ta mua hoa quả đem vào
chùa cúng dường cho Phật. Nhưng khi vào chùa ta không nên đưa hết cho vị Hương
đăng
mà nói rằng: ‘Này, cô hay chú cúng hộ tôi cho Phật’. Làm như vậy mất cả
tình nghĩa của ta đối với Phật. Và hơn nữa là ta sẽ không có cơ hội phát nguyện
hồi hướng công đức của sự bố thí. Như thế thì dù cho ta có mua mấy xe hoa
đem vào chùa cúng Phật, cũng chả được phước đức gì cả, nhiều lắm là làm cho
chùa thêm vui mắt mà thôi. Ở ngoài đời người ta còn biết nói ‘của ít lòng
nhiều’, huống chi ta là con Phật mà lại bố thí ‘của nhiều lòng ít’ hay sao?

-oOo-

8. Kết luận

Đọc đến đây ta tự hỏi, chỉ có mỗi một việc bố
thí
thôi mà sao tác giả lại viết ra dài dòng quá vậy? Ta nên thông cảm cho tác
giả
vì những lý do đã nêu ra ở phần đầu quyển sách. Tác giả bất đắc dĩ phải nói
ra dài dòng vì lâu nay ta đã coi thường hạnh bố thí, từ chỗ coi thường ta đi
đến chỗ hiểu sai lầm, từ chỗ sai lầm ta đã làm liên lụy đến uy tínTam Bảo.
Trong khi đó thì Bố thí là một hạnh rất quý, là hạnh của các vĩ nhân, của Bồ
Tát
, của Phật. Tuy nhiên, sau khi đọc xong nếu ta không thể nhớ hết có bao
nhiêu loại bố thí, phải bố thí kiểu nào cho đúng thì ta có thể tóm tắt lại đơn
giản
ba điều : phát nguyện, ý thức, và hồi hướng. Trước khi bố thí ta đứng ngay
lại, nhắm mắt phát nguyện, không phải đi đâu mà vội, vì việc bố thí cũng quan
trọng như việc tụng Kinh vậy. Phát nguyện xong rồi ta bố thí, trong lúc bố thí
ta phải chăm chú cẩn thận xem đối tượng của ta ( người nhận) cũng như một vị Bồ
Tát
hay một ân nhân vậy. Sau khi bố thí xong ta nhắm mắt lại một phút để hồi
hướng công đức
bố thí cho sự giải thoátsinh tử, hoặc vãng sanhCực lạc (nếu ta
tu Tịnh Độ) hoặc cho quả vị Phật (nếu ta là Bồ Tát).

Việc phát nguyệnhồi hướng rất là quan
trọng. Ta hãy để ý xem, cứ sau mỗi thời Kinh ở chùa cũng như bất cứ ở đâu đều
có một bài hồi hướng ngắn. Nhưng vì đọc quen quá, giống như ăn cơm bữa nên ta
chả cần để ý làm chi cho mệt.

Tóm lạichúng ta cần bố thí nhiều, biết bố
thí
, tập bố thítrong sạch, vì Bố thí (bao gồm: cho, tặng, biếu, dâng, cúng
dường
) là một hành động đẹp đẽ nhất mà con người có thể cho con người, và bố
thí
cũng là nền tảng rất quan trọng mà người hành Bồ Tát đạo không thể thiếu
sót
được.

Sau cùng, nếu ta gặp những Phật tử mới quy y
Tam Bảo
chưa biết Bố thí làm sao, thì ta hãy vui lòng hướng dẫn và khuyên nhủ
họ, còn nếu ta gặp những Phật tử đã đi chùa lâu năm mà quên, lơ là hay không
còn nhớ cách Bố thíđứng đắn thì ta hãy thực hiệnPháp thí bằng cách đưa cho họ
xem tập sách này, đó là ta đã góp phần xây dựng lại đạo Phật vậy.

Hắc Vân Lộ, mùa đông năm
Đinh Mão 1988

Thích Trí Siêu

 

ᘎࠀ