Bát Nhã Tâm Kinh Trong Phật Giáo Thiền Tông

0
10

Ý NGHĨA CỦA BÁT NHÃ TÂM KINH
TRONG PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG
Daisetz Teitaro Suzuki
Bản dịch Việt: Tuệ Sỹ

I. PHẠN VĂN TÂM KINH BÁT-NHÃ VÀ HÁN DỊCH

Bát-nhã tâm kinh (prajñāpāramitāhṛdayasūtra) là một bản văn ngắn nhất
về Bát-nhã ba-la-mật (prajñā-pāramitā). Trong bản Hán dịch của Huyền
Trang
, kinh gồm 262 chữ. Đây là bản lưu hành phổ biến nhất trong giới Phật
tử
Nhật bản, Chân ngôn tông (Shingon), Thiên thai tông (Tendai) và Thiền
tông
(Zen).[42]
Chủ đích của thiên luận này là khảo sát xem Tâm kinh giữ một địa vị quan
trọng như thế nào trong giáo pháp của Thiền tông. Do đó, cũng nên có một
kiến thức khá về chính bản kinh đó. Vì ngắn, nên dưới đây sẽ giới thiệu toàn
thể
nguyên bản Sanskrit cùng với bản Hán dịch của Huyền Trang, kèm theo là
bản dịch Anh ngữ từ nguyên bản Sanskrit.

F. Max Muller đã hiệu đínhấn hành Tâm kinh Bát-nhã vào năm 1884, từ bản
lá bối cổ lưu trữ ở Nhật.[43]
Nhưng bản dưới đây căn cứ trên bản Phạn Hán[44]
của Huyền Trang với một ít thay đổi dựa trên các bản
Hán dịch khác. Huyền Trang dịch Tâm kinh (Hṛdaya) ra chữ Hán vào năm
649, được soạn tập vào ấn bản Đại tạng kinh Taishō, số hiệu 251,[45]
với bài tựa ngự chế của Vua nhà Minh. Nhưng bản này hình như không được dịch
từ bản Sanskrit của Huyền Trang, số hiệu 256, vì cả hai không phù hợp nhau
mấy.

TÂM KINH LƯỢC BẢN: PHẠN VĂN
VÀ CÁC BẢN HÁN DỊCH

1. Bản Devanāgarī

(Essays III 190)

phanvanbatnhatamkinhphanvanbatnhatamkinh

2. Bản phiên âm
Latin
prajñāpāramitāhṛdayasūtram[46]

[ saṃkṣiptamātṛkā ]

//
namaḥ sarvajñāya //

āryāvalokiteśvarabodhisattvo
gambhīrāṃ[47] prajñāpāramitācaryāṃ[48]
caramāṇo vyavalokayati sma / pañca skandhāḥ, tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati
sma //

iha
śāriputra rūpaṃ śūnyatā, śūnyataiva rūpam / rūpān na pṛthak śūnyatā,
śūnyatāyā na pṛthag rūpam / yad rūpaṃ sā śūnyatā, yā śūnyatā tad rūpam //

evam
eva vedanāsaṃjñāsaṃskāravijñānāni //

iha śāriputra sarvadharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā na
vimalā nonā na paripūrṇāḥ / tasmāc chāriputra śūnyatāyāṃ na rūpam, na
vedanā, na saṁjñā, na saṃskārāḥ, na vijñānāni / na
cakṣuḥśrotraghrāṇajihvākāyamanāṃsi, na rūpaśabdagandharasaspraṣṭavyadharmāḥ
/ na cakṣurdhātur yāvan na manodhātuḥ //na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo
nāvidyākṣayo yāvan na jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na
duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptir nābhisamayas tasmād
aprāptitvāt[49]//

boddhisattvasya[50]
prajñāpāramitām āśritya viharato’ cittāvaraṇaḥ[51]
/ cittāvaraṇanāstitvād atrasto viparyāsātikrānto niṣṭhanirvāṇaḥ /
tryadhvavyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ prajñāpāramitām āśritya anuttarāṃ
samyaksaṃbodhim abhisaṃbuddhāḥ

tasmāj jñātavyaḥ prajñāpāramitā mahāmantro mahāvidyāmantro ‘nuttaramantro
‘samasamamantraḥ

sarvaduḥkhapraśamanaḥ satyam amithyatvāt/ prajñāpāramitāyām ukto mantraḥ /
tadyathā gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā //

iti
prajñāpāramitāhṛdayasūtraṃ samāptam

3. Hán dịch của
Huyền Trang

BÁT-NHÃ
BA-LA-MẬT-ĐA
TÂM KINH


般若波羅蜜多心經

(Taishō No 251)

唐三藏法師玄奘譯

觀自在菩薩。行深般若波羅蜜多時。照見五蘊皆空。度一切苦厄。舍利子。色不異空。空不異色。色即是空。空即是色。受想行識
亦復如是。舍利子。是諸法空相。不生不滅。不垢不淨不增不減。是故空中。無色。無受想行識。無眼耳鼻舌身意。無色聲香味觸法。無眼界。乃至無意識界。無無
明。亦無無明盡。乃至無老死。亦無老死盡。無苦集滅道。無智亦無得。以無所得故。菩提薩埵。依般若波羅蜜多故。心無罣礙。無罣礙故。無有恐怖。遠離顛倒夢
想。究竟涅槃。三世諸佛。依般若波羅蜜多故。得阿耨多羅三藐三菩提。故知般若波羅蜜多。是大神咒。是大明咒是無上咒。是無等等咒。能除一切苦。真實不虛
故。說般若波羅蜜多咒即說咒曰

揭帝揭帝 般羅揭帝 般羅僧揭帝菩提僧莎訶

般若波羅蜜多心經


II. BÁT-NHÃ TÂM KINH VIỆT DỊCH

1. Việt dịch theo
bản Anh của Suzuki[52]


Khi (1) Bồ-tát Quán Tự tại (Avalokitésvara) thực hành tu tập
Bát-nhã ba-la-mật sâu thẳm,
[53]
trực nhận rằng, có năm uẩn (skandha)(2); và thấy năm uẩn đó không
tự tính trong chúng(3).


“Này Xá-lợi-phất (Śāriputra), sắc ở đây là không(4), không là
sắc; sắc không khác không, không không khác sắc; sắc tức thị là không, không
tức thị là sắc. Thọ, tưởng, hành và thức cũng vậy
.”


“Này Xá-lợi-phất, hết thảy các pháp ở đây có đặc tướng là không : chúng
không sinh, không diệt; không cấu nhiễm, không không cấu nhiễm; không tăng,
không giảm. Vì vậy, này Xá-lợi-phất, trong tính Không không có sắc, không có
thọ, tưởng, hành, thức(5), không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý;
không có sắc(6), thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới(7),
cho đến(8)
không có ý thức giới; không có minh, không có vô minh(9), không
có sự diệt tận của minh, không có sự diệt tận vô minh
[54]
cho đến không có tuổi già và sự chết, không có sự diệt tận của tuổi già
sự chết; không có khổ(10),tập, diệt, đạo; không có trí, không có
đắc, và không có chứng,
++ bởi vì không có đắc.[55]
Không có những chướng ngại
+++ trong tâm của Bồ-tát an trụ
do y chỉ trên Bát-nhã ba-la-mật;
[56]
và bởi vì không có những chướng ngại trong tâm mình, Ngài không có sợ hãi,
và vượt ngoài những tà kiến điên đảo, đạt đến Niết-bàn. Hết thảy chư Phật
trong quá khứ, hiện tại, và vị lai, do y trên Bát-nhã ba-la-mật, mà chứng
đắc
giác ngộ viên mãn tối thượng.”


“Vì vậy, nên biết Bát-nhã ba-la-mậtđại thần chú (mantra), là chú của đại
minh
huệ, là thần chú cao tuyệt, thần chú vô giá, có thể trừ diệt hết mọi
khổ đau; đó là chân lý vì không sai lầm; đây là thần chú được công bố trong
kinh Bát-nhã ba-la-mật: gate, gate, pāragate, pārasaṅgate, bodhi, svāhā!”
(Này Bodhi, đi qua, đi qua, qua bờ bên kia, qua đến bờ bên kia, Svāha!).

 



CHÚ THÍCH (Suzuki)

(1) Có hai bản kinh cùng nhan đề là Hṛdaya (Tâm kinh): một bản được
gọi là Lược bản, và bản khác được gọi là Quảng bản. Bản dịch ở trên, của bản
lược, thông dụng ở Trung hoa và Nhật bản.

Đoạn mở đầu của Quảng bản trong nguyên bản Phạn ngữ và Tạng ngữ được tiết
lược trong bản Lược như sau:

[Bản Tạng ngữ có thêm một đoạn: “Kính lễ Bát-nhã ba-la-mật vượt ngoài
ngôn thuyết, tư tưởng và tán ngữ, vì tự tính như hư không, không sinh, không
diệt, là cảnh giới của huệ và giới, hiển nhiên trong nội tâm chúng ta, và là
mẹ của hết thảy các đấng Thế Tôn trong quá khứ, hiện tạivị lai.”] “Tôi
nghe như vậy. Một thời, đức Thế Tôn ngự tại thành Vương xá (Rājagṛha), trên
đỉnh Linh thứu (Gṛdhrakūta), cùng với đại chúng Tì khưu và Bồ-tát. Bấy giờ
đức Thế Tôn nhập vào tam-muội Chánh giác thậm thâm.
[57]

cùng lúc đó Đại Bồ-tát Thánh Quán Tự tại (Āryāvalokiteśvara) đang thực
hành
tu tập trong Bát-nhã ba-la-mật sâu xa
.”[58]

Đoạn kế tiếp, cũng tiết lược trong bản lược, như sau:

Này Xá-lợi-phất, như thế Bồ-tát phải tự mình thực hành trong Bát-nhã
ba-la-mật
sâu xa.” Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn rời khỏi Tam muộitán dương
Đại Bồ-tát Thánh Quán Tự tại rằng: “Lành thay, lành thay, thiện nam tử! đúng
như vậy! Sự tu tập Bát-nhã ba-la-mật sâu thẳm cần phải được thực hành như
vậy. Đúng như lời ông đã giảng thuyết, các đức Như Lai

[59]
A-la-hán cũng tán dương như thế.” Đức Thế Tôn hoan hỉ nói như thế. Trưởng
lão
Xá-lợi-phất và Đại Bồ-tát Thánh Quán Tự tại cùng với toàn thể chúng hội,
thế giới của chư Thiên, loài người, A-tu-la (Asura) và Càn-thát-bà
(Gandharva), tất cả đều ca ngợi lời của đức Thế Tôn.”

(2) Nhìn từ quan điểm khoa học hiện đại, khái niệm về Skandha (uẩn)
có vẻ quá mơ hồbất định. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng nguyên tắc phân
tích của đạo Phật không phát xuất từ hứng thú khoa học suông; nó có mục đích
giải cứu chúng ta ra khỏi ý tưởng về một thực tại cá biệt với ảo tưởng là nó
hiện hữu như thế suốt mọi thời. Vì khi ý tưởng này được nhận làm cứu cánh,
thì vướng mắc phải cái sai lầm của sự chấp trước,và chính do chấp trước đó
đã từng bắt chúng ta làm tôi mọi cho bạo lực ngoại giới. Năm uẩn (skandha)
(các tập hợp thể, hay các yếu tố) là: sắc chất (rūpa), cảm thọ hay
tri giác giác quan (vedanā), suy tưởng (saṁjñā), tập thành hay
sự tác thành (saṁskāra), và thức (vijñāna). Uẩn thứ nhất là
thế giới vật chất hay chất thể của mọi vật; bốn uẩn còn là thuộc về tâm
giới
. Vedanā xuất hiện qua các quan năng của chúng ta; saṁjñā,
suy tưởng hay tư duy (thought) theo nghĩa rộng nhất, không có từ ngữ tương
xứng ở Anh ngữ; hay nó là cái mà tâm phức biến; saṁskāra là một từ
rất khó, không có tương đương trong Anh ngữ; nó chỉ cho cái tạo nên hình
chất, là nguyên lý tạo hình; vijñāna
là thức hay tâm thái. Có những hình thái của tâm thái khá rõ như thấy, nghe,
ngửi, nếm, xúc chạm, và nghĩ tưởng.

(3) Bản dịch của Huyền Trang có thêm: “(Vị ấy) thoát khỏi tất cả khổ ách
度一切苦厄.”

(4) Không (śūnya) hay “tính Không” (śūnyatā) là một trong
những khái niệm quan trọng nhất trong triết lý Đại thừađồng thời cũng
gây nhiều rắc rối khó hiểu nhất cho những độc giả ngoài đạo Phật. Tính Không
không có nghĩa là “tương đối tính“ (relativity) hay “hiện tượng tính“
(phenomenality), hay “cái không chi.” (nothingness). Nó chỉ cho Tuyệt đối
thể, hay cái gì có bản tính siêu việt, dù nói thế cũng dẫn đến sai lầm như
chúng ta sẽ thấy ở sau. Khi các nhà Phật học tuyên bố hết thảy mọi vật đều
Không, họ không xướng xuất một quan điểm hư vô luận; ngược lại nó hàm ngụ
một thực tại tối hậu, vốn không thể đặt dưới các phạm trù luận lý. Với các
phạm trù đó, nếu nói đến tính cách hữu vi của vạn hữu thì cũng nói luôn hiện
hữu
của cái hoàn toàn vô vi siêu việt tất cả mọi xác định. Śūnyatā như thế
thông thường cũng được diễn dịch rất chính xácTuyệt đối thể. Khi kinh
nói rằng năm uẩn có đặc tướng (yếu tính) là Không (Không tướng), hay trong
tính Không, không có sinh và diệt, không có nhiễm, tịnh, v.v…, thì có nghĩa
rằng: đừng có gán cho Tuyệt đối thể những phẩm tính quyết định; trong khi nó
tiềm tại trong tất cả mọi vật thể cụ thể và cá biệt, nó hoàn toàn không thể
định tính. Do đó, phủ định toàn diện trong triết lý Bát-nhã là một hệ quả
tất yếu.

(5) “Không có mắt, tai, v.v…” chỉ cho sáu quan năng. Trong triết học Phật
giáo
, ý thức (manovijñāna) là quan năng đặc biệt để tri nhận các pháp
(dharma) hay các đối tượng của tư tưởng.

(6) “Không có sắc, thanh. v.v…” là sáu phẩm chất của ngoại giới, chúng làm
đối tượng cho sáu quan năng.

(7) “Nhãn giới v.v…,” chỉ cho mười tám giới (dhātu) hay các yếu tố
của hiện hữu, chúng gồm sáu giác năng (indriya: căn), sáu phẩm tính (viṣaya:
cảnh) và sáu thức (vijñāna).

(8) “Cho đến” (Skt: yāvat; Hán: nãi chí 乃至), rất thông dụng trong văn học Phật giáo dùng để tránh lặp lại
những đề tài đã biết. Những lối phân loại này hơi có vẻ phức tạp và chồng
chéo.

(9) “Không có minh, không có vô minh…” là phủ định toàn bộ 12 chi duyên khởi
(pratītyasamutpāda), gồm vô minh (avidyā), hành (saṁskāra),
thức (vijñāna), danh sắc (nāma-rūpa), sáu xứ (ṣaḍāyatana),
ái (tṛṣṇā), thủ (upādāna), hữu (bhava), sinh (jāti),
già và chết (jarāmaraṇa). 12 chi duyên khởi này đã được các học giả
đạo Phật thảo luận rất nhiều.

(10) Đương nhiên ám chỉ bốn Thánh đế (satya): 1. Đời sốngđau khổ
(duḥkha); 2. Do sự tích tập (samudaya) của các nghiệp xấu; 3.
thể diệt tận nguyên nhân của khổ (nirodha); 4. Có con đường (mārga)
dẫn tới diệt nguyên nhân của khổ.

2. Việt dịch theo
bản Hán của Huyền Trang

A. Phiên âm
Hán-Việt


Quán Tự tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn
giai Không, độ nhất thiết khổ ách.


Xá-lợi Tử, Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc, sắc tức thị Không, Không tức
thị sắc
; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.


Xá-lợi Tử, thị chư pháp Không tướng bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh,
bất tăng, bất giảm; thị cố Không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô
nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn
giới
nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chílão
tử
diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí, diệc vô đắc. Dĩ vô sở
đắc
cố. Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái
ngại
cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn.
Tam thế chư Phật y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la
tam-miệu-tam-bồ-đề


Cố tri Bát-nhã ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị
thượng
chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật, bất hư
cố; thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tức thuyết chú viết: Yết-đế, yết-đế,
ba-la-yết-đế, ba-la-tăng-yết-đế, Bồ đề, tăng sa-ha.


B. Việt dịch[60]

Bồ-tát Quán Tự tại trong khi thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa thậm thâm, soi
thấy năm uẩn đều Không, vượt qua tất cả mọi khổ ách.

-lợi Tử, sắc không khác Không; Không không khác sắc. Thọ, tưởng,
hành, thức cũng vậy. Xá-lợi Tử, đặc tướng Không của các pháp ấy không sinh,[61]
không diệt, không cấu, không tịnh, không tăng, không giảm; do đó, trong
Không không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có giới của con
mắt, cho đến không có giới của ý thức; không có vô minh, cũng không có sự
diệt tận của vô minh, cho đến, không có già và chết, cũng không có sự diệt
tận của già và chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có trí, cũng không
có đắc. Vì vô sở đắc.

Bồ-đề-tát-đỏa, do y chỉ Bát-nhã ba-la-mật-đa, tâm không bị bưng kín. Do
không bị bưng kín, nên không có sự sợ hãi, xa lìa tất cả điên đảomộng
tưởng
, đạt đến Niết-bàn cứu cánh. Chư Phật trong ba đời do y chỉ Bát-nhã
ba-la-mật-đa
chứng đắc A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề

Do đó nên biết Bát-nhã ba-la-mật-đathần chú vĩ đại, là minh chú vĩ đại,
là chú vô thượng, là chú không gì có thể so sánh, diệt trừ tất cả khổ, chân
thật
, vì không hư dối, được gọi là chú Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Tức thuyết chú
rằng: yết-đế, yết-đế, ba-la-yết-đế, ba-la-tăng-yết-đế, bồ-đề, tăng sa-bà-ha.

 


* Các chú thích một phần do chính tác giả; một số khác là tham chiếu
của dịch giả. Những chú thích tham chiếu này đều có ghi TS.

[42]
Nhật bản, kinh được gọi là Hannya Shingyô 般若心經 hay nói gọn là
Shingyô
心經. Tại một thiền viện, kinh được tụng trong mọi thời. Có
nhiều bản chú giải và các thiền sư thường cho một khóa giảng về kinh
này.

[43]
Thủ bản lưu trữ từ năm 609 tại chùa Hôryoji (法隆寺 Pháp long tự), Yamato,
một trong những ngôi chùa tối cổ ở Nhật. Nó khá hấp dẫn về mặt khảo cổ
cung cấp chúng ta “dạng bản tối cổ của mẫu tự Sanskrit được dùng cho
các mục đích văn học.” Người ta nói thủ bản này được Bồ-đề đạt-ma mang
vào Trung hoa, rồi sau đó tới Nhật bản.

[44]
Bản Phạn-Hán, có nghĩa là bản phiên âm từ tiếng Sankrit sang tiếng Trung
hoa, ấn hành trong Đại tạng Taishô, tập VIII, số hiệu 256: Đường Phạn
phiên đối tự âm Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh
唐梵翻對字音般 若波羅蜜多心經, Quán Tự tại Bồ tát trực tiếp truyền cho Tam tạng
Pháp sư
Huyền Trang bản Phạn không nhuận sắc. TS

[45]
T8n251, tr. 848c4 Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh
般若波羅蜜多心經, Đường Tam tạng Pháp sư Huyền Trang
dịch 唐三藏法師玄奘譯. )

[46]
Phiên âm theo bản Devanāgari của Suzuki, tham chiếu
Mahāyāna-sūtra-saṁgraha
, ed. By Vaidya, The Mithila Institute, 1961,
p.97.

[47]
Vaidya: gambjīrāyāṃ. TS

[48]
Vaidya: prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ. TS

[49]
Vaidya: na jñānaṁ na prāptitvam. TS

[50]
Vaidya: bodhisattvasya(śca?). TS

[51]
Vaidya: viharati cittāvaraṇaḥ. TS

[52]
Bản Việt này cố gắng dịch sát theo bản Anh làm cơ sở tham chiếu cho các
bản Hán dịch. Các chú thích trong phần cước chú là của người dịch được
đánh dấu hoa Ả-rập (không ngoặc). Một số cước chú của tác giả (Suzuki)
được đánh dấu thập (+). Chú thích của tác giả (Suzuki) được được đánh số
Ả-rập trong ngoặc đơn ghi ở cuối bản dịch Việt này.


+
Có hai điểm đáng lưu ý trong đoạn dịch này: 1) Bản Hán của Huyền
Trang
:
chiếu kiến ngũ uẩn giai không
照見五蘊皆空; bản
Hán của Cưu-ma-la-thập:
chiếu kiến ngũ ấm không 照見五陰空; khác với
lối nói: soi thấy có năm uẩn (ấm) rồi mới thấy tự tánh của chúng là
không. 2) Cả hai bản Hán vừa dẫn đều có câu: vượt qua mọi khổ ách
度一切苦厄, tức nói tới hiệu lực của Bát-nhã. Bản
Sanskrit hiện hành và bản phiên âm Taishô VIII, No 256 đều không có câu
này. TS

[53]
Chữ Hán: thị chư pháp Không tướng 是諸法空相. Phạn:
iha … sarvadharmāḥ
śūnyatālakṣaṇā, “ở đây, tất cả các
pháp vốn có đặc tướng (=yếu tính) là tính không.” Ý nghĩa chữ này, có
thể đọc nơi luận VI, đoạn nói về 8 cái Không. (TS).

[54]
Các bản Hán đã dẫn: vô vô minh, diệc vô vô minh tận 無無明。亦無無明盡, không có vô minh và cũng không có sự chấm dứt của
minh
. Đoạn dịch trên tương đương với bản phiên âm Phạn Hán đọc được
trong Taishō như sau: na vidyā nāvidya na vidyākṣhayo
nāvidyākṣayo. TS.


++

Nābhisamayaḥ
(không hiện quán hay hiện chứng – TS), không có trong các bản Hán dịch
cũng như trong thủ bản chùa Pháp long.

[55]
Hán: dĩ vô sở đắc cố (Skt. aprāptitvāt),
một số chú giải đặt nhân do này lên đoạn trên như bản dịch Anh; một số
khác đưa xuống đoạn sau. Prāpti (đắc) và aprāpti
(phi đắc) là hai trong số các hành không tương ưng tâm (citta-viprayuktāḥ
saṁskārāḥ). Kośa-Bhāṣya, k. ii.
36c-d:
dvidhā hi prāptir
aprāptaviḥīnasya ca lābhaḥ pratilabdhena ca samanvāgamaḥ,
“đắc có hai: 1. sự thu hoạch (thủ đắc) những gì chưa có được hay những
gì đã mất; 2. sự sở hữu (thành tựu, cụ túc) những gì đã có được mà chưa
mất.” Chỉ khái niệm về sự hiện hữu của một phẩm tính nơi một nhân cách.
Nói một người “đắc quả A-la-hán” là khi phẩm tính A-la-hán hiện hữu nơi
vị ấy do đó nhân cách vị ấy được biết như là một Thánh giả A-la-hán.
Trong bản Hán, prāpti
được dịch là sở đắc, “cái được thủ đắc.” TS


+++
Chữ
varaṇa
, tất cả các bản Hán đều nói “quái ngại” và như thế hoàn toàn
hợp với giáo pháp của Bát nhã. Max Muller dịch Anh ngữ “envelop”, bao
trùm.

[56]
Hán: Bồ-tát y Bát-nhã ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại
依般若波羅蜜多故。心無罣礙: Bồ tát do nương trên Bát-nhã
ba-la-mật-đa
nên tâm không quái ngại. Skt. bodhisattvasya prajñāpāra­mi­tām āśritya
viharato’ cittāvaraṇaḥ, sau khi y
chỉ
trên Bát-nhã ba-la-mật-đa của Bồ tát, (vị ấy=hành giả) an trụ với
tâm không bị chướng ngại (trùm kín). TS

[57]
Skt. gambīrāvasaṁbodhaṁ nāma samādhiṁ; Hán, T8n253: tam-muội tên
Quảng đại thậm thâm 三昧名廣大甚深; T8n254:
tam-ma-địa danh Quảng đại thậm thâm chiếu kiến; 三摩地名廣大甚深照見; T8n255: Nhập thậm thâm minh liễu tam-ma-địa pháp
入甚深明了三摩地法. TS

[58]
Skt. gambīrayāṁ prajñāpāramitāyāṁ caryāṁ caramaṇo, ngữ pháp, biến
cách số 6, chỉ nơi chốn. Ở đây được hiểu là sự tu tập trong
Bát-nhã ba-la mật-đa, là sở y chứ không phải đối tượng. TS

[59]
Dịch sát bản Anh: by Tathāgatas and Arhats. Skt.
tathāgatair arhadbhiḥ
, trong đây, A-la-hán được hiểu là một phẩm đức
của Như Lai. TS

[60]
Bản dịch Việt này cố dịch sát theo bản Hán, theo sự lãnh hội phổ thông
để có thể so sánh với một vài dị biệt có thể có trong bản Phạn hiện
hành
. TS

[61]
Dịch theo cách ngắt câu khắc: “Xá-lợi-phất, các pháp, mà yếu tính là
Không (Không tướng), vốn không sinh,… „

(Trích trong Thiền và Bát Nhã)