Ba Pháp Ấn

0
9

BA PHÁP ẤN
Thích Viên
Duy dịch Việt

‘‘Pháp
Ấn
’’ tức ấn chứng, dấu hiệu tiêu biểu, nhận định, đánh giá mọi tiêu
chuẩn
căn bản của tất cả hiện tượng. Tất cả những sự phân biệt nội ngoại, chân
ngụy
, chánh tà đều dựa vào ‘‘Pháp Ấn’’ để ấn định những sự phân biệt đó có
chính xác hay không. Như những công văn của thế gian, người ta đều lấy dấu ấn
để làm nơi tín nhiệm. Trong Phật Giáo, Đức Phật mang giáo nghĩa căn bản của
pháp Tứ ĐếThập Nhị Nhân Duyên tóm tắt gom lại thành 3 câu nói, tức ‘‘chư
hành vô thường’’, ‘‘chư pháp vô ngã’’, ‘‘Niết Bàn tịch tĩnh’’, được gọi là
‘‘Tam Pháp Ấn’’. Ba câu nói này là dấu hiệu tiêu biểu để phân biệt giữa Phật
giáo
và các trường phái học thuyết khác, là nguyên cả luận lý cơ bản Phật học,
là nguyên lý căn bản bất khả dao động trong Phật Pháp, là định luật đầy đủ tính
phổ biến, tính tất nhiên và tính vĩnh hằng.

1. Chư hành vô thường

‘‘Hành’’,
nguyên gốc là nghĩa lưu hành chuyển biến. Đức Phật cho rằng, thế gian vạn vật
đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh, do vậy thế gian nhất thiết tạo tác mà sản
sanh nên hiện tượng, bao gồm luôn tất cả vật chất hiện tượng, hoạt động tâm lý
và khái niệm hình thức. Không có một vật nào là không lưu hành biến chuyển, đây
gọi đó là “Hữu vi pháp”.”Hữu vi pháp” lưu hành biến chuyển,
do vậy cũng được gọi là “hành”, tức là “chư hành”, ý chỉ
tất cả thế gian đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh, do đó hiên tượng và sự vật
thì chuyển lưu biến đổi. “Vô thường” tức là biến hóa. Cho nên những
gì gọi là “chư hành vô thường”, tức là nói đến tất cả hiện tượng thế
gian
đều biến hóa vô thường, sự vật trên thế gian không có vĩnh hằng bất biến.
Con người mưu tính làm cho nhân duyên sự vật không biến hóa hòa hợp mà sanh,
thì hoàn toàn không thể được. Con người ta mong muốn bảo trì nguyện vọng thường
hằng
bất biến nhưng vì hiện thực biến động không ngừng do vậy phát sanh mâu
thuẫn
, sự mâu thuẫn đó không giải quyết được tức thì đưa đến thống khổ.

‘‘Vô thường’’
có hai loại: Nhất kỳ vô thườngniệm niệm vô thường. Nhất kỳ vô thường chỉ
tất cả sự vật trong một khoảng thời gian nào đó, biến chuyển lưu hành, chung
quy hoại diệt, như sanh lão bệnh tử của con người, sanh trụ dị diệt của sự vật,
thành trụ hoại không của thế giới, tuy thời gian trải qua có dài ngắn, đều
không giống nhau, nhưng đều là biểu hiện của nhất kỳ vô thường. Niệm niệm
vô thường
, ‘‘niệm’’ từ tiếng Phạn được dịch nghĩa là ‘‘sát na’’, ‘‘niệm niệm’’
tức là sát na sát na. Tất cả sự vật không những có nhất kỳ vô thường, mà còn
trong khoảng thời gian nào đó lại có vô thường của sát na sát na sanh trụ dị
diệt
. Cũng có thể nói, khi trước không hoại diệt, nhưng trong nội bộ nó vẫn sát
na
sát na chuyển biến không ngừng.

Vô thường
tuy chuyển biến không ngừng, nhưng vô thường vẫn vô thủy vô chung, tương tục
không dứt. Như con người chịu sanh lão bệnh tử, nhưng trước khi sanh vẫn có
‘‘thể’’ sanh mạng, sau khi chết lại chuyển hóa làm ‘‘thể’’ sanh mạng khác,
tương tục không dứt; sự vật do nhân duyên hòa hợp mà sanh, sau khi nhân duyên
ly tán mà diệt, lại chuyển hóa thành sự vật khác; thế giới cũng theo quá trình
thành trụ hoại không, xoay tròn trở lại, tuần hoàn bất đoạn. Tóm lại, tất cả sự
vật trên thế giới đều là vĩnh viễn sanh diệt biến hóa mà lại vô thủy vô chung.

Đức Phật dùng
thuyết chư hành vô thường phá trừ thường kiến của chúng sanh, do vì chúng sanh
chấp vào pháp cho rằng thực có mà khởi tham sân si, đủ thứ phiền não, nói rõ
nghĩa vô thường đây không sanh tham sân si, phát khởi tâm hướng thượng lìa sanh
tử
mà cầu giải thoát.

2.Chư Pháp Vô Ngã

‘‘Pháp’’ chỉ
đến tất cả sự vật và tồn tại, ‘‘chư pháp’’ ý chỉ tất cả sự, các loại tồn tại.
Những gì giảng về chư hành ở trên không bao gồm ‘‘vô vi pháp’’, nhưng chư pháp
lại bao quát ‘‘vô vi pháp’’ bên trong, là hiện tượng và siêu hiện tượng, hữu vi
pháp
vô vi pháp, gọi chung của thử ngạn thế giớibỉ ngạn thế giới. Hàm
nghĩa của tiếng Phạn ‘‘ngã’’ mang 3 đặc tính: một là chủ tể tính (độc hữu tính,
độc hữu), năng chủ trì tự thân; hai là thực thể tính (đơn độc tính, tự hữu),
không dựa nhân tố khác mà tồn tại; ba là cố định tính (bất biến tính, thường hữu),
không do biến hóa thời gian không gian mà tiêu thất. Do vậy, ‘‘ngã’’ là thực
thể
thường hằng bất biến, có đủ công năng tự ngã chủ tể. Lại có thể nói,
‘‘ngã’’ vừa không là tập hợp ly tán, vừa là thực thể không sanh diệt biến hóa,
chủ tể độc lập tự tánh vĩnh hằng bất biến. Những gì gọi là ‘‘chư pháp vô
ngã’’, tức nói đến tất cả sự vật và tồn tại đều không có chủ tể hoặc thực thể
độc lập bất biến, đều không có khởi trước chủ tể tác dụng ngã hoặc linh hồn.
Nói cách khác, trên thế giới không có đơn nhất độc lập, tự ngã tồn tại, tự ngã
quyết định sự vật vĩnh hằng, tất cả sự vật đều là nhân duyên hợp thành, tương
đối
và tạm thời.

Chúng sanh
không rõ ‘‘chư pháp vô ngã’’ mà sản sanh ngã chấp, thế rồi sanh tự tha bỉ ngã
sai biệt, sanh ái tắng thuận nghịch đủ loại phiền não, lợi ta thì vui, tổn
thương
ta thì tức, tiến đến tạo vô số nghiệp, có nghiệp ắt chịu thống khổ luân
hồi
lục đạo sanh tử. Những gì gọi là ‘‘ngã chấp’’ tức ‘‘nhân ngã chấp’’ và
‘‘pháp ngã chấp’’. Nhân ngã chấp, tức chấp trước vào những gì của tôi, gọi
‘‘ngã chấp’’, cũng gọi là ‘‘ngã kiến’’. Pháp ngã chấp, tức chấp vào những gì
của pháp (ngoại vật), nên gọI ‘‘pháp chấp’’. Cho nên ‘‘chư pháp vô ngã’’ tức là
muốn phá trừ pháp chấpngã chấp của chúng sanh.

Phá ngã chấp,
nhấn mạnh con người vô ngã. Con người là tập hợp thể của tinh thần và hình thể,
là do sắc thọ tưởng hành thức (ngũ uẩn) hòa hợp mà thành, giả danh là người,
vọng
không thực, bổn vô hữu ngã. Đầu tiên, một uẩn nào ở đâu trong ngũ uẩn cũng
đều không thể nói là ‘‘tôi’’ được, đều là ‘‘tôi’’ không thể nắm bắt được, nếu
như sắc tức là tôi, vậy thì sẽ không phát sanh thống khổ, thọ tưởng hành thức
cũng như vậy, đây gọi là vô ngã tướng. Thứ nữa một uẩn ở đâu của ngũ uẩn cũng
không là sở hữu của ‘‘tôi’’, sự tồn tại của ngũ uẩn giống như ngọn lửa đèn
cháy, nìẹm niệm sanh diệt, tương tục không cùng, biến hóa vô thường, đây gọi là
vô ngã sở (phi ngã sở). Lại nữa, trong ngũ uẩn vẫn không có một bản thể ‘‘tôi’’
như vậy, con người chỉ là tập hợp ngũ uẩn mà thành, căn bản không có ‘‘tôi’’,
như gạch gói gỗ đá hòa hợp mà thành nhà cửa, lìa những thứ này ra ắt không có
nhà cửa, con ngườingũ uẩn thân tâm giả hợp, nhưng có giả danh, không có cái
‘‘tôi’’ thực sự để đắc, đây gọi vô ngã thể.

Cùng một nguyên
lý, những sự vật gì khác của ngoài con người cũng giống như con người, đều là
tập hợp thể của các loại nhân tố, mà còn thời thời khắc khắc đều trong biến hóa
vô thường, cũng đều không có thực thể độc lập tự tồn (tự tính, tự thể), do vì
pháp cũng vô ngã, nên lại muốn phá trừ pháp chấp.

Một số học giả
cho rằng thuyết nghiệp báovô ngã luận của Đức Phật thì mâu thuẩn nhau, bởi
vậy lý luận của chư pháp vô ngã, phủ định tự ngã thực thểtồn tại của linh
hồn
, nhưng lại khẳng định tác dụng nghiệp lực chúng sanh, đề xướng luân hồi
nghiệp báo, đây khẳng định một cách trá hình về sự tồn tại của linh hồn, đồng
thời
, trên thực tiển sẽ đưa đến sự mâu thuẫn giữa chính mình gánh chịu trách
nhiệm
của thuyết nghiệp báo và không phải gánh trách nhiệm của thuyết vô ngã.
Thực tế y cứ theo tinh thần của Nguyên thủy Phật giáo, giữa hai quan điểm này
vẫn không mâu thuẫn. Nghiệp, thì chỉ đến tất cả vi tác của chúng sanh đều có
tác dụng của nó, đã có thứ hành vi tác dụng này tức sẽ sản sanh ra hậu quả, tức
sẽ có nghiệp báo. Bởi thế thuyết nghiệp báo là loại quan hệ nhân quả. Thực chất
của thuyết vô ngã chỉ đến tồn tại của sự vật là do nhân duyên hòa hợp mà thành,
là có điều kiện nên, như sự tồn tại của nhân ngã nương tựa ngũ uẩn hòa hợp, ngũ
uẩn
giải tán nhân ngã ắt không, nên những gì thuyết vô ngã giảng nói là một loại
điều kiện tương quan. Trong khi nhân duyên cấu thành biến hóa, ‘‘nghiệp’’ khởi
trước quyết định tác dụng. Nhưng đói với nhân sanh mà nói, từ khi nhân ngã vốn
không, vậy tức là không có một cái tinh thần chủ thể thường tồn bất biến như
loại linh hồn, cũng tức là không tồn tại một linh hồn bất tử khi thọ báo.
Nghiệp của nhân sanh chỉ hình thành một thứ công năng hoặc lực lượng tinh thần,
khi chúng tại những nhân duyên điều kiện gì mới sẽ thành nên một nhân tố mà sản
sanh ra hậu quả (quả báo). Loại nghiệp lực này và những gì gọi là linh hồn hoặc
tự ngã bản thể thì không giống nhau: thứ nhất, nói về phương diện thời gian,
nghiệp hoặc nghiệp lực thì sanh tử vô thường, mà linh hồn hoặc tự ngã ắt là
thường trụ cố định; thứ hai, nhìn theo này kia (bỉ thử), nghiệp hoặc nghiệp lực
nhân duyên mà khởi, chỉ có lúc nhân duyên hội hợp, mới sẽ chiêu cảm quả báo.
linh hồn hoặc tự ngã là một thể, độc lập, có đủ ý nghĩa chủ thể tự ngã; thứ
ba, nhìn theo phương thức tồn tại, nghiệp hoặc nghiệp lựcsát na sanh diệt
lại chuyển hóa vô cùng, bản thân của nó là do hành vi tạo tác của tự thân con
người
mà có, lại có thể do hành vi tạo tác của tự thân con người mà cải biến,
nhấn mạnh tất cả quả báo đều là tự tác tự thọ của con người, chính là do con
người
không có một linh hồn cố định bất biến hoặc tự ngã chủ tể tự kỷ, cho nên
người ta mới có thể tùy theo thời gian chính mình tạo nghiệp mà cải biến vận
mạng của chính mình, mà linh hồn hoặc tự ngã thì có một thực thể cố định bất
biến
, xưa nay như vậy, vĩnh hằng bất biến. Hiện đại Nhật Bản Phật học Đại sư A
Bộ Chánh Hùng nói :‘‘Nghiệp trong Phật giáo không phải là luận quyết định, bởi
vì trong Phật giáo không có quan niệm về vị thần linh khống chế nghiệp’’; Vô
Ninh nói Phật giáo mang nghiệp coi như một loại lực lượng đạo đức, nhấn mạnh
qua tự do quyết định của ý chí, sau cùng từ trong luân hồi giải phóng ra khả
năng tính. Như những gì nói trước, một phương diện chúng ta bị những cái nghiệp
của chính mình trói buộc, đồng thời khi trong vũ trụ những gì nghiệp vận hành
thì quan hệ chặt chẻ; nhưng trong một phương diện khác, những gì chúng ta làm
chúng sanh thì có đủ tự ngã ý thứctự do ý thức, căn cứ vào tự do hành động
của cá nhân mà từ trong những gì nghiệp trói buộc giải phóng ra ngoài cơ hội,
loại tự do hành động này lấy nghiệp lực vô thủy vô chung nhằm đối nội tự thân
của nó, cũng tức là vận hành tại những gì mà nhận thức thấu triệt của quá trình
nghiệp lực trong vũ trụ ngoài phạm vi bản thân nó làm căn bản.’’ (A Bộ Chánh
Hùng: <<Thiền và tư tưởng Tây phương>>, Thượng Hải dịch văn xuất
bản xã 1989 niên bản trang thứ 249) Do đó, các thứ các loại nghiệp mà chúng
sanh
tạo ra, là không vô tự tánh và do nhân duyên mà khởi, nó đã không tồn tại
trong ý thức vô thường, lại cũng không tồn tại một bộ phận nào của sinh mạng,
có thể một lúc thời khắc thích đáng đã đến, y vào hai thứ tinh thần vật chất,
tức sẽ hiển hiện ra, trên thực tế nghiệp lấy sắc tâm làm duyên mà sanh đồ vật,
năng lực mà dung khắp sắc tâm. Do vậy những gì nghiệp cho là nghiệp, không
thể nào chỉ nhìn thành là sắc hoặc tâm, mà là sắc tâm duyên khởi được thành
nên. Cho nên theo lôgíc mà nói, nghiệp lực không theo sự diệt vong của thân tâm
cụ thể mà tiêu thất, trước lúc chưa gặp duyên cảm quả, thì vẫn tiếp tục tồn
tại
. Nhưng nhìn trên hiện thực, không sắc tâm, thì không có gì mà nghiệp lực
nương tồn, vô sắc tâm làm duyên, nghiệp lực không từ đó hiện khởi.

Về sau Đại thừa
Trung quán học đem thuyết nhân quả nghiệp báo của Nguyên thủy Phật học cho có
lẻ là giải thuyết tối vi chính xáccứu cánh. Trung quán học cho rằng bản
thân
nghiệp lựckhông vô tự tính. Nếu như cho rằng nghiệp lực thực có tự
tính
, vậy thì đánh mất đi hàm nghĩa của nghiệp dĩ tạo tác làm nghĩa. Những gì
nghiệp cho là nghiệp, bất luận thiện hay ác, đều do tạo tác mà thành, không có
không tạo tác mà làm thành nghiệp được. Nếu như nghiệp có thực thể tính, vậy
thì
không thể nói nó từ duyên sanh khởi, mà không cần phải tạo tác, bổn lai vốn
có rồi. Vậy chỉ có thể là một loại thực thể, thứ linh hồn. Loại thực thể,
linh hồn này là bổn lai vốn có vật cố định bất biến, nó hoàn toàn đã phủ định
sự vô thường, pháp duyên khởi của sanh diệt. Nếu như không tạo nghiệp mà đã có
nghiệp lực tồn tại, hữu tình không tạo tác lại cũng sẽ có tội nghiệp hoặc thiện
đức
, nói như thế thì, sự sai biệt làm ác làm thiện cũng không có, điều này tức
sẽ phá hoại những sai khác của tất cả hành vi thiện ác xấu tốt thế gian. Chính
vậy Trung quán học cho rằng nhân quả không đoạn không thường, nghiệp lực tương
tục
không mất không hoại, chỉ có trong huyễn hữu từ tính không duyên khởi, mới
có thể thiết lập nên được. <<Trung Luận, Phẩm Nghiệp>> nói : ‘‘Tuy
không cũng không đoạn, tuy có mà không thường; nghiệp quả báo không mất, là tên
gọi những gì Phật thuyết.’’ Nên Ấn Thuận trưởng lão Đại sư trong <<Trung
Quán Luận Tụng
Giảng Ký>> viết : ‘‘Theo đúng nghĩa Tính Không nói, nghiệp
là do duyên khởi hóa, khi nhân duyên hòa hợp, tợ như có hiện tượng nghiệp sanh
khởi
. Thật sự ra, nghiệp thì không có thực tính đâu, đã không từ nơi nào đến,
lại cũng không từ trong vô sanh khởi một tính thực tại. Tất cả các nghiệp vốn
tức không sanh, không sanh không phải không có duyên sanh, là nói không có tự
tính
quyết định của nó, không có tự tính sanh, tất cả các nghiệp cũng vốn xưa
nay
không diệt, không diệt tức không mất. Những nghiệp tướng sanh diệt
chúng ta thấy được, là sự khởi diệt của hiện tượng nhân quả, không phải có một
nghiệp ở nơi khởi diệt của tính thực tại. Không có nghiệp tính sanh diệt của
thực tại, chỉ có như huyễn như hóa nghiệp tướng, theo sự hòa hợp ly tán của
nhân duyên mà huyễn khởi huyễn diệt. Như huyễn sanh diệt, không thể nào truy
cầu tự tính của nó, cũng không là thường tại của thực có, là huyễn tại của mối
quan hệ nhân duyên. Huyễn dụng là chẳng phải không, cái này như nghiệp dụng
huyễn, tại trước lúc cảm quả không mất, sau khi cảm quả, như nghiệp dụng huyễn
diệt, mà không thể nào nói một pháp thực tại nào đó tiêu thất, do đó nói: ‘diệt
không chổ đến’. Các nghiệp không sanh, vô định tính không, tuy không vô tự
tính
, nhưng duyên khởi nghiệp, tại trăm nghìn kiếp không mất, do vậy cũng không
đoạn. Không phải thật có thường trụ nên không đoạn, mà là vô tính từ duyên nên
không đoạn. Hành nghiệp không thất diệt, có thể kiến lập như huyễn duyên khởi
nghiệp quả liên hệ.’’ Giải thích như vậy, thì tương khế với Phật pháp, thì đối
với thuyết nghiệp lực của Phật học vừa chính xác mà lại có lực thuyết minh.

Ngoài ra, theo
như
sự giải thích của Đức Phật, trạng thái luân hồi nghiệp báo thực tế là kết
quả của người ‘‘vô minh’’ : thế giới vốn vô thường, nhưng người ta cho
rằng hoặc tưởng bảo nó hữu thường; thế giới vốn vô ngã, nhưng con người cho
rằng hữu ngã; người tà vốn do ngũ uẩn hợp thành, không có tự ngã vĩnh hằng,
nhưng người ta cho rằng hữu ngã, có một ngã linh hồn. Như thế mới rơi vào sanh
tử luân hồi
, nếu chặt dứt ‘‘vô minh’’, ắt sẽ tự thoát ly trạng thái luân hồi.
Do vậy, những gì là trạng thái luân hồi nghiệp báo, nghiêm khắc mà nói thì
không có thực, nó chẳng qua là sản vật của vô minh. Từ trên ý nghĩa trên đây mà
bàn, thì loại trạng thái này không chân không thực, bởi thế là ‘‘không’’, là
‘‘vô ngã’’ vậy.

Do vậy có thể
thấy, thuyết vô ngã của Nguyên thủy Phật giáothuyết nghiệp báo không những
không mâu thuẫn, mà giữa hai điều đó còn là tương ưng trên thực tế, không có sự
mâu thuẫn giữa chính mình chịu trách nhiệm của thuyết nghiệp báo với thuyết
ngã
chính mình không gánh trách nhiệm, điều này dẫn đến sự chú ý đặc biệt của
người nghiên cứu.

3. Niết
Bàn
Tịch Tĩnh

Những gì gọi là
Niết Bàn, là dịch âm chử Phạn, diệt độ, tịch diệt, giải thoát, vô vi, bất sanh,
an lạc, viên tịch v.v…, nghĩa gốc nó là quạt diệt, thanh lương, bình
đẳng
, ý đó dịch nhiều làm suy ra nghĩa, từ mục đích mà nói có thể gọi là
giải thoát, an lạc, từ phương pháp mà nhìn là diệt, diệt độ, tịch diệt, từ cảnh
giới
mà nói thì là vô vi, bất sanh, viên tịch (tham khảo Vương Hải Lâm:
<<Tam thiên đại thiên thế giới – quan hệ đối thoại về luận Phật giáo
trụ
>>, nhà xuất bản Kim nhật Trung quốc năm 1992 trang 161).
Tịch tĩnh tức trạng thái pháp tướng của cảnh giới Niết bàn. Niết bàn không phải
những gì pháp nhân duyên thế gian sanh, cũng là cảnh giới xuất thế gian vô vi
pháp
(tịch diệt pháp) bất sanh bất diệt. Chỉ có diệt tuyệt tất cả phiền não,
biết hết sanh tử cảm nghiệp, thoát ly các khổ luân hồi tam giới, mới có thể
chứng ngộ vô vi phápđạt đến diệu cảnh Niết bàn giải thoát, tức những gì
‘‘diệt, tận, ly, diệu’’ mà Phật giáo nói trước đây. Nguyên thủy Phật giáo đói
với lý giải Niết bàn chủ yếu chỉ đến sự tu hành đạt đến cảnh giới giải thoát
tối cao của luân lýtâm lý, tức là không còn sanh lão bệnh tử, mà đạt đến
khoái lạc không gì sánh bằng, diệt trừ xong tham sân si, dứt tận phiền não
nhiễm trược mà đi đến vô thượng giải thoát. Trong <<Kinh A Hàm>>
thường dùng ‘‘tịch tĩnh cùng cực’’, ‘‘cứu cánh thanh lương’’, ‘‘cực kỳ an lạc’’
v.v… để miêu tả Niết bàn. Do vậy Niết bàn không phải tử vong, mà là khoái
lạc, là giải thoát vô thượng, là Phật giáo cảnh giới tối viên mãn.

Niết bàn tịch
tĩnh
là chung cực của Tam Pháp Ấn, một Pháp ấn không giống hai cái trước, là
dùng để khẳng định hình thức biểu đạt. Đức Phật đề xuất chư hành vô thường
chư pháp vô ngã, nhưng rốt sau muốn làm chứng cho cảnh Niết bàn tịch tĩnh. Do
vì tất cả vạn vật nhân duyên hòa hợp đều là vô thường, chúnh sanh thì sẽ sản
sanh khổ chán đời, lại nói thêm một bước nhận thức đến tất cả sự vật đều là
ngã
, thì tất nhiên sẽ không có gì mà y chỉ, quy kết tại Niết bàn tịch diệt.
Cũng có thể nói là đoạn vô minh, tức phiền não, siêu sanh tử, không vì những
cái cảm thọ trong ngoài mà động, thì có thể đắc được an lạc tịch tĩnh triệt để,
đạt đến Niết bàn.

Nhìn trên khía
cạnh triết học, chư hành vô thường, chư pháp vô ngã là thuyết hiện tượng giới,
Niết bàn tịch tĩnh là thuyết đứng nơi bổn thể giới, bổn thể và hiện tượng thật
sự không thể phân cắt hai phương diện, Niết bàn tịch tĩnh coi như cảnh giới cực
cùng lý tưởng của Phật giáo, thế giới bỉ ngạn thì đói xã hội hiện thực nhiễm ô,
phủ định thế giới thử ngạn, là thông qua phủ định hiện thực mà khẳng định
tưởng
, thông qua phủ định ‘‘thường’’ và ‘‘ngã’’ của thế gian mà khẳng định
‘‘thường’’ (vĩnh hằng vô thường) và ‘‘ngã’’ (chơn ngã) của xuất thế gian. Niết
bàn
tịch tĩnhlý tưởng cực cùng của Phật giáo, nó biểu hiện lên Đức Phật đối
với sự quan tâm cùng cực của vận mạng nhân loại. Con người một lúc thông qua
Phật pháp tu hành đạt đến cảnh giới lý tưởng này, sanh mạng bèn từ hữu hạn,
tương đối và một mặt tầng cá biệt, đề thăng đến vô hạn, tuyệt đói và mặt tầng
phổ biến, nhân sanh liền từ nhiễm tạp, thống khổ và tầng thứ xấu ác, thăng tiến
đến thanh tịnh, an lạc và tầng thứ viên mãn hoàn mỹ.

Tam pháp ấn
Tứ đế thì tương ứng nhau: chư hành vô thườngKhổ đế; nhân sanh khổ ở nơi
không biết chư pháp vô ngã, là Tập đế; Niết bàn tịch tĩnhDiệt đế; biết
ngã
vô thường mà phấn khởi tu hành tức là Đạo đế.

Thích Viên
Duy dịch