Trung Đạo Của Đức Phật

0
31

TRUNG ĐẠO CỦA ĐỨC PHẬT
Tâm Lý Trị Liệu của Phương Tây
(The Buddha’s Middle Way and Western Psychotherapy)
Nguyên tác: Dr Shanti Tayal
Việt dịch: Trần Như Mai

buddhism_and_science_0buddhism_and_science_0Mục đích
của tâm lý trị liệu là để chữa trị, thoa dịu và làm vơi bớt nỗi khổ đau của
những người đang bị dày vò bởi nhiều vấn đề nan giải trong cuộc sống, hay những
người được chẩn đoán là đang mắc bệnh tâm thần. Về điểm này, một số câu hỏi sau
đây vẫn chưa có sự đồng thuận: tâm lý trị liệu là gì, bệnh tâm thần là gì, kỹ
thuật chữa trị ra sao, mục đích để làm gì, làm thế nào để chữa lành bệnh, hoặc
phương pháp này hữu hiệu ra sao. Nói cách khác, bằng cách đặt những câu hỏi ấy,
chúng ta đòi hỏi sự xác nhận vị trí của phương pháp này trong hệ thống tâm lý
trị liệu của phương Tây.

Duyệt qua các định nghĩa về tâm lý trị liệu
ta sẽ thấy lộ rõ tính chất mơ hồ trong
những nhiệm vụ mà ngành tâm lý trị liệu thường phải thực hiện. Tất cả các định
nghĩa hình như chỉ đồng nhất được một điểm, đó là, tâm lý trị liệu tìm cách đưa
ra môt số giải pháp hay quyết định nào đó về những vấn đề xáo trộn tình cảm hay
rối loạn nhân cách. Có rất nhiều ý kiến khác biệt về phương pháp, tiến trình
thực hiện, mục tiêu và kết quả. Theo Whitaker và Malone (1953), tâm lý trị liệu
là:

 “ Một quá trình quan hệ giữa hai
nhân
, mà trong đó một người sẽ là tác nhân thúc đẩy toàn bộ cơ cấu thích nghi
của người kia bằng một phương cách nào đó để giúp cho người kia nâng cao mức độ
thích nghi với cuộc sống ”.

Định
nghĩa của Wolberg (1954) mang tính mô tả nhiều hơn:

 Tâm lý trị liệu là một hình thức chữa
trị các chứng bệnh mang bản chất tình cảm, trong đó một chuyên gia tâm lý sẽ cố
ý
thiết lập quan hệ chuyên môn với bệnh nhân nhằm mục đích loại bỏ, làm thay đổi
hay làm suy giảm những triệu chứng hiện có, hoặc điều hòa những kiểu ứng xử rối
loạn
, và khuyến khích sự nẩy sinh và phát triển nhân cách tích cực ”.

Những định nghĩa kiểu
này mặc dù mang tính chất toàn diện và chuyên môn, vẫn không giúp chúng ta trả
lời
những câu hỏi nêu trên. Chúng đặt thêm nhiều vấn đề khác thay vì đưa ra lời
giải đáp. Định nghĩa của Wolberg nói rằng nhà chuyên môn tâm lý thiết lập một
mối quan hệ với người mắc bệnh tâm thần, nhưng lại hoàn toàn tránh né những câu hỏi như, phương pháp chữa trị
là gì, mối quan hệ giữa nhà tâm lý và bệnh nhân là kiểu quan hệ như thế nào, tại
sao mối quan hệ này lại có thể loại bỏ, làm thay đổi hay làm suy giảm những
triệu chứng đau đớn. Năm 1935, sau khi đặt lại cùng những câu hỏi nêu trên về
tâm lý trị liệu, Geraldine Coster kết luận, “ Chúng ta kinh ngạc khi thấy rằng
hình như không ai biết tại sao phân tích tâm lý lại mang tính chất trị liệu”.
Và sau 35 năm – vào năm 1969 – vị bác sĩ chuyên khoa tâm thần Richard Chessick
than thở về tình trạng đáng buồn của ngành tâm lý trị liệu như sau :

Tuy nhiên, khi kinh nghiệm lâm sàng được
tích lũy ngày càng nhiều và kiến thức nhận được qua sách báo ngày càng sâu rộng
thì nhà tâm lý trị liệu có đầu óc suy nghĩ bắt buộc phải đi đến kết luận đáng
tiếc là: nói một cách đơn giản là không có sự đồng thuận nào về một số vấn đề
then chốt cả”.

Ông còn nói thêm:” Chỉ vì trong
tâm lý trị liêu, trường hợp chữa trị theo kiểu mò mẫm đã xảy ra nhiều hơn con
số mà các nhà chuyên môn đã thừa nhận”. Toàn bộ ngành tâm lý trị liệu đầy rẫy
cả chủ nghĩa truyền thống, giáo điều và những qui định cứng nhắc về mặt chuyên
môn kỹ thuật.

Đề tài về kỹ thuật và phương pháp của
ngành tâm lý trị liệu quả thực là một khu rừng hoang, nơi mà các loại cây cỏ
dược liệu trị bệnh mọc sát cánh với loài cỏ dại vô bổ, đôi khi còn độc hại nữa.
Người ta sẽ cảm thấy lúng túng khó xử trước một loạt những phương pháp chữa trị
gây ấn tượng mạnh như – phương pháp của Freud, phương pháp Freud-kiểu-mới,
phương pháp của Jung, của Alder, cho đến phương pháp hiện tại nhằm huấn luyện
tính nhạy cảm, phương pháp thành lập các nhóm gặp gỡ, và các cuộc chạy việt dã
trần truồng. Những hệ thống chữa trị này đã phát triển một thứ ngôn từ riêng
biệt của họ mang đặc tính mập mờ, khuôn sáo, và chủ trương tối nghĩa. Hình như
các nhà tâm lý học trị liệu cố ý nói bằng thứ ngôn ngữ thật khó hiểu thay vì
dùng thứ ngôn ngữ để giao tiếp.

Phần nhiều những gì đã được thực hiện
trong ngành tâm lý trị liệumột sinh hoạt cằn cỗi, nhằm mục đích tạo ra một
bầu không khí khả kính đầy tính khoa học đối với những nhiệm vụ trước mắt.
Những điều phiền toái của tinh thần khoa học ấy có khuynh hướng phô bày hình
thức bề ngoài
để cho mọi người thấy rằng tâm lý trị liệu hiện đại có những mục đích
rất rõ ràngdứt khoát. Nhưng sự thật thì trái lại, chúng rời rạc, thô sơ và
nông cạn, và đặt nền tảng trên một khái niệm hổn độn về mục đích của đời người.

Mặc dù tâm lý trị liệu phương Tây rõ ràng là có tính phổ biến và thường đưa ra những lời tuyên bố cường điệu, ở phương
Tây, người ta cũng chú ý đến thái độ của quần chúng ngày càng tỏ ra bất mãn
thất vọng trước những tiên đoán và kết quả của phương pháp này.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rất
nhiều người phương Tây đang quay về với triết lý, tôn giáophương pháp thưc
hành thiền định của phương Đông. Họ tìm thấy một điều gì đó thật hùng hồn, đầy
tính thuyết phục, một điều gì thật xác đáng trong thông điệp của Đức Phật. Họ
tìm thấy trong Phật giáo một con đường giải thoát đích thực khỏi những khổ đau
hệ lụy của đời sống này. Đức Phật đã thấy rõ việc chữa trị nỗi đau khổ của
chúng sanh theo một phương pháp tâm lý độc đáo, bằng cách thông hiểu tinh thần,
nội tâmý chí của con người. Ngài cũng đã chỉ rõ con đường diệt khổ. Con đường
này, phương pháp này, kỹ thuật này được gọi là Trung Đạo. Ngài đã chỉ rõ con đường
mang lại lợi lạc cho đa số chúng sanh, mang lại hạnh phúc cho đa số chúng sanh,
xuất phát từ lòng thương tưởng đối với thế gian này.

Trong
bài thuyết pháp đầu tiên, Đức Phật đã mô tả Trung Đạo như sau:

Này các tỷ kheo, có hai cực đoan
hàng xuất gia cần phải tránh. Thế nào là hai ? Một mặt là tham đắm dục lạc, một
lối sống thấp hènvô ích, không xứng đáng phẩm hạnh của bậc thánh, đó là con
đường
của thế gian; mặc khác là dấn thân theo đuổi lối tu khổ hạnh, như vậy là đau
đớn
vô ích, không xứng đáng phẩm hạnh của bậc thánh.

Bằng cách từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai đã
chứng ngộ Trung Đạo, là con đường đem lạị viễn kiến, đem lại tri kiến, đem lại an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết
Bàn
.”

Trung Đạo là nguyên lý căn bản nhất của
Phật giáo. Đây là con đường có thể dẫn dắt con người đến mục đích tối hậu của
cuộc sống – là Niết Bàn. Tri kiến sáng suốt của Đức Phật về việc chẩn đoán
chữa trị những căn bệnh của thế gian có thể thấy rõ trong Bốn Chân Lý Cao
Thượng (Tứ Diệu Đế ):

 – Chân lý về Khổ

 – Chân lý về Nguồn Gốc của
Khổ.

 – Chân lý về sự Diệt Khổ.

 – Chân lý về Con Đường đưa đến
Diệt Khổ

Bốn Chân Lý Cao Thượng của Phật giáo
phương tiện nhờ đó con người nhận thức chân lý thứ nhất là Khổ đế ( Duhkha-satya),
hiểu rõ chân lý thứ hai là Tập đế ( Samudaya-satya), thực hành chân lý thứ ba
Diệt đế ( Nirodha-satya), và thành tưụ chân lý thứ tư là Đạo đế, để chứng đắc
Niết Bàn ( Nirvana). Vì vậy Bốn Chân Lý Cao Thượng được gọi là Đạo, hay Thánh
Đạo
: tiếng Pali là Magga hay Ariya-magga, và tiếng Sanscrit gọi là Mărga hay Ărya-mărga
(Gard, 1961).

Chân lý Cao Thượng về Con Đường đưa đến Khổ Diệt chính là Bát Chánh Đạo. Bát Chánh
Đạo
này, đem áp dụng vào điều kiện sống đương
đại, là một toa thuốc chắc chắn đem lại một cuộc sống khéo thích nghihạnh
phúc
. Những lời giáo huấn của Bát Chánh Đạo lập thành ba nền tảng của một cuộc
sống lành mạnh về tinh thần, không những cho Phật tử, mà cho tất cả mọi người.

1. Tác phong đạo đức (GIỚI
):

a. Chánh ngữ

b. Chánh nghiệp

c. Chánh mạng

2. Kỷ cương tinh thần
(ĐỊNH):

a. Chánh tinh tấn

b. Chánh niệm : thân – thọ – tâm -pháp

c. Chánh định (dhyana): ly dục – ly hỷ –
trú xả – diệt thọ

( xả niệm thanh tịnh )

3. Phát
triển trí tuệ (TUỆ ):

a. Chánh tri kiến

b. Chánh tư duy .

Con đường này là một lối sống mà mỗi người
cần tuân theo, thực hành và phát huy. Tôi xin phép được nói rằng đây là vấn đề
kỷ luật tự giác, là một phương pháp tự chữa trị về thân, khẩu, ý. Đây là một
phương thức để tự trau dồi bản thân. Đây là toa thuốc để phòng ngừa những căn
bệnh mãn tính của cuộc sống. Bạn có thể có đức tin hoặc không. Bạn có thể thích
hoặc không thích cầu nguyện. Không cần có thờ phụng, không cần có nghi lễ.

Con đường này là một lối sống – một quan điểm
hành động. Nó không đòi hỏi chúng ta từ bỏ thế giới này. Nó chỉ đòi hỏi chúng
ta
thay đổi cách tiếp cận và có một thái độ khác đối với cuộc sống và môi
trường. Như vậy, qua việc rèn luyện kỷ luật tự giác chặt chẽ, đây là con đường
tự nhận thức và phát triển bản thân.

Trị liệu pháp “chỉ thành công bao lâu mà
nó giúp bệnh nhân giảm bớt lòng hoài nghi về sức khỏe thể chất của họ, giúp họ
loại bỏ cảm giác lo ngại bất an giữa họ với người khác, và nuôi dưỡng niềm tin
của họ vào triết lý tôn giáo mang tính chất thoa dịu tâm hồn” ( Masserman.
1971).

Source : Buddhism and Science
Book edited by Dr Buddhadasa P. Kirthisinghe