Bằng Tất Cả Tấm Lòng

0
34
BẰNG TẤT CẢ TẤM LÒNG
Thích Chân Tính
Nhà Xuất Bản Thuận Hoá – Huế 1996

MỤC
LỤC

blank1)
Quét sân chùa
2)
Hồi chuông báo tử
3)
Cảm nghĩ từ một pho tượng
4)
Một cử chỉ khó quên
5)
Đeo mắt kính
6)
Bằng tất cả tấm lòng
7)
Quỷ thần hai vai chứng giám
8)
Chắp tay xá chào
9)
Mong ước đầu Xuân
10)
Lời đáp từ buổi lễ quy y
11)
Bác Tửu
12)
Vị Sư hạnh đầu đà
13)
Nếu chẳng một phen


1/
Quét
sân chùa

Tiếng
đại hồng chung vang lên trong không gian tĩnh mịch. Trên tường,
đồng hồ cũng vừa điểm bốn tiếng. Cảnh nội tự Vĩnh
Nghiêm
chuyển mình thức giấc sau một đêm dài yên nghỉ.
Chúng Tăng an cư kiết hạ chuẩn bị vân tập Trai đường
niệm Phật Cảnh Sách.

Sau
thời công phu khuya, tôi được phân công quét chùa. Tay cầm
chiếc chổi chà, tôi nhẹ bước ra sân và leo lên cầu thang
phía Đông lang chính điện. Gió nhè nhẹ thổi, không khí buổi
sáng thật trong lành. Cây bông sứ cạnh chân cầu thang đưa
mùi thơm dìu dịu. Cảnh trí nội tự thật tuyệt đẹp. Tôi
dừng lại để thưởng thức vài phút rồi tiến lên sân thượng.
Trước mắt tôi bây giờ là những chiếc lá vàng nằm rải
rác bừa bãi đó đây, phần lớn là lá si, lá hoa lan và lá
điệp. Tôi bắt tay vào việc ngay và chỉ hơn nửa giờ quét
dọn, sân hành lang trở lại sạch sẽ quang đãng như cũ. Cứ
thế, mỗi buổi sáng tôi quét dọn sạch sẽ, chiều tối rác
lá lại bừa bãi. Do vậy, tôi phải quét dọn hàng ngày.

Sáng
nay, trong lúc làm việc tôi chợt nhớ đến câu chuyện ngài
Châu Lợi Bàn Đặc. Do vì căn cơ ám độn học trước quên
sau, ngài được Đức Phật dạy cho hai chữ “Tảo tuệ”
để làm công án tu tập. Sau khi thấu triệtthực hành
rốt ráo công án này, Châu Lợi Bàn Đặc đã quét sạch phiền
não
si ámchứng ngộ Thánh quả. Bỗng bài kệ của ngài
Thần Tú ngân vang trong ký ức tôi:

Thân
cây Bồ đề

Tâm
như đài gương sáng

Thường
thường
siêng lau chùi

Chớ
để nhiễm trần ai.

Phải
chăng
mỗi người chúng ta là một ngôi chùa? Nếu biết dùng
“Tảo tuệ” quét sạch các rác rưởi phiền não, tham, sân,
si v.v… ra khỏi tâm địa của mình thì không những trang nghiêm
ngôi chùa tự thân, mà còn là chỗ nương tựa, quy kính cho
cả Trời, người.

Boong…
boong… boong…

Tiếng
chuông
báo tới giờ điểm tâm sáng vang lên. Tôi vội vã hốt
rác vào giỏ. Trước khi xuống lầu, tôi đứng lại ngắm
ngôi chùa một lần nữa. Nhìn toàn bộ cảnh trí trang nghiêm
thanh tịnh, tôi cảm nghĩ: Một ngôi chùa dù lối kiến trúc
bên ngoài có tráng lệ bao nhiêu, mà bên trong rêu phủ nhện
giăng, nhang lạnh khói tàn chắc chắn sẽ không gây cho du khách
những cảm tình lưu luyến sau khi tham quan vãn cảnh. Cũng thế,
nếu mỗi người chúng ta chỉ biết trau chuốt trang điểm
bên ngoài cho xinh đẹp, mà không lo gột rửa nội tâm, thì
chẳng qua chỉ là lớp sơn hào nhoáng che đậy sự ruỗng mục
bên trong mà thôi.

Gió
vẫn nhè nhẹ thổi. Mùi hương sứ thoang thoảng trong không
gian
. Tôi cầm chổi thong thả bước xuống cầu thang, vừa
đi vừa ngâm bài kệ:

Siêng
quét dọn sân chùa

Mỗi
ngày phước huệ sanh

Tuy
chưa có khách đến

Nhưng
cũng có Thánh đi.

***

2/
Hồi
chuông báo tử

Reng…
Reng… Reng…

Đang
chập chờn trong giấc ngủ mỏi mệt sau khi từ bệnh viện
Chợ Rẫy trở về, chợt nghe tiếng chuông điện vang rền
phía trước cửa chùa, tôi liền bật người ngồi dậy, linh
tính báo cho biết một biến cố kinh hoàng sẽ xảy đến với
mình.

Dòng
ký ức…

Một
hôm vừa đi học về đến cổng chùa, con liền nhận được
lá thư ba gởi. Lòng hồi hộp, con bước vội vào phòng và
bóc lá thư ra xem. Con lâng lâng sung sướng khi đọc từng dòng
chữ yêu thương, từng ý nghĩ hướng thượng xuất trần của
ba mà tưởng đó là một giấc mơ. Ba ơi! Đã từ lâu con hằng
mong ước và khuyến khích ba hướng tâm về lý tưởng giải
thoát
, thế nhưng mọi sự cố gắng của con đều bất lực
trước sức mạnh lợi danh cuộc đời. Hôm nay, bỗng nhận
được tin ba quyết chí sẽ từ bỏ thế sự, nguyện sống
đời phạm hạnh thiêng liêng. Con vui mừng cảm động biết
bao. Nhưng…

Thời
gian
cứ âm thầm lặng lẽ trôi qua. Đã mấy mùa sen nở và
bao cánh nhạn đưa thư, con chỉ nhận những lời hồi âm của
ba với những từ ngữ “bận” “kẹt”, “chưa giải quyết
xong”… Con rất thông cảm đợi chờ và luôn thúc giục ba
hãy đại hùng đại lực cắt đứt trần duyên, dũng tiến
bước lên con đường xuất gia giải thoát. Con vẫn hy vọng
một ngày không xa, cha con ta sẽ sum họp dưới một mái chùa,
cùng tắm mình trong ánh từ quang của Đức Phật, cùng khích
lệ nhau đi suốt lộ trình giác ngộ tâm linh. Nhưng ba ơi!
Chùm bọt trên biển cả ai hay phút giây tan vỡ? Dây đằng
bên bờ sông ai biết lở lúc nào? Thân tứ đại sinh có hạn,
tử vô kỳ biết đâu mà chờ với
đợi?
Rồi, một hôm con bàng hoàng đau đớn khi nghe tin ba đau nặng,
bệnh trạng mỗi lúc một trở nên nguy cấp. Ngày ba được
chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy chữa trị, hai cha con chỉ
còn hiểu nhau qua đôi mắt. Trong ánh mắt ba chứa đầy nuối
tiếc; trong ánh mắt con tràn ngập đau thương. Ba nằm nhìn
con chăm chú muốn tâm sự thật nhiều, nhưng không làm sao
thốt được nên lời. Trong phút giây im lặng thiêng liêng
này, con chợt nghe tiếng lòng của ba qua từng cơn nấc nhỏ,
rồi từng giọt, từng giọt lệ tràn ra hố mắt, lăn dài
trên gò má nhô xương. Con chết lặng cả người, cúi đầu
nuốt lệ tôn trọng sự trở về thầm kín của ba mà trong
lòng như đứt ruột xé gan.

Thế
mà giờ này…

Reng…
Reng… Reng…

Tôi
bước vội ra mở cửa phòng và đoán được những gì đã
xảy ra trong lúc ngoài trời còn đầy ánh sao khuya. Tôi đứng
im lặng ngậm ngùi than cho lẽ sinh ly tử biệt, khi nghe tin
người cha yêu quý đã ra đi không hẹn ngày trở lại.

“Ô
hô! Tam thốn khí tại thiên ban dụng

Nhất
đán vô thường vạn sự hưu” ([1])

Thấm
thoát
đã ba Thu trôi qua, cứ mỗi lần nghe tiếng chuông điện
reo, tôi lại giật mình kinh hãi, nhớ đến biến cố đau thương
nhất đời mình. Ôi! Tiếng chuông báo tử, tiếng chuông cắt
đứt tình phụ tử thiêng liêng, tiếng chuông vang vọng cảnh
tỉnh
hồn ai đang còn đắm say trong mộng ảo ái hà, hãy mau
mau:

Trần
duyên
sớm rũ lên thuyền giác

Nấn
vô thường một kiếp qua.

 

3/
Cảm
nghĩ từ một pho tượng

Được
tặng một pho tượng chú tiểu ngồi tựa mình ngủ gục trên
chiếc mõ, tôi thích quá. Cái nét mặt ngây thơ hồn nhiên
của chú đã mau chóng hấp dẫn tôi say mê ngắm nhìn. Trong
lúc thưởng thức tôi tự hỏi tại sao mình lại cảm xúc
một tác phẩm nghệ thuật nhanh đến thế, trong khi trình độ
nhận thức của mình còn non kém? Theo tôi hiểu, một tác phẩm
văn học cũng như một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, không
phải ai cũng cảm thụ hết giá trị của nó, mà còn đòi
hỏi ở trình độ hiểu biết của mỗi cá nhân. Nỗi băn
khoăn ấy đã được văn hào Nguyễn Du thốt lên cách đây
gần hai thế kỷ:

“Bất
tri tam bách dư niên hậu,

Thiên
hạ
hà nhân khấp Tố Như?” ([2])


cùng độ rung với tác giả, người đọc mới thâm nhập tác
phẩm
một cách trọn vẹn được. Điều mà các cụ ngày xưa
đã nói: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”,
hoặc thuật ngữ ngày nay là “Cùng một tần số”.

Về
những điểm đó có lẽ tôi chưa đủ điều kiện để cảm
thụ một tác phẩm nghệ thuật. Mà ở đây, khi nhìn pho tượng
tôi như người đánh mất vật báu nay bỗng gặp lại. Phải
chăng
khi sức khỏe suy kém đi người ta mới thấy sức khỏe
là quý? Và khi giấc ngủ bất an người ta mới trân trọng
một giấc ngủ bình an!

Chú
tiểu
với đôi má phúng phính nổi trên gương mặt tròn trịa,
hai mắt nhắm kín, đầu nghiêng bên phải gác trên chiếc mõ.
Với tư thế này có lẽ trong lúc tụng kinh, vì buồn ngủ
chịu hết nổi, chú đã bỏ dùi xuống và nhanh chóng “thâu
thần nhập định”. Mặc cho thế sự thăng trầm, dòng đời
trôi chảy; mặc cho chú chuột nhắt đang gặm túi áo mình,
chú cứ tha hồ mà ngủ, ngủ một cách trọn vẹn. Trên gương
mặt không một nét ưu tư phiền bận về những gì đã và
đang xảy ra chung quanh mình. Thật sung sướng biết bao một
giấc ngủ an lành.

Ăn
và ngủ là hai nhu cầu tất yếu của nhân loại. Cho nên ngủ
không phải là cái gì xa lạ với con người. Tuy nhiên, để
có được một giấc ngủ bình an không phải dễ. Vì giấc
ngủ ngoài chức năng quân bình cơ thể sau một ngày hoạt
động
, nó còn phản ánh ước vọng và hành động của con
người
khi thức. Do vậy, người ta không thể có được giấc
ngủ an khi trong tâm chất chứa toàn những điều bất an. Cái
hiện tượng trằn trọc, những cơn ác mộng hãi hùng trong
giấc ngủ là kết quả đương nhiên của vọng tâm điên đảo,
thất tình lục dục. Để được tự tại trong khi thức, an
lành
trong giấc ngủ, phương pháp tuyệt diệu nhất là “Viễn
ly điên đảo mộng tưởng”. Bấy nhiêu thôi. Chỉ sáu chữ
đó nếu thực hành đến nơi đến chốn thì cái “cứu cánh
Niết Bàn” chẳng còn xa tít trên chín từng mây xanh nữa.
Vậy mà mấy ai là người có đủ nghị lực để “Viễn
ly điên đảo” trong cái thế giới đầy cám dỗđảo
điên
này?

Chẳng
lẽ chỉ có pho tượng chú tiểu ngủ gục trên chiếc mõ?

 

4/
Một
cử chỉ khó quên

Như
mọi Chủ nhật, sáng nay đang làm việc tại Thư viện Thành
hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh, tôi nhìn ra cửa và thấy Hòa
thượng
Thích Thanh Kiểm cùng với một vị sư người Nhật
từ trong nhà khách của Trường Cơ bản Phật học bước ra,
theo sau là một đoàn người. Tôi nhận ra ngay đây là phái
đoàn
Phật giáo Nhật Bản sang thăm Việt Nam nhân dịp lễ
Phật Đản
2533 vừa qua. Thấy họ đang tiến về phía mình,
tôi đoán là họ sẽ ghé vào thăm Thư viện nên đứng dậy
chuẩn bị đón tiếp.

Đúng
như dự đoán, tôi ra chào đón và hướng dẫn đoàn vào tham
quan Thư viện. Vì Hòa thượng Thanh Kiểm nói được tiếng
Nhật nên đã giới thiệu trực tiếp với quý vị trong đoàn
về kinh sách hiện có tại Thư viện. Trong lúc tham quan, dường
như họ chú ý nhiều đến bộ Tục Tạng, Đại Tạng của
Trung Quốc và bộ Nam Truyền của Nhật Bản. Sau khi xem hỏi
kỹ những bộ kinh này, đoàn dạo quanh một vòng gian ngoài
rồi từ từ tiến sâu vào cuối phòng và dừng lại trước
một tủ kính đựng kinh sách bằng chữ Hán loại cổ bản.
Theo đề nghị của vị sư Nhật, Hòa thượng Thanh Kiểm mở
cửa tủ và rút ra quyển “Giới Đàn Tăng” đưa cho họ
xem. Một ông cư sĩ Nhật lấy sổ tay ra vừa hỏi vừa ghi
chép. Sau khi xem sơ hình dáng quyển sách, vị sư trao lại cho
tôi. Vì chồng sách quá chật nên khi cất vào chỗ cũ có hơi
khó khăn. Để giữ phép lịch sưï trong lúc đoàn đang coi,
tôi tạm để cuốn sách qua một bên rồi đứng về một phía.
Tôi có tính hơi lạ là hễ khâm phục một quốc gia nào rồi,
thì con người của quốc gia đó – không biết cá nhân họ
như thế nào – khi qua Việt Nam tôi đều có cái nhìn thiện
cảm
. Do đó, sưï hiện diện của vị sư Nhật hôm nay khiến
tôi chú ý rất nhiều. Vì thế một cử chỉ rất nhỏ của
ông tôi đều không bỏ sót.

Trong
lúc Hòa thượng Thanh Kiểm đọc những tên sách cho vị cư
sĩ người Nhật chép, tôi ngạc nhiên thấy vị sư cứ chăm
chú, thấp thỏm như muốn lấy một vật gì trong tủ. Có lẽ
ngài muốn xem một cuốn sách nào khác, nhưng vì ngại nên
không tiện hỏi chăng? Tuy nói chuyện trao đổi với nhau thật
vui vẻ, nhưng thật lạ, chốc chốc vị sư lại đưa mắt
nhìn
về phía tủ kinh với dáng vẻ như chưa hài lòng một
điều gì đó. Và khi Hòa thượng Thanh Kiểm mở tủ lấy ra
một quyển sách khác theo đề nghị của ông cư sĩ Nhật,
thì lập tức vị sư cũng định đưa tay vào tủ. Rồi vì
Hòa thượng Thanh Kiểm đã lấy sách ra nên vị sư bèn rụt
tay trở lại. Thấy thế tôi càng thắc mắc và định nhờ
người thông dịch hỏi xem vị sư cần coi quyển sách gì,
tôi sẽ lấy giúp, nhưng rồi lại thôi.

Sau
khi trao đổi với nhau đã thỏa mãn, Hòa thượng Thanh Kiểm
cất quyển sách vào chỗ cũ, đóng cửa tủ lại chuẩn bị
trở ra. Lúc này vị sư Nhật mắt vẫn không rời tủ kinh
và bỗng nhiên ngài đưa tay khẽ mở tủ, rút ra quyển Giới
Đàn
Tăng mà tôi để tạm qua một bên khi nãy, cố gắng nhét
vào đúng chỗ của nó. Tôi chợt lặng người trước cử
chỉ
rất bình thường mà đáng phục này và tìm ra lời đáp.
Cũng như tôi trước đó, vị sư loay hoay mãi vẫn không nhét
được. Tôi thấy vậy liền đỡ lấy quyển sách và làm nhiệm
vụ
của mình. Đợi khi quyển Giới Đàn Tăng trở về đúng
vị trí cũ vị sư Nhật mới cất bước, lúc này trên gương
mặt đạo mạo của ông hiện lên những nét vui tươi thỏa
mãn
. Trước đây tôi chỉ nghe về đất nước và con người
Nhật Bản. Hôm nay tôi mới thấy và hiểu họ nhiều hơn.

Cử
chỉ
của vị sư Nhật đã gợi nhớ lại trong tôi kỷ niệm
thời niên thiếu khi còn ở tại gia. Ông thân tôi có tính
sạch sẽ, mỗi khi đi làm về tới nhà thấy đồ đạc bừa
bãi
hoặc dơ bẩn, ông liền tự tay đi thu dọn. Tuy nhiên,
không phải việc làm ấy của ông dễ dàng để chúng tôi
quen thói lười biếng. Cứ mỗi lần như vậy, vừa làm ông
vừa “lẩm bẩm” rất khó chịu. Thế rồi để khỏi bị
“giáo dục”, cứ mỗi lần ông sắp đi làm về, chúng tôi
đều phải lo dọn dẹp trong nhà cho thật gọn sạch. Và bây
giờ đến lượt tôi, có lẽ đã thấm nhuần tính sạch sẽ
đó, nên mỗi lần về chùa, thấy bừa bãi lại cũng… lẩm
bẩm và rồi tự tay đi dọn theo thói quen “cha truyền con
nối”.

Khi
xuất gia tôi cũng đã ghi sâu câu “lấm rửa lệch kê” mà
thầy đã huân tập hàng ngày cho tôi. Mỗi lần đứng dậy
mà không xếp ghế lại chỗ cũ là bị rầy. Đi ngang qua một
vật gì thấy lệch xéo mà không chỉnh đốn lại ngay ngắn
là bị la v.v… Đại để lấy câu “lấm rửa lệch kê”
làm phương châm hành động. Nếu sai cứ bị nghe “thuyết
pháp” dài dài. Và để trở thành thói quen, tôi cũng phải
dày công “tu luyện”. Thật ra, thói quen ấy là kết quả
của sự sợ bị “chỉnh” chứ chẳng phải tu luyện
cả.

Suy
mình ra người. Để có được một cử chỉ rất bình thường
như vị sư Nhật vừa qua, theo tôi không phải ngẫu nhiên,
mà chính là một thói quen đã được rèn luyện lâu ngày.
Từ điều này tôi liên tưởng đến các Thiền sư, những
vị đã hoàn toàn làm chủ lấy mình, hẳn mỗi nụ cười,
mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ… đều tỏa ra sưï bình an, tự
tại
tuyệt hảo. Ôi, ba mươi hai tướng tốt và tám mươi
vẻ đẹp của Đức Phật đâu phải chuyện hão huyền!

Vị
sư Nhật đã rời khỏi Thư viện và sẽ trở về nước trong
nay mai. Chắc chắn thời gian sẽ làm phai mờ hình ảnh vị
sư trong ký ức tôi, nhưng cử chỉ đáng quý ấy sẽ mãi mãi
khắc sâu vào tận đáy lòng.

 

5/
Đeo mắt kính

Nếu
tôi không lầm, mắt kính được sáng chế ra nhằm mục đích
giúp cho những người mà cặp mắt bị sự cố. Dần dần
nó đã chuyển thành công cụ bảo vệ đôi mắt, rồi tiến
đến tạo mốt cho gương mặt. Do vậy đã có bao nhiêu kiểu
kính ra đời. Có những cặp tạo cho gương mặt thêm dễ thương,
nhưng cũng không ít loại xem càng dị dạng. Nhìn một người
đeo mắt kính, nếu không phải là cận thị, tôi đều nghĩ
ngay anh hay chị đang làm duyên đây! Do đã có thành kiến như
vậy nên việc đeo kính của tôi bây giờ chẳng dễ dàng chút
nào.

Trong
đợt hội diễn vòng sơ kết văn nghệ Phật giáo nghiệp dư,
do Tổ công tác Văn hóa Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh
tổ chức tại giảng đường chùa Xá Lợi, tôi phụ trách
hướng dẫn nhóm Phật tử huyện Hóc Môn lên tham dự. Buổi
chiều đi dự thì sáng hôm đó tôi bị đau mắt đỏ. Để
khích lệ tinh thần các em Phật tử, mặc dù đau mắt tôi
vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tuy có người
cho mượn mắt kính đeo để tránh gió bụi khi đi đường,
tôi vẫn thấy ngài ngại và cầm nó trong tay nhiều hơn là
đeo! Sau buổi hội diễn trở về chùa mắt tôi bị sưng đỏ
lên. Các Phật tử đổ lỗi tại tôi không đeo kính, đi ra
phố nhiều, tiếp xúc với nữ giới v.v… Để mau khỏi bệnh,
từ hôm đó tôi tập đeo kính trước công chúng. Tuy việc
đeo kính là do đau mắt chứ không phải làm duyên như tôi
vẫn thường quan niệm trước đây, nhưng khi gặp ai tôi cũng
giới thiệu cho họ biết trước là mình bị đau mắt đỏ!

Do
Phật sự, tôi đi lại từ thành phố về Hóc Môn bằng xe
Honda rất thường xuyên. Lần nào về đến chùa, mắt tôi
cũng “sản xuất” ra hai cục bụi ghèn! Có hôm, tôi bị
những con vật li ti bay vào mắt làm cay xé, không thể mở
mắt
ra được, tôi phải dừng xe lại dụi mắt, đợi cho
êm êm mới dám đi tiếp. Từ những sự thật trên khiến tôi
phải xét lại quan niệm xấu về việc đeo kính của mình
trước đây. Và khi nhận rõ sự lợi ích của nó rồi, tôi
mong mình có được cặp kính để đeo.

Quả
là Trời cao có mắt. Lòng mong ước đã được cảm ứng.
Một hôm, mở gói quà nhân dịp lễ Vu Lan, tôi ngạc nhiên
khi thấy cặp kính trong đó. Lòng thầm vui, tôi cứ ngắm nhìn
nó mãi.

Mặc
dù đã biết rõ lợi ích của mắt kính rồi, nhưng cái
tưởng
đeo kính để làm duyên chưa bị “loại khỏi vòng
chiến” hoàn toàn, nên tuy có kính trong tay tôi vẫn coi như
là không. Một hôm tôi đánh bạo đem ra xài thử khi đang trên
đường đi từ thành phố về Hóc Môn, nhưng chẳng đơn giản
chút nào. Tôi phải giấu nó vào trong túi xách đợi đi cách
thật xa chùa mới lấy ra đeo và khi về gần đến nơi lại
tháo ra cất vào túi. Nhất là trong lúc đi đường tôi cảm
thấy
mất tự nhiên về cặp kính nơi gương mặt của mình.
Mọi lần, có khi nào tôi quan tâm đến người đi đường
đâu? Thế mà hôm nay tôi thấy dường như ai ai cũng nhìn tôi
đến là lạ. Chẳng may gặp người quen là tôi tháo vội kính
ra và giấu ngay lập tức.

Nghĩ
cũng lạ, có những cái không ai chê trách, chẳng giới luật
nào ngăn cấm, vậy mà chỉ vì một chút lo ngại cỏn con đã
làm mất đi sự tự tại trong hành động. Thú thật, cái câu
“Tâm vô quái ngại, vô quái ngại, cố vô hữu khủng bố”
trong Kinh Bát Nhã tôi đã thuộc làu hơn mười mấy năm rồi.
Ấy thế, cho đến nay tôi vẫn đọc như két chứ chưa ứng
dụng
trọn vẹn câu kinh ấy trong cuộc sống thường nhật
của mình. Do vậy việc đeo mắt kính của tôi chẳng biết
sẽ còn bị “khủng bố” đến bao giờ?


6/
Bằng
tất cả tấm lòng

Ánh
nắng
gay gắt của mùa Hè tháng Tư năm nay vẫn không làm nản
chí các độc giả thường xuyên đến Thư viện Phật giáo
đọc sách. Họ vẫn ngồi yên lặng nhìn chăm chú trên từng
trang giấy mực. Thỉnh thoảng do căng thẳng thần kinh, họ
ngước nhìn ra phía trước, nơi vườn cây cảnh của chùa,
để cho tâm hồn thanh thản hơn, hoặc để suy tư về một
vấn đề gì còn khúc mắc. Đôi khi họ phải đứng dậy
đi dạo quanh vườn một vòng cho thư giãn rồi trở lại chỗ
tiếp tục nghiên cứu. Mặc dù trời nắng gắt, nhưng gió
vẫn nhẹ thổi đều vào Thư viện mang theo hơi nóng và mùi
thơm
dìu dịu của bông sứ trắng trồng cạnh lầu chuông.

Một
cô gái tuổi trạc đôi mươi, gương mặt trái xoan tươi sáng,
nước da ngăm đen, mặc chiếc áo sơ mi ngắn tay và chiếc
quần Jean xanh đã bạc màu, đứng dậy bước ra sân và đi
dạo. Đang thong thả bước từng bước một, bỗng cô gái
khựng lại và nhảy vào sân cỏ khi nhìn thấy hai con chim sẻ
đang lảo đảo bên gốc cây cau cảnh. Thấy người đến,
đôi chim hoảng sợ đập đập đôi cánh cố thoát thân, nhưng
không tài nào bay nổi và đã nằm gọn trong tay cô gái một
cách dễ dàng. Chúng thở mệt nhọc yếu ớt với đôi mắt
lờ đờ mất thần. Đoán được việc gì phải làm trong lúc
nguy cấp này, cô bước vội ra khỏi sân cỏ, đi đến bên
vũng nước nơi chiếc vòi tưới cây bị thủng đang chảy
đọng trên nền sân. Tôi nhìn thấy biết ngay những con chim
vừa được phóng sinh, do bị nhốt lâu nên đã kiệt sức.
Thế rồi cô gái ngồi cạnh vũng nước, đặt một con chim
xuống đất, cầm một con bên tay trái, tay phải nhúng vào
vũng nước rồi đem vuốt lên mặt chim, động tác thật mềm
mại dịu dàng, như bàn tay người mẹ hiền chăm sóc đứa
con thơ trọng bệnh. Cô gái khẽ vạch mỏ chim ra nhỏ từng
giọt nước vào miệng, nó vừa nuốt vừa lắc đầu ra vẻ
tỉnh táo. Mỗi lần làm xong một động tác, cô đưa tay vuốt
vuốt lên mình chim để an ủi vỗ về, thỉnh thoảng lại
đưa lên sát miệng thì thầm vào tai nó những câu gì đó
có vẻ rất chân tình. Mồ hôi đã ướt đẫm lưng áo, cô
gái vẫn ngồi đấy, chăm chú săn sóc đôi chim dưới ánh
nắng
cháy bỏng của mùa Hè.

Trên
nền trời trong xanh, thỉnh thoảng vài cụm mây trắng lơ lửng
trôi. Gió khẽ lay động cành cây. Một bông sứ trắng lìa
cành rơi bên cạnh. Cô gái vẫn thản nhiên ngồi như không
có chuyện gì xảy ra.

Lát
sau, cô gái đứng dậy, cầm hai con chim đi vào. Đến cửa
Thư viện cô rụt rè nhìn vào chỗ tôi ngồi để dò xét.
Lúc ấy tôi nhanh chóng quay mặt sang chỗ khác ra vẻ như không
hề biết một tí gì về việc làm của cô. Tôi hiểu mình
phải nên hết sức tế nhị trong lúc này để tránh làm ngăn
trở thiện tâm của cô gái (vì tôi là thủ thư). Cô liền
rón rén tiến vào một góc phòng, khẽ đặt hai con chim trên
nền gạch bông rồi trở lại chỗ cũ ngồi đọc sách. Thật
ra cô chỉ ngồi đó để nghỉ mệt và theo dõi tình hình sức
khỏe
đôi chim.

Khi
chuông đồng hồ điểm mười một tiếng báo hiệu hết giờ,
cô gái đem hai con chim ra ngoài. Đến bên gốc cây cau cảnh,
cô đặt một con trên sân cỏ, con kia thì tung lên trên không,
chim bay lảo đảo một chút rồi đậu trên cành cây. Sau đó,
cô cúi xuống nhặt xác con chim còn lại, đem đến cạnh bờ
tường, moi đất chôn. Mọi việc xong xuôi, cô gái dắt xe
đạp đi ra. Trước khi về cô còn ngoái nhìn lại nơi con chim
vừa mới chôn như thầm thương tiếc cho số phận bất hạnh
của nó.

Một
bông sứ trắng lại lìa cành và rơi bên cạnh cô. Nhặt chiếc
bông lên ngắm nhìn và như nhận ra được điều gì từ đấy,
cô gái mỉm cười, ném bông lên mộ chim rồi leo lên xe đạp
khởi hành.


gái đang khuất dần sau cổng tam quan chùa Vĩnh Nghiêm, để
lại trong lòng tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp. Trong Thư viện
bây giờ chỉ còn lại mình tôi với bao cảm xúc. Quả là
có những việc hết sức bình thường tưởng chừng như dễ
làm, nhưng không phải ai cũng làm dễ.

Mong
ước
sao trong cuộc sống của mình sẽ làm được những việc
thiện
nhỏ, thật nhỏ thôi, nhưng bằng tất cả tấm lòng
trọn vẹn.


7/
Quỷ
thần
hai vai chứng giám

Cây
Bồ đề
to lớn sừng sững phía trước cửa chùa. Những chiếc
lá hình trái tim sum suê xanh tươi đang nhẹ nhàng lay động.
Tiếng dế nỉ non hòa trong không gian tĩnh mịch. Những vì
sao đang hiện rõ trên nền trời xanh thẫm. Cảnh vật chìm
dần vào bóng đêm. Bên cội Bồ đề, dưới ánh sáng mờ
nhạt của ngọn đèn tròn, tượng Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni
ngồi uy nghiêm. Quang cảnh đã gợi lại hình ảnh sống
động
cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, nơi gốc cây Pippala,
Sa môn Cù Đàm đang ngồi trầm tư mặc tưởng.

Một
chiếc xe đạp dừng lại, cậu bé khoảng mười bốn tuổi
xuống xe dẫn bộ qua khỏi nơi Đức Phật ngồi. Khi em vừa
định lên xe đi tiếp thì tôi từ một gốc cây bông sứ cạnh
đó bước ra đón đường hỏi chuyện.

– Em
đi đâu về tối vậy?

Hơi
ngạc nhiên trước sự xuất hiện đột ngột của tôi, em
lúng túng đáp:

– Thưa…
Thưa thầy, con đi mua thuốc cho má con.

– Má
em bệnh gì vậy?

– Dạ,
má con bị cảm sốt.

Biết
em đang vội về nên tôi vào đề ngay:

Thường
thường
vào ban đêm những người qua lại nơi đây đều chạy
xe luôn. Lâu nay tôi để ý chỉ có một mình em là xuống xe.
Nhất là hôm nay, trong khi má đau cần thuốc gấp như vậy,
tại sao em không chạy luôn mà lại xuống xe dẫn bộ?

– Dạ,
thưa thầy tại vì con làm theo đúng tấm bảng này.

Cậu
bé đưa tay chỉ tấm bảng đen đề những chữ trắng “NƠI
TÔN NGHIÊM, YÊU CẦU XUỐNG XE DẪN BỘ”.

Tôi
mỉm cười nói:

– Biết
rồi cậu bé ơi! Nhưng nhiều người nói ban đêm Phật ngủ.
Còn chúng Tăng trong chùa thì đi nghỉ cả rồi, có ai thấy
đâu mà sợ la rầy.

– Dạ,
thưa thầy, má con nói là người ta có quỷ thần hai vai chứng
giám
. Ban ngày hay ban đêm gì cũng vậy, nếu mình làm sai quỷ
thần
đều ghi chép đầy đủ. Mình có dối người khác được
chứ không dối quỷ thần hai vai của mình được đâu thầy.

– Vậy
hả? Thế là em vì sợ quỷ thần hai vai ghi chép nên không
dám làm sai lời tấm bảng này phải không?

Cậu
gật đầu dạ rồi vội vã cáo từ và lên xe.

Do
không ý thức nơi tôn nghiêm, một số người qua lại trong
khuôn viên chùa, trước tượng Phật, cứ phóng xe tự nhiên.
Hơn ba tháng nay chùa đã cho dựng tấm bảng cấm ấy để
nhắc nhở. Sự xuất hiện của tấm bảng đã giúp họ biết
lễ độ khi đi ngang qua nơi thờ phụng và nếu ai cố tình
vi phạm sẽ bị chúng Tăng nhắc nhở. Thế nhưng công hiệu
của tấm bảng chỉ được một vài tuần đầu. Dần dần,
mỗi lần chạy xe ngang qua họ đều ghé mắt vào chùa quan
sát
coi có ai để ý gì không, nếu có thì chấp hành tốt
xuống xe dẫn bộ, còn không thì tiếp tục hành trình trên
con ngựa sắt. Dường như họ chỉ sợ người trong chùa thấy
chứ không tôn trọng tấm bảng cấm. Cũng giống như đến
ngã tư đường người ta không nhìn đèn đỏ mà cứ nhìn
xem có anh công an không! Đã chạy vào đường ngược chiều
không sợ nguy hiểm về tai nạn xe cộ mà lại sợ cảnh sát
giao thông! Hình như phần đông người ta chỉ sống bằng hình
thức
bên ngoài nhiều hơn là sống thực với lòng mình. Họ
không tin sợ ở chính mình mà chỉ sợ những thứ bên ngoài
mình. Và oái oăm thay, những điều bất hạnh xảy ra nơi cuộc
đời
này lại bắt nguồn từ những người không biết tin
sợ chính mình. Một khi người ta tự dối mình thì cũng sẽ
dối được với cha mẹ ở nhà, lừa gạt thầy bạn ở trường
gian trá với quần chúng ngoài xã hội. Nếu một lỗ mọt
trong con đê không được lấp kín kịp thời, thì chẳng bao
lâu nước sẽ phá vỡ cả bờ đất lớn.

Khi
tinh thần tự giác còn quá thấp, trình độ giáo dục còn
hạn chế, khi mà người ta chưa sống thật với lòng mình
ở mọi hoàn cảnh thì sự hiện diện của Pháp luật và Công
an vẫn còn cần thiết để hạn chế tội
lỗi.
Và nếu trình độ khoa học chưa đủ khả năng giáo dục con
người
sống chân thật với chính mình, thì quỷ thần hai
vai cũng vẫn còn tác dụng giúp cho một đứa trẻ chân chất
nơi miền quê biết xuống xe dẫn bộ khi đi qua bảng cấm
lúc vắng người.

 

8/
Chắp
tay
xá chào

Thành,
một bé trai khoảng hơn hai tuổi, có gương mặt sáng và đôi
mắt đen huyền rất kháu khỉnh. Một vài cô Phật tử gần
nhà thỉnh thoảng đưa bé qua chùa chơi. Mỗi lần gặp tôi
Thành đều kêu “Thầy” và chắp tay xá chào theo sự chỉ
dẫn
của người lớn.

Một
hôm, tôi đang trên đường về chùa bằng xe đạp, bé Thành
từ trong nhà đang lững thững đuổi theo chú chó con, nên không
thấy xe tôi đang chạy tới. Lúc ấy những người gần đó
thấy vậy la lên, bé hoảng hồn đứng khựng lại và tôi
cũng vừa thắng xe kịp. Thành nhìn lên gặp tôi liền kêu
“Thầy” rồi chắp tay xá xá trước sự ngạc nhiên đến
phát cười nhưng đầy trìu mến của những người quanh đó.
Cái cử chỉ chắp tay chào của chú bé có khác gì những lần
trước
đâu, thế mà hôm nay sao lại dễ thương đến lạ!

Nhớ
lại năm mười hai tuổi, tôi theo mẹ đến một Tịnh xá nhân
dịp
lễ hội. Khi gặp nhà sư, mẹ tôi chắp tay cúi đầu
chào và kèm theo câu “Mô Phật”. Tôi thấy lối chào sao
mà ngồ ngộ khác thường. Lúc ấy mọi điều mắt thấy tai
nghe đối với tôi đều mới lạ cả. Từ ngôi tịnh xá hình
bát giác mái nhọn với tượng Phật Thích Ca ngồi uy nghiêm,
đến những căn nhà nhỏ bằng ván hình vuông, mái lá xinh
xinh bao quanh khuôn viên (sau này tôi mới biết đó là “cốc”
nơi quý sư ở). Từ cây Bồ đề sừng sững tàn lá sum suê
che mát trước sân, đến dáng dấp các vị sư trong mảnh y
vàng phất phới tung bay, đã gợi cho tôi những thiện cảm
đầu đời về đạo. Trong lúc quan sát, tôi thấy một vị
sư từ ngoài cổng đi vào tịnh xá, quảy lủng lẳng bên hông
một cái túi, trong đó đựng một quả bát để nhà sư dùng
cơm, đầu phơi nắng, chân không mang dép, dáng vẻ thật ung
dung
tự tại. Vị sư trụ trì từ trong cốc đi ra. Họ chắp
tay
trước ngực cúi chào nhau rất cung kính. Vị sư chủ cũng
đáp lễ theo. Nhìn cử chỉ chào của hai vị sư sao mà khiêm
tốn và chân thành quá. Họ chào nhau không chỉ là hình thức
xã giao lấy lệxuất phát bằng tất cả tấm lòng. Ngày
nay hồi tưởng lại, tự nhiên niềm kính phục nhà sư cứ
tràn lên trong tôi. Và cũng chính những ấn tượng ấy đã
ảnh hưởng sâu đậm đến tương lai đời tôi.

Lúc
mới vào trường học, tôi được dạy khoanh tay chào khi gặp
thầy cô giáo, phải đứng dậy khi thầy giáo vào lớp. Có
điều lạ là các thầy giáo gặp nhau không khoanh tay chào như
chúng tôi vẫn chào thầy, mà lại bắt tay. Hồi đó tôi có
ý nghĩ hết sức trẻ con. Tại sao các thầy không khoanh tay
chào nhau cũng giống như quý sư ở Tịnh xá. Sư chào sư cũng
chắp tay, mà Phật tử chào sư cũng tay chắp! Lớn lên, theo
dõi
thời sự qua màn ảnh truyền hình, tôi rất lấy làm lạ
về lối chào của một số nước phương Tây. Họ gặp nhau
bất kể nam nữ, già trẻ đều ôm hôn “chóc chóc” đủ
cả hai bên má. Nhìn họ hôn hít nhau giữa đường giữa chợ
như vậy tôi lấy làm “mắc cỡ” giùm.

Ngày
nay, khi tâm trí khai thông, tôi không thấy cách chào ấy là
kỳ cục nữa mà còn cho đó là nét văn hóa đặc thù của
một dân tộc. Càng hiểu về văn hóa, tôi càng muốn được
trông thấy những cái hay cái lạ của từng địa phương.
Theo tôi, văn hóa là những nét đẹp mà người ta tìm thấy
ở một dân tộc hay một tôn giáo khác mà mình không có. J.H.
Fichter, giáo sư xã hội học, đã nói: “Chính qua văn hóa
người ta mới tìm thấy ý nghĩamục đích của nếp sống
vừa cá nhân vừa xã hội”. Sở dĩ ngày nay người ta dám
bỏ ra một số tiền lớn để đi du lịch, cũng chỉ vì muốn
tận mắt chứng kiến phong tục tập quán ở những nơi khác
mình.

So
sánh
với lối chào khác, tôi thấy đạo Phật có lối chào
rất đẹp. Khi chào nhau, người Phật tử chắp hai bàn tay
lại như một búp sen. Mà đặc tính của sen là: Gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn. Như vậy người Phật tử chắp tay
chào nhau, ngoài phép tắc xã giao còn thầm nhắc nhở nhau:
Hãy sống một đời trong sạch như sen nở ngát hương thơm
nơi bùn lầy nước đục. Thật quý hóa thay, một biểu tượng
cao đẹp xuất phát từ những tâm hồn cao đẹp. Đúng như
Fichter đã nhận xét: “Một xã hội ra sao là do văn hóa tạo
nên”.

Thế
mà lâu nay tôi vẫn coi thường cách chào và cho đó chỉ là
bổn phận: Phật tử chào thầy, hoặc thầy nhỏ chào thầy
lớn. Do quan niệm như thế, có lần một thầy trẻ tuổi đến
viếng chùa, tôi thấy mình lớn nên chờ vị ấy chào trước,
nhưng trớ trêu thay vị ấy (có lẽ cũng thấy mình lớn) và
chờ tôi chào trước. Cuối cùng, vì lịch sự tôi giơ tay
lên chào (theo kiểu nhà binh) và vị ấy cũng vậy. Sau đó
chúng tôi tiến hành bắt tay nhau! Nghĩ lại, tôi thấy mình
hành động thật kỳ dị. Người ta thường nói càng học
rộng
càng có văn hóa cao. Còn tôi tự nhận xét thấy mình
càng tu “cao” càng có nhiều “ngã’. Trong khi đạo Phật
chủ trương “Vô ngã” mà tôi chẳng “Vô” một tí nào
cả. Nếu ai cũng tăng trưởng cái “ngã” kiểu này thì có
nguy cơ thế tục hóa mất. Sau này khi đọc Kinh Pháp Hoa đến
phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát, biết ngài chuyên môn đi lạy
mọi người để cầu mong họ thành Phật, tôi càng cảm thấy
hổ thẹn vô cùng.

Đã
hiểu văn hóa là sản phẩm của con người, con người ra sao
thì văn hóa thế ấy và nhìn cách sinh hoạt của một đoàn
thể, người ta biết được trình độ văn hóa thấp cao. Sự
biến chất của văn hóa là kết quả tất yếu của một đoàn
thể tha hóa.

Người
lớn chúng ta thường giành quyền hơn so với trẻ con, nhưng
có cái thua xa trẻ con mà không biết. Điển hình có những
Phật tử khi đến chùa thì chắp tay chào quý thầy, nhưng
lúc gặp ngoài đường lại gật gật gù gù. Phải chăng chúng
ta
chưa biết tự hào về nét đẹp của lối chắp tay chào
hay vì cái “ngã” quá to? Và mến thương làm sao cái cử
chỉ
chắp tay chào rất tự nhiên của bé Thành trước cái
nhìn trìu mến của biết bao cặp mắt người lớn.

 

9/
Mong
ước
đầu Xuân

Chỉ
còn vài giờ đồng hồ nữa là bước qua năm Tân Mùi. Khắp
nơi trong thành phố xe cộ và người qua lại tấp nập. Họ
đang vội vã về nhà với những thứ bên mình như: Bánh mứt,
trái cây, bông hoa… để chuẩn bị cho buổi lễ giao thừa
sắp tới. Trước cửa nhà dọc theo phố chính, đèn hoa, chậu
bông được trang hoàng với đủ loại màu sắc rực rỡ. Tiếng
pháo đì đùng đã vang vọng đó đây. Không khí thật tươi
vui nhộn nhịp.

Hòa
cùng với niềm vui chung đó, tôi cũng đang trên đường về
chùa với một cành mai vàng trên chiếc xe Honda. Đang miên man
nghĩ đến giờ phút giao thừa tại chùa với quang cảnh Phật
tử
đi lễ Phật và hái lộc đầu năm, với những lời chúc
tụng
bên cạnh tách trà nóng thắm tình đạo vị, bỗng tôi
bị cắt đứt dòng suy tưởng khi thấy xa xa phía trước xe
có một bóng người đi ngược đường. Có một điều làm
tôi chú ý là người ấy không đi đứng tự nhiên mà dường
như là ngồi đi, khiến tôi nghi vấn không hiểu đây là người
hay ma? Bởi vì suốt đoạn đường Tô Hiến Thành, từ ngã
tư Lý Thường Kiệt đến ngã ba Nguyễn Tri Phương, không có
ánh sáng đèn đường, mặc dù cột điện và bóng đèn đã
có sẵn từ lâu. Tối nhất là khu đối diện doanh trại quân
đội với Trường Đại học Bách Khoa. Do vậy ánh sáng đèn
xe qua lại chập chờn, khi sáng khi mờ nên không thấy rõ là
người hay ma. Nhưng tôi tin chắc không thể có ma xuất hiện
giữa đường phố như vậy. Đây chỉ là người mà thôi.
Tôi cố hướng ánh đèn xe của mình chiếu vào người ấy
xem sao. Lúc này chiếc xe chỉ còn cách xa khoảng mười thước
và tôi đã nhận ra đúng là người chứ không phải ma. Một
người đàn ông đi bằng hai bàn tay của chính mình, vì hai
chân đã bị cụt. Xe càng đến gần tôi càng nhận rõ gương
mặt gầy xạm nắng của ông. Tuổi ông khoảng độ 50, mặc
chiếc áo lính đã vá nhiều mảnh với chiếc quần đùi để
lộ hai chân cụt ngủn phía trước, bên dưới mông có lót
một miếng vỏ xe hơi. Trên vai ông đeo một chiếc túi đã
cũ màu. Ông đi bằng cách chống hai tay xuống đất – dưới
bàn tay có cột hai chiếc ghế con – rồi nhấc mình lên đằng
trước. Cứ thế một thân một mình ông lê từng bước trên
con đường đầy xe cộ qua lại, trước giờ phút vội vã
của bao nhiêu người đang chuẩn bị đón mừng xuân mới.
Tôi dừng xe bên cạnh ông, qua ánh đèn thấy mặt ông nhễ
nhại những giọt mồ hôi. Tôi hỏi:

– Bác
đi về đâu vậy?

Ngước
nhìn tôi ông đáp:

– Tôi
đi đến đầu đường Nguyễn Tri Phương.

Lúc
ấy
có chiếc xe xích lô chạy tới, tôi liền ngoắc lại.
Mặc cả giá xong tôi trả tiền trước và nhờ anh xích lô
đưa ông lên xe. Trong túi chỉ còn 2.000 đồng, tôi biếu ông
luôn. Gương mặt ông rạng rỡ hẳn lên với lời cám ơn rất
chân thành. Tôi muốn hỏi thăman ủi về cuộc đời bất
hạnh
của ông, nhưng vì trời đã tối, đường về chùa còn
xa nên tôi đành phải tạm biệt ông.

Suốt
chặng đường còn lại tôi không thiết nghĩ gì khác ngoài
số phận của người tàn phế này. Chắc chắn khi sinh ra ông
cũng đầy đủ chân tay như bao người khác. Và không khi nào
ông nghĩ là cuộc đời mình sẽ bị cảnh tàn phế như vậy.
Thế rồi vì chiến tranh, hay vì một lý do nào đó đã cướp
đi một phần thân thể yêu quý của ông. Theo tôi đoán trong
các lý do trên thì chiến tranh là phần đúng. Vì dấu tích
nơi thân thể ông là một bằng chứng rõ rệt. Ai cũng công
nhận
và lên án chiến tranh là thảm họa và đau thương. Không
một ai muốn cảnh tương tàn tương sát xảy ra giữa con người
với nhau. Vậy mà tại vùng Vịnh ngày nay người ta lại đang
tiến hành một cuộc chiến tranh khốc liệt. Ai đã gây nên
cảnh máu đổ thịt rơi như thế? Ông trời hay con người?
Rõ ràng chúng ta không thể đổ lỗi cho ông trời mà phải
nhìn nhận một cách thực tế rằng chiến tranh là do con người
gây ra. Mà tham, sân, si là đầu mối của bao tai họa trên
quả đất này. Khi nào tham, sân, si còn khống chế sai sử
con người thì cuộc đời này sẽ không bao giờ có hòa bình
vĩnh cửu.

Tiếng
pháo đã vang rền khắp nơi. Năm cũ đang đi qua và năm mới
sắp đến. Trong khi chúng ta hân hoan đón mừng Xuân mới thì
đó đây trên quả địa cầu này chiến tranh vẫn tiếp tục
gieo rắc đau thương và cướp đi một phần thân thể của
biết bao con người. Chúng ta hãy chắp tay cầu nguyện cho thế
giới
hòa bình, cho người người thương yêu nhau, cho tình
thương
xóa sạch hận thù. Để những mùa Xuân mới sẽ không
còn thêm những người lê tấm thân tàn phế vì chiến tranh
trên khắp nẻo đường quê hương đất nước.


10/
Lời
đáp từ buổi lễ quy y

Sau
khi các giới tử làm lễ thỉnh Sư truyền pháp Tam quy, một
thiện nam bưng khay lễ đi trước, tiếp theo là thầy trụ
trì
chùa Thiện Phước. Từ Tổ đường lên chính điện, giới
tử
đứng hai bên chắp tay cung nghinh thầy thật trang nghiêm.
Tiếng chuông trống Bát Nhã trỗi lên rền vang trong không gian.
Thùy Trang cảm thấy náo nức sung sướng đón chờ giờ phút
thiêng liêng của người sắp được thọ pháp.

Đã
từ mấy năm nay, Thùy Trang và một số bạn trẻ của chùa
mong được thầy quy y để có pháp danh, để chính thức
người đệ tử Phật, nhưng mỗi lần cầu thỉnh thầy lập
đàn quy đều bị từ chối với lý do: Thầy còn trẻ, chưa
đủ đức độ thâu nhận đệ tử. Họ đều không hài lòng
cho lắm về lời từ chối khéo léo đầy khiêm nhường ấy.
Đôi lần họ cũng bàn tán với nhau: Có lẽ mình chưa xứng
đáng làm đệ tử thầy hoặc đây là sự thử thách chăng?
Rồi họ bảo nhau siêng năng đến chùa tụng kinh, lễ bái
hằng đêm và công quả vào những ngày rảnh rỗi. Cứ sau
vài tháng, mỗi lần vào dịp lễ lớn họ lại thỉnh cầu
thầy làm lễ quy y, nhưng rồi cũng vẫn bị từ chối với
lý do y hệt như trước. Họ ức lắm. Trong khi chính mắt họ
thấy vào những dịp lễ như rằm tháng Giêng, Tư, bảy và
Mười ở một số chùa có bảng thông báo lập đàn quy để
mọi ngườithể tham dự. Đôi lúc Thùy Trang muốn xin ghi
tên quy y ở những ngôi chùa này phức cho rồi. Khốn nỗi
vì cái tình thầy trò bấy này đã không cho phép nàng đến
với những đàn quy ấy. Thế rồi, niềm mong ước đã được
toại nguyện. Thầy quyết định chọn ngày Đức Phật Thích
Ca
thành đạo 8 tháng 12 làm lễ quy y, thời gianmọi người
trong nước đang chuẩn bị đón mừng năm mới. Do có khát
khao chờ đợi nàng mới thấy buổi lễ hôm nay thật quan trọng
vô cùng. Tuy sung sướng, nhưng Thùy Trang vẫn còn nuối tiếc
một điều gì đó. Nàng than thở với Diệu Hoa đang đứng
bên cạnh mình:

– Thật
tiếc quá!

Hiểu
ý
bạn, Diệu Hoa đáp:

Bình
tĩnh
chờ đợi. Buổi lễ sẽ trả lời cho bạn rõ.

Thùy
Trang có một người chị tên là Mai Lan. Hai chị em đều mộ
đạo
và thường đến chùa công quả. Vì hoàn cảnh phải
đoàn tụ gia đình, hơn tháng nay Mai Lan đi Canada do sự bảo
lãnh
của chồng. Biết chị mình cũng quý kính thầy nên nhân
dịp
có đàn quy, Thùy Trang xin cho Mai Lan được quy y khiếm
diện, nhưng thầy từ chối. Cuối cùng nàng chỉ xin thầy
đặt cho chị mình một pháp danh và cũng bị từ chối nốt.
Thùy Trang đem chuyện này than thở với Diệu Hoa. Kinh nghiệm
bản thân, Diệu Hoa phân giải cho bạn rõ về tầm quan trọng
của buổi lễ quy y. Hồi nhỏ vào cái tuổi lên sáu, vì muốn
con mình có tên đạo, Diệu Hoa được mẹ dắt qua chùa Giác
Ngộ
để quy y. Từ đó đến nay đã gần hai mươi năm rồi
mà nàng cứ tưởng như mình chưa một lần dự lễ thọ pháp.
Bởi lẽ ở cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới” ấy, nàng
có biết tí gì về mục đích quy y đâu. Do vậy theo nàng,
người quy y trước hết phải có ý thức tự giác, tự nguyện
và không được vắng mặt trong buổi lễ đầy ý nghĩa đó,
càng không thể có chuyện người này quy y thay cho kẻ khác,
hoặc quy y với mục đích để được pháp danh. Tuy Diệu Hoa
đã giải thích cặn kẽ vấn đề này cho Thùy Trang nghe, nhưng
nàng nhất định không đồng ý. Diệu Hoa chỉ còn biết trông
chờ
vào buổi lễ hôm nay sẽ giúp bạn mình hiểu rõ mọi
điều.

Thầy
trụ trì đang tiến dần vào chính điện, đi ngang qua chỗ
Thùy Trang và Diệu Hoa. Họ cùng nhau lần lượt xếp hai hàng
bước theo sau thầy. Nơi bảo điện không ai bảo ai, mọi người
đều tự động đứng theo thứ tự và giữ im lặng tuyệt
đối
. Quang cảnh vốn đã trang nghiêm lại thêm nghiêm trang
hơn. Tất cả giới tử vừa ngơ ngác vừa hồi hộp đón nhận
những điều mới lạ nhất trong đời nhập đạo của mình.
Lúc ấy tiếng niệm hương của thầy ngân vang trầm ấm, quyện
với hương trầm ngào ngạt như đưa giới tử vào cảnh giới
an lạc kỳ diệu.

Sau
khóa lễ Phật, thầy trụ trì đi qua bên trái chính điện,
an tọa trên chiếc ghế dựa đặt cạnh chiếc bàn đã bài
trí sẵn với một lọ hoa sen trên tấm khăn vải trắng. Nơi
nền gạch hoa tất cả giới tử cùng ngồi chắp tay im lặng.
Trước khi chính thức cử hành lễ quy y, thầy nói về tính
chất
vô thường, vô ngã của nhân loại và chỉ ra con đường
dẫn đến giải thoát giác ngộ. Phật pháp được coi như
bè báu đưa người qua bể khổ, là cửa ngõ vào cảnh Niết
Bàn
. Người học Phật muốn dứt trừ khổ não, hưởng sự
an vui vô thượng thì không gì hơn là thọ trì giới pháp của
Phật. Thùy Trang chăm chú lắng nghe và đón nhận pháp nhũ
như nắng hạn gặp mưa sa.

Hiểu
sự lợi ích của Phật pháp rồi, người muốn quy y Tam
Bảo
trước hết phải sám hối để tẩy trừ phiền não,
giúp cho thân tâm thanh tịnh. Cũng như muốn chứa nước trong
sạch
cần phải súc bình cho thật sạch trong. Thầy giảng
xong, bảo mọi người đứng dậy chuẩn bị làm lễ sám hối.
Thầy đọc trước, giới tử đọc sau:

– “Đệ
tử chúng con tên là… xưa kia gây tạo các điều lầm lỗi,
ngày nay thành tâm sám hối, thề tránh các điều ác, nguyện
làm các việc lành…”

Tất
cả giới tử đồng thanh lập lại theo thầy ba lần như vậy.
Những câu, những lời sám rất đơn giản, bình thường, thế
mà không hiểu sao khi ứng dụng vào buổi lễ nó lại có tác
động
sâu sắc đến tâm tư Thùy Trang một cách lạ kỳ. Cứ
mỗi lần đọc Thùy Trang lại có một cảm giác lâng lâng
nhẹ nhàng như đang trút dần các phiền não còn đang tồn
đọng trong mình bấy nay. Nàng sung sướng nhắm mắt lại để
tận hưởng những giây phút an lạc của tâm hồn. Lúc ấy,
vài giọt nước từ trên không rơi xuống đầu tỏa mùi thơm
dịu, Thùy Trang vội mở mắt ra xem và thấy thầy đang cầm
nhánh bông rải nước hoa lên đầu các giới tử. Mỗi phần
của buổi lễ đã làm cho nàng từ hết ngạc nhiên này đến
ngạc nhiên khác. Tới bây giờ Thùy Trang mới hiểu lý do tại
sao thầy không cho chị mình quy y khiếm diện và sự ân hận
cũng bắt đầu nhen nhóm trong lòng nàng.

Sau
phần sám hối, thầy lại tiếp tục giảng cho giới tử hiểu
về ý nghĩa Tam Bảo. Lời giảng của thầy thật rành rõ.
Người quy y Tam Bảotrở về nương tựa vào Phật, Pháp,
Tăng. Chúng ta như khách lữ hành lạc lối giữa vạn nẻo
đường, phải nương nhờ vào hướng đạo viên tài ba lỗi
lạc. Ngồi nghe thầy giảng, Thùy Trang càng hiểu rõ thêm:
Quy y Tam Bảo không phải để cầu tha lực phò trợ mà Tam
Bảo
được xem như chiếc thuyền từ, như kim chỉ nam hướng
dẫn chúng sinh từ bến mê sang bờ giác. Mỗi lời giảng của
thầy làm cho nàng thêm sáng mắt, sáng lòng.

Giảng
xong, thầy bảo giới tử quỳ lên, chấp tay ngay ngắn, một
lòng thành kính để chuẩn bị lãnh thọ Tam quy. Trước khi
truyền pháp, thầy nhắc lại cho giới tử biết, đây là giờ
phút quan trọng nhất mà người quy y không được vắng mặt.
Câu nói ấy, Thùy Trang có cảm tưởng như thầy đang hướng
về mình mà bảo. Nàng hổ thẹn quá không dám ngước mặt
lên nhìn thầy nữa.

Giờ
truyền Tam quy đã đến. Thầy nhắc các giới tử hãy chú
tâm
lắng nghe và lặp lại theo thầy mỗi câu ba lần:

“Đệ
tử chúng con tên là… xin suốt đời quy y Phật, quy y Pháp,
quy y Tăng”.

Truyền
Tam quy xong thầy tiếp túc trao Tam kết. Trọng tâm buổi lễ
quy y chứa đựng bấy nhiêu đó chữ, vậy mà đã làm thay
đổi cả cuộc đời người thọ pháp.

Từ
nay họ sẽ không còn lo sợ phải lạc lõng bơ vơ giữa muôn
nẻo đường nữa vì đã có vị Đạosáng suốt chỉ đường
dẫn lối. Và để xứng đáng là người Phật tử, họ phải
cố gắng tu tập hơn nữa, giữ gìn giới hạnh hơn nữa. Thùy
Trang quá sung sướng vì từ giờ nàng đã có pháp danh, đã
có thầy. Trước đây, cứ mỗi lần đi đến chùa khác nàng
không biết phải trả lời thế nào khi quý thầy hỏi: Con
pháp danh chi và là đệ tử ai? Bây giờ thì nàng không còn
phải lẩn tránh câu hỏi ấy nữa.

Phần
truyền Tam quyngũ giới đã xong. Trước khi hồi hướng,
thầy bảo giới tử ngồi xuống và dặn dò thêm về bổn
phận người Phật tử. Một khi đã quy y rồi, người Phật
tử
không được quy y với ngoại đạo tà giáo, phải chăm
đến chùa tụng kinh, nghe giảng để thúc liễm thân tâm, mở
mang trí tuệ. Đối với Tam Bảo, người Phật tử phải hết
lòng
hộ trì để góp phần hoằng dương chính pháp làm lợi
lạc
quần sinh. Thầy cũng không quên hướng dẫn cặn kẽ
về mọi lễ nghi phép tắc căn bản nhất của người Phật
tử
khi đến chùa. Lắng nghe thầy dạy, Thùy Trang càng thêm
nuối tiếc. Cái nuối tiếc bây giờ không phải vì thầy không
cho chị mình quy y khiếm diện, mà nuối tiếc là Mai Lan đã
không có mặt để cùng dự buổi lễ quy y hôm nay.

Tiếng
chuông
trống Bát Nhã lại ngân vang. Nơi chính điện, các giới
tử
đứng đối diện hai bên chắp tay cung tiễn thầy hồi
quy phương trượng. Lúc này, những nét thỏa mãn hiện rõ
nơi gương mặt mọi người. Thùy Trang đến nắm tay Diệu
Hoa
mỉm cười. Diệu Hoa cũng nở nụ cười đáp lại. Những
nụ cười của họ chứa đựng biết bao nhiêu điều trong
đó. Hai người cùng nhau im lặng bước từng bước rời khỏi
đàn quy. Bên ngoài gió Đông đang thổi về.


11/
Bác
Tửu

Sau
một ngày làm việc mệt nhọc, bác Tửu thả mình nằm trên
chiếc võng nghỉ ngơi. Gió chiều nay khá mạnh, tiếng xào
xạc
của lá cây Bồ đề vọng đến nhà khách nghe rất rõ.
Mặt trời đang hắt những tia nắng cuối cùng trên nền trời
trong xanh. Bác Tửu khẽ nhắm mắt lại và hít một hơi dài
không khí trong lành.

– Bác
Tửu ơi!

Nghe
tiếng gọi bác nhỏm người ngồi dậy. Tôi cầm cái ki đan
bằng trúc đến bên cạnh:

– Nhờ
bác phát tâm sáng mai chữa giúp cái ki này để đựng đất.

Biết
ngày mai đào chân móng khởi công xây tháp cố Hòa thượng
Viện chủ cần phải có ki tốt để làm, bác vui vẻ nhận
ngay:

– Vâng,
thầy đưa đây tôi.

Bác
đứng dậy định vào phòng. Tôi ngăn:

– Bác
cứ nằm nghỉ đi, sáng mai làm sớm cũng kịp chán.

– Để
tôi làm một tí là xong mà.

Tôi
cố cản nhưng bác không nghe. Vào phòng lấy con dao rựa, bác
ra khóm trúc chặt một cây đem về làm. Bác cắt một đoạn
trúc dài độ 70 phân, chẻ nhỏ ra mỗi mảnh khoảng một phân
rưỡi ngang rồi đan dặm vào những chỗ ki đã bị hư gãy.
Nhìn những đường gân nổi trên bàn tay của bác tôi thương
quá. Đôi bàn tay chai rắn đã chứng tỏ quá trình lao động
cần cù của bác. Có lẽ nhờ tính siêng năng, giản dị và
thật thà, bác đã chiếm được cảm tình của hầu hết mọi
người
trong chùa.

Trước
đây bác ở Đồng Xoài, Thuận Lợi, sinh sống bằng nghề
cạo mủ cao su. Cuộc đời bác như mặt nước thu êm ả trôi,
không ước vọng cao sang, chẳng mơ màng thê tử. Thấy bác
vất vảthui thủi một mình, những người hàng xóm thương
hại
đã giới thiệu cho bác một “người đàn bà” để
hủ hỉ sớm hôm, bác mắc cỡ từ chối. Thế rồi, “người
đàn bà” ấy đã “lỡ” thương bác nên quyết tâm tiến
tới
. Cuối cùng bác cũng vui mừng cạn chén giao bôi. Từ đó,
mái nhà hiu quạnh trước đây nay đã trở nên ấm cúng, sớm
hôm có người chăm lo chu tất. Bác cảm thấy vui vui và có
được đôi chút hạnh phúc do người vợ “khéo” đem đến.
Ngày nọ, sau khi làm việc ở đồn điền cao su về, bác thấy
nhà cửa vắng vẻ, kiếm trước tìm sau không thấy người
vợ yêu quý đâu. Khi mở tủ, bác mới vỡ lẽ toàn bộ số
tiền vừa hốt hụi hôm qua đã theo người vợ biến mất!
Bác có buồn đôi chút, nhưng thương tiếc thì không.

Năm
1965, chiến tranh tàn phá khu vực bác ở, Hòa thượng Viện
chủ
chùa Hoằng Pháp đã đón nhận số đồng bào này về
tị nạn tại chùa, trong đó có bác. Do nương náu cửa chùa
lâu ngày và quen dần nếp sống thiền môn nên bác xin ở lại
chùa công quả. Đã hơn hai mươi năm trôi qua, bác không cạo
tóc
và chẳng biết xuất gia hay tu là gì. Bác chỉ biết có
một điều: Hàng ngày ăn cơm chùa thì phải quét lá đa, không
từ nan bất cứ việc gì. Có lần bác bệnh cảm mà vẫn ra
vườn nhổ cỏ, chăm sóc rau quả, tôi khuyên vào nghỉ, nhưng
bác không nghe. Bác nói nằm nghỉ buồn bực tay chân lắm,
làm việc cho khuây khỏa. Dường như bác chẳng chịu ở không
bao giờ, chỉ trừ khi bệnh nặng làm không được mới chịu.
Có lẽ nhờ tính siêng năng này mà bác thêm sức khỏe
ít bệnh tật. Tôi được biết có những người thiếu nghị
lực
, mặc dù đầy đủ sức khỏe mà vẫn luôn bệnh hoạn.
Do lẩn tránh trách nhiệm nên họ cố tạo ra bệnh, ít lại
xít ra nhiều. Dần dần con người họ trở nên bạc nhược
và mất nghị lực sống.

Một
điều đáng quý ở bác là ngoài ba bữa cơm ra, bác không say
mê một thứ gì. Có lần tâm sự, tôi được biết trước
đó bác cũng nghiện thuốc lào, từ khi vào chùa đã dứt bỏ
hẳn. Tuy việc bỏ thuốc lào của bác không hay ho gì, nhưng
so với những người “đã chôn điếu xuống lại đào điếu
lên” thì bác quả là người có đầy đủ nghị lực để
từ bỏ một thói quen khó bỏ.

Đồng
thời
với bác, đã có biết bao người đến chùa, họ hăm
hở
phát ra những đại thệ nguyện lớn lao muốn độ tận
chúng sinh. Thế rồi chúng sinh độ mãi mà chưa tận, cuối
cùng
họ lại được độ tận bởi chúng sinh! Riêng bác, tôi
chưa khi nào nghe bác nói đến chuyện tu hành hay mơ tưởng
thành Phật tác Tổ gì cả, chỉ biết cặm cụi làm việc
ít nói. Thế mà bác vẫn cứ vững như kiềng ba chân, mặc
cho bao lượt người đến chùa rồi ra đi không hẹn ngày trở
lại
. Tôi có cảm tưởng bác đang bước từng bước vững
chắc
trên con đường giải thoát.

Bác
đan xong cái ki thì bầu trời đã đầy sao. Mọi ngày, trước
khi ngủ bác đều khóa cổng chùa. Hơn tháng nay vì tuần thất
của Hòa thượng Viện chủ, các Phật tử ra vào thường xuyên,
nên đôi lúc bác cũng không chú trọng cho lắm việc đóng
cổng. Vả lại, có lần bác nghĩ chùa rộng mênh mông hơn
bốn mẫu, những khóm trúc trồng chung quanh chùa thay cho hàng
rào cũng không kín đáo gì. Giả sử kẻ gian có ý đồ xâm
nhập
thì dù có khóa cổng cũng không ích chi.

Đêm
nay, mới 21 giờ mà khung cảnh nội tự đã yên lặng. Đại
chúng
chỉ tịnh nơi tư phòng. Bỗng một loạt tiếng chó sủa
hướng về phía cổng chùa. Bác Tửu giật mình thức giấc,
nhỏm người ngồi dậy, vội vã bước xuống giường, mở
cửa đi ra ngoài nhà khách. Với cái tuổi ngoài 60, hơn nữa
mắt nhắm mắt mở, bác chỉ thấy hai bóng người mờ mờ
phía trước. Bác hỏi vội:

– Ai
đó?

Tiếng
anh thanh niên đáp:

– Dạ,
tụi cháu vào xin cây hương nhu.

– Mấy
cậu ở đâu?

– Dạ,
tụi cháu ở ngoài phố này.


thỉnh thoảng chùa có xảy ra mất trộm nên bác cũng đề
phòng
kẻ gian lập mưu ăn cắp.

– Đêm
khuya tăm tối không ai đi lấy được đâu. Sáng mai các cậu
đến tôi cho.

Một
trong hai anh nói:

– Xin
bác làm ơn làm phước giúp đỡ, má cháu đang bị cảm nặng,
cần một ít hương nhu nấu nước xông ngay bây giờ.

-Dạ,
xin bác mở lòng từ bi tế độ “cứu bệnh như cứu hỏa”.
– Anh kia xen vào.

Bác
Tửu nhìn kỹ thấy hai người ăn mặc đứng đắn, lời nói
có vẻ ân cần tha thiết, mặc dù không đọc kinh sách, nhưng
do ở chùa lâu ngày, hạt giống từ bi ít nhiều cũng gieo vào
lòng bác, nên khi nghe nói bệnh nhân đau nặng cần thuốc,
lại cảm động trước tấm lòng hiếu thảo của người con
thương mẹ, bác không còn do dự nghi ngờ gì nữa, liền bật
đèn pin hướng dẫn hai anh ra vườn. Sau khi bẻ hương nhu xong
họ lại xin thêm một ít xả, thế là bác cũng vui vẻ soi
đường đưa họ ra mé vườn cách nhà khách khoảng bốn chục
mét để nhổ. Nhổ xả xong bác cùng hai người quay vào nhà
khách
. Bác cảm thấy sung sướng trong lòng vì mình vừa làm
xong một việc thiện, gương mặt tươi vui, vừa đi bác vừa
hỏi thăm họ rất thân mật. Một anh đi song song với bác
luôn cười nói đối đáp, một anh thì âm thầm lặng lẽ
bước từng bước phía sau. Không gian tĩnh mịch, nội tự
lúc này chỉ còn âm thanh của hai người và một vài tiếng
dế kêu rả rích. Bỗng nhiên một tiếng “á” vọng ra từ
cửa miệng bác khi bị hai bàn tay của người thanh niên phía
sau bóp cổ mình. Do bất ngờ và mất thăng bằng bác lảo
đảo
chúi người về phía trước. Bác hốt hoảng la lên.
Biết không ngăn kịp tiếng kêu cứu của bác, anh đi bên cạnh
rút dao đâm bác một nhát rồi họ cùng nhau bỏ chạy. Tiếng
kêu la của bác càng vang lên khẩn thiết trong đêm khuya thanh
vắng
. Mọi người thức giấc kéo nhau ra lùng soát kẻ cướp,
nhưng kẻ cướp đâu không thấy, chỉ thấy xa xa một hàng
trúc xanh âm u vắng vẻ.

Sau
khi nghe bác thuật lại đầu đuôi sự việc và nhìn vết đâm
loang máu nơi cổ tay bác, người thì chép miệng thương hại,
người thì trách bác thương người không đúng lúc, người
thì đổ lỗi tại không khóa cổng… Riêng bác thì:

– Chưa
sao! Nó không đâm trúng tim là tốt rồi.

Mọi
người
chỉ buồn cười mà thương hại cho tính thật thà
của bác. Một lát sau sự ồn ào cũng tắt dần, trả lại
cho nội tự cảnh thanh tịnh như cũ.

Biết
đây là bài học về lòng từ bi thiếu trí tuệ nên tôi nhắc
nhở bác:

– Lần
sau bác có từ bi cũng phải nên suy nghĩ cho kỹ một tí. Đừng
quá tin người như thế nghe bác.

– Vâng,
vâng, lần sau tụi nó đừng hòng đem từ bidụ dỗ tôi
nữa.

Tôi
phụ băng bó vết thương nơi cổ tay cho bác. Cầm bàn tay rắn
chắc và chai cứng ấy, tôi lại nhớ đến cuộc đời cần
siêng năng của bác mà thương kính vô cùng.

 

12/
Vị
sư tu hạnh đầu đà

Bước
lên
gần chiếc cầu thang gỗ của phòng thầy Giác Liêm ở,
tôi chợt thấy một vị sư khoác mảnh y vàng, dáng người
to béo nằm trên chiếc võng dù. Nghe tiếng chân người, vị
quay về phía cầu thang. Thấy vậy tôi vội chắp tay
chào:

A
Di Đà
Phật! Bạch sư có thầy Liêm ở đây không ạ?


nhỏm người ngồi dậy. Với gương mặt đầy đặn, nước
da ngăm đen hơi vàng, trạc tuổi 50, sư tươi cười đáp:

– Mô
Phật có, thầy ấy ở trên chính điện, mời thầy vào phòng
ngồi chơi!

Tôi
đã quen biết thầy Giác Liêm khi còn theo học tại Phật học
viện
Thiện Hòa chùa Giác Ngộ. Và cũng từ đấy tôi được
biết chùa Phật Bửu. Những lần qua lại trao đổi về việc
học với thầy Liêm, tôi được Thượng tọa trụ trì thương
mến
. Từ đó Phật Bửu Tự là nơi tôi đi lại nhiều nhất
và thân nhất trong tất cả các ngôi chùa trong thành phố này.
Do vậy, hôm nay khi nhìn kỹ vị sư tôi nhận ra ngay là đã
có gặp một đôi lần tại đây. Hồi ấy Thượng tọa trụtrì có kể cho tôi nghe về hạnh tu của vị sư này. Tôi ao
ước
được tiếp xúc với sư từ lâu và hôm nay nhân duyên
đã đến. Bước vào phòng tôi hỏi:

– Bạch
sư về trụ ở đây được mấy hôm rồi?

– Được
hơn một tuần rồi. Mời thầy ngồi nghỉ!

Tôi
nhận lời, bước qua ghế ngồi.

– Bạch
sư, lâu nay sư ở tịnh xá nào?


mỉm cười, chậm rãi đáp:

– Trò
theo hạnh đầu đà, với tam y nhất bát đi chu du hành đạo
khắp nơi không trụ một chỗ nào cố định. Đối với trò
thì nơi nào cũng là tịnh xá cả. Thưa thật với thầy, sở
kỳ này trò phải dừng lại ở đây khá lâu là vì chữa
bệnh.

Tôi
ngạc nhiên hỏi lý do bệnh. Sư tiếp:

– Không
giấu gì thầy, cách nay hơn hai tháng trong lúc đang đi khất
thực
trò bỗng bị xây xẩm mặt mày rồi bị ngất xỉu trên
đường. Đến chừng tỉnh lại thì thấy mình nằm trong Bệnh
viện Nguyễn Tri Phương. Hỏi thăm các cô y tá mới rõ là
bà con bộ hành đã đưa trò vào. Trong thời gian nằm viện,
các bác sĩ cho biết thêm là trò có bệnh gan và phải lưu
lại điều trị khá lâu.

Nhìn
gương mặt và chân tay sư, tôi hỏi:

– Hình
như sư bị phù thì phải?


gật đầu:

– Mô
Phật, phù đó thầy.


kéo ống chân quần lên chỉ cho tôi xem. Nhìn ống chân và
bàn chân sưng phù bóng láng, tôi tưởng tượng nó giống như
đôi chân người chết trôi bị trương lên, chỉ có khác ở
màu da là người chết thì trắng còn da sư thì vàng.

– Bệnh
sư lúc này đã giảm chưa ạ?

– Cũng
tàm tạm thầy à.

– Thế
sao sư không ở lại bệnh viện chữa trị cho dứt luôn?

– Nằm
gần hai tháng rồi còn gì. Vả lại nhà thương thì thiếu
chỗ, bệnh mình cứ trơ trơ chẳng giảm bao nhiêu, trò xin
xuất viện về chùa điều trị thuốc ngoài cho thoải mái
hơn.

– Trong
thời gian sư nằm viện như vậy thì ai thăm nuôi sư?

– Có
ai đâu thầy!

– Ủa,
không có Phật tử nào biết sư bệnh à?

Vẫn
gương mặt bình thản, sư chậm rãi nói:

– Hạnh
tu của trò ngày đi khất thực nuôi thân, tối đến giăng
võng nơi gốc cây ngủ nghỉ. Có trụ nơi nào lâu đâu mà
nhận đệ tử.

Dứt
lời sư chỉ chiếc võng dù đang ngồi. Sư cho biết nó là
phương tiện rất tốt cho việc du hành tha phương. Đến đâu
sư chỉ việc kiếm chỗ cột hai đầu dây là có nơi nghỉ,
nếu cần tránh muỗi và lạnh sư chỉ việc trùm chiếc y thượng
lên mình là xong một đêm. Sáng ra sư cuốn gọn, cột tròn
lại bỏ vào túi quảy đi. Nghe sư nói tôi hiểu, nhưng lại
lấy làm lạ:

– Vậy
tiền đâu sư chi tiêu trong thời gian nằm viện?

– “Thâm
tín chư Phật giai sung mãn” mà thầy. Sư cười nhẹ. Lo cho
mình không tu chớ lo gì túng thiếu. Thầy có tin là trò không
một xu dính túi mà vẫn đầy đủ trong lúc nằm viện không?

– Có
lẽ bệnh viện miễn phí cho sư?

– Không,
trò chi trả hẳn hòi.

– Vậy
sư có Thầy Tổ hay thân nhân trợ cấp?

– Cũng
không nốt.

Nghe
sư nói, lúc đầu tôi còn tin, nhưng bây giờ thì hơi hoài
nghi
. Nếu khôngcủa riêng, không Phật tử, không Thầy
Tổ và gia đình giúp đỡ thì tiền ở đâu mà sư chi dùng.
Chả lẽ sư có phép thần thông “úm ba la” là tiền tự
hiện ra! Tôi mỉm cười, lắc đầu.

Thấy
tôi lộ vẻ không tin, sư gật gù thong thả nói:

– Có
gì đâu mà thầy không nghĩ ra, thân nhân những người bệnh
nằm cùng phòng thấy trò đơn độc nên đã cảm động bảo
nhau giúp đỡ. Mỗi người một ít rồi đâu cũng vào đấy
thầy ạ.

Tôi
gật đầu, lòng thầm thán phục oai đức sư, vừa trò chuyện
tôi vừa quan sát sư, cái thu hút tôi vẫn là giọng nói. Tiếng
nói thật là trong thanh, nhẹ nhàng và chậm rãi từng chữ,
từng câu rất rành rõ. Sư nói ra lời nào là chắc lời đó,
không có sự gượng ép hay trau chuốt nhưng cũng chẳng vội
cẩu thả. Dường như tất cả lời nói ra được thuần
thục
trong tự nhiên.

– Thế
còn việc chữa trị căn bệnh của sư hiện nay ra sao?

– Mô
Phật, trò vẫn theo toa bác sĩ mua thuốc uống, nhưng cũng chẳng
kết quả bao nhiêu. À, thầy có quen ai làm việc tại Bệnh
viện Nguyễn Trãi không?

Câu
hỏi hơi bất ngờ nên tôi cố suy nghĩ. Lát sau tôi đáp:

– Dạ,
để con về hỏi lại xem sao, nhưng sư cần gì?

– Trò
nghe đồn nơi đó chuyên trị bệnh gan hay lắm.

Lúc
ấy
tôi nhìn thấy thầy Liêm đang đi ở hành lang và xin phép
sư ra gặp thầy. Chúng tôi đang trò chuyện với nhau bỗng
một tiếng “rầm” phát ra từ phòng sư, sàn gỗ rung rinh.
Tôi và thầy Liêm hoảng hồn chạy vào, thì hỡi ơi, thầy
sư đang nằm đo ván trên chiếc võng bị đứt dây. Chúng tôi
ráng hết sức mới đỡ nổi tấm thân đồ sộ của sư lên
giường. Sư cảm ơn và cười gượng nói:

– Không
sao, chỉ hơi ê ẩm sau lưng một tí.

Sau
đó tôi ra về.

Biết
sư muốn điều trị tại Bệnh viện Nguyễn Trãi, tôi đã
cố gắng hỏi thăm các Phật tử thân quen, nhưng không có
ai làm việc nơi đó cả. Một số người cho biết bệnh viện
này chỉ dành riêng cho cán bộ và công nhân viên nhà nước
ở bậc cao mà thôi([3]).

hỏi
mấy hôm, thấy không hy vọng, tôi
trở
lại
báo cho sư biết những trở ngại khó khăn ấy.

Trong
lúc ngồi tâm sự, sư cho biết ý định là sẽ về núi tu
tịnh và nếu bệnh tình bất giảm sư sẽ tuyệt thực bỏ
xác trên đó để khỏi làm phiền mọi người. Sư còn kể
thêm về người thầy của sư trước kia cũng vậy. Biết mình
không còn trụ thế bao lâu nữa, ngài đã vào một hốc đá
núi ngồi nhập định cho đến khi viên tịch. Lời kể ấy
khiến tôi nhớ đến sự tích sư Vũ Khắc minh tại chùa Đậu
ở miền Bắc mà tạp chí “Buddhists for peace” đã đăng tin.
Ngài cũng nhịn ăn và ngồi nhập định cho đến khi hồn lìa
khỏi xác. Thân thể khô dần, mặc dù đã trải qua hơn ba
thế kỷ mà vẫn tồn tại. Nhìn gương mặt từ bi phúc hậu,
với đôi mắt rực sáng đầy nghị lực lại thêm hạnh tu
Đầu đà của sư, tôi tin chắc sư sẽ thực hiện được
ý nguyện đó. Tuy nhiên tôi cũng khuyên sư cố tâm chữa bệnh
để dùng huyễn thân này làm lợi lạc chúng sinh nhiều hơn.
mỉm cười cám ơn.

Ít
hôm sau, tôi ghé thăm sư và được thầy Liêm báo tin là sư
đã đi đâu từ hai ngày nay rồi. Rất ngạc nhiên tôi dò hỏi
thì thầy Liêm cho biết:

– Hôm
đi, sư có nói là đi trị bệnh và từ đó không thấy về
nữa.

– Thế
còn đồ đạc sư vẫn còn để đây chứ?

– Vẫn
còn.

– Vậy
sư có dặn dò thầy điều gì không?

– Không.

Nghe
thầy Liêm nói tôi nhớ lại trước đây có lần tôi gặp
sư ngồi thuyết pháp cho các Phật tử nghe. Sau khi giảng xong,
đứng dậy quảy gói ung dung lên đường không hề luyến
tiếc hay vướng bận một điều gì, ngay cả đến lời cầu
thỉnh
ở lại của Phật tử cũng không làm sư dừng bước
du phương. Sư đến và đi như một con nhạn ngàn phương đăng
trình
. Không ai biết nơi sư sẽ đi và đến. Tuy nhiên ở vào
trường hợp này thì tôi có thể dự đoán là sư sẽ đi về
núi để thực hiện ý nguyện nhập cốc tuyệt thực. Nhưng
để cho chắc ăn hơn, nhất là trong lúc sư đang đau yếu,
hai chân lại sưng phù, e rằng điều không may sẽ xảy đến
giống như lần trước, nên tôi bàn với thầy Liêm là đi
tới các bệnh viện tìm thử. Trình ý kiến này lên Thượng
tọa
trụ trì Phật Bửu, người rất tán thành và hỗ trợ
chiếc xe Honda để chúng tôi làm phương tiện tìm kiếm. Đến
bệnh viện nào chúng tôi cũng hỏi thăm và xem sổ nhập viện
có tên sư không. Cuối cùng đã tìm gặp sư tại Bệnh viện
Nguyễn Trãi. Thật là một điều kỳ lạ và đầy bất ngờ!
Vào đến phòng, chúng tôi thấy sư đang ngồi nói chuyện đạo
cho các bệnh nhân nghe, vẫn gương mặt bình thản, không
một chút ưu tư về những gì đã qua, ngay cả đến sự hiện
diện
của chúng tôi cũng không làm cho sư ngạc nhiên cho lắm.
Thầy Giác Liêm trách sư sao quá vô tâm đến như thế. Đáng
lẽ
được nhập viện sư phải về cho chùa biết để khỏi
lo lắng kiếm tìm. Riêng tôi chẳng than phiền gì hết, trái
lại
, còn lấy làm lạ vô cùng về sự hiện diện của sư
tại một bệnh viện, nơi mà chỉ dành riêng cho cán bộ và
nhân viên nhà nước! Để giải đáp những thắc mắc của
chúng tôi, sư kể giọng nhỏ nhẹ:

Thành
thật
với quý thầy, trò được nghe kể về tài chữa bệnh
gan tại đây và đã nhờ nhiều người giới thiệu nhập viện
để chữa trị mà không được. Thế rồi trò quyết định
tự mình đến xin thử xem có “linh” không. Khi trình bày
bệnh trạng với người trực viện, anh ta đòi phải có đầy
đủ thủ tục như nội quy đã đề ra. Biết việc này cần
phải
trực tiếp với người có thẩm quyền, nên trò xin được
vào gặp ông Giám đốc, nhưng rồi cũng bị từ chối luôn.
Thế là hai món “bửu bối” đem ra xài đều không hiệu
nghiệm
, trò chỉ còn nước quay về. Vừa quảy gói trở ra
thì may thay ông Giám đốc đi ngang qua và thấy trò ông liền
ghé vào. Sau khi nghe người trực viện báo cáo, ông Giám đốc
mời trò lên phòng riêng thăm hỏi rất ân cần. Hiểu được
ý nguyện của trò, ông liền ký giấy cho nhập viện. Đầu
đuôi sự việc diễn biến như vậy đó. Quý thầy thấy mình
tu hành có nhiều “phép lạ” không?

Chúng
tôi
chỉ biết cười và gật đầu khâm phục sư. Nói chuyện
với sư khoảng nửa giờ đồng hồ chúng tôi rời khỏi bệnh
viện. Trên đường trở về chùa, những ấn tượng đẹp
qua buổi tiếp xúc với sư lần này cứ gây cảm xúc trong
tôi mãi. Cùng là con người với nhau, chẳng ai giống ai. Có
những người khi nhìn qua tướng mạo tự nhiên trong lòng ta
khơi dậy những tình cảm tốt đẹp, họ không hề hao hơi,
tốn sức thuyết pháp mà vẫn làm rung động được trái tim
kẻ khác, với phong thái trang nghiêm như dáng núi, gương mặt
tươi vui như hoa nở, tất cả những đặc tính ấy là nguyên
nhân
chính giúp sư mau chóng thu phục lòng người. Phải chăng
cái hảo tướng ấy phản ánh một nội tâm thuần khiết?

Thế
rồi thời gian cứ âm thầm trôi qua. Thỉnh thoảng tôi có
dịp ghé vào Phật Bửu Tự và biết tin sư qua lời kể của
thầy Giác Liêm. Bệnh trạng của sư cũng thăng trầm như sự
đời đổi thay thay đổi vô chừng. Tôi e rằng nếu tình trạng
này kéo dài sư sẽ về núi theo gương Thầy Tổ thực hiện
ý nguyện đã định.

Một
tuần sau, thầy Liêm cho tôi biết là sư đã xin xuất viện
và lại tiếp tục cuộc du hành. Lần này sư không về núi
như tôi vẫn tưởng và cũng chẳng bộ hành như trước, mà
là thủy hành! Một thân một thuyền với tam y nhất bát
du phương trên những con sóng nhấp nhô trôi nổi đến mọi
miền đất nước.

 

13/
Nếu
chẳng một phen …

Đã
lâu
lắm rồi, tôi chưa có dịp vào Chợ Lớn. Hôm nay vì cần
mua một vài món hàng tôi mới trở lại thành phố Hoa kiều
này. Vừa đạp xe tôi vừa nhìn lên những tấm bảng trước
các hiệu buôn dọc theo hai bên lộ. Nhà cửa sửa sang lại
rất nguy nga tráng lệ với những bảng quảng cáo đa kiểu
đa sắc viết bằng chữ Trung Quốc kèm theo chữ Việt Nam.
Sau khi tìm mua được những món hàng cần thiết, tôi quay trở
về
chùa. Ra khỏi Chợ Lớn đến khu vực người Việt Nam
buôn bán, tôi chợt nhìn thấy một tấm bảng với dòng chữ:
“Tại đây có làm đồ mã”. Tôi hơi ngạc nhiên và tự
nghĩ: Chắc lúc này Nhà nước ta đã đổi mới tư duy nên
cho buôn bán hàng mã công khai chăng? Nhưng khi nhìn xuống thì
thấy những tấm mộ bia, những cây thánh giá và một số
bàn ghế bằng đá mài, tôi mới rõ là họ làm đồ mồ mả
chứ không phải hàng mã như chữ đã ghi! Thật là tai hại.
Chỉ có dấu hỏi và dấu ngã của một chữ thôi cũng đủ
làm thay đổi toàn bộ nội dung của câu. Vậy mà không hiểu
sao, người Việt Nam lại sử dụng chữ Việt Nam một cách
cẩu thả đến thế? Còn gì là niềm tự hào về trình độ
học thức của dân tộc Việt Nam khi phô trương trước công
chúng
những cái sai sót lẽ ra không thể có ở cuối thế
kỷ hai mươi này, tại một thành phố tiêu biểu cho nền văn
minh
tiến bộ! Dường như trường hợp này đã, đang và còn
xảy ra rất nhiều trên đường phố, tại văn phòng, nơi hội
trường, thậm chí cả đến sách báo và giấy tờ hành chính
nữa.

Nhớ
lại trước đây tôi cũng xem thường việc đánh dấu hỏi,
ngã. Thật ra tôi viết chính tả ít khi bị sai, nhưng lúc đánh
dấu
thì lại rất cẩu thả. Tôi thường dùng dấu ngã đánh
hơi đứng nghiêng lên làm thành dấu hỏi. Có lần làm bài
kiểm tra môn Văn tại Phật học viện Thiện Hòa chùa Giác
Ngộ
do thầy Thích Minh Thành phụ trách, sau khi nhận bài với
số điểm thấp và lời phê: “Nội dung bài khá, nhưng viết
sai dấu nhiều”. Tôi không đồng ý về lời phê này và lên
khiếu nại. Tôi phân trần cho thầy rõ chữ này là hỏi, chữ
kia là ngã v.v… Nhưng thầy cương quyết nói: “Hỏi ra hỏi,
ngã ra ngã, không thể đánh gian như vậy được”. Tôi ức
quá, nhưng không làm sao thuyết phục được thầy đổi ý.
Tháng đó bị thụt hạng một cách oan ức, tôi đành ngậm
đắng nuốt cay
về cố gắng tập viết lại cho cẩn thận.
Lúc ấy tôi buồn thầy lắm, nhưng bây giờ tôi lại mang ơn
thầy rất nhiều.

Từ
việc này tôi liên tưởng đến sự kiện chứng Thánh quả
của A Nan. Trong Kinh Pháp Hoa phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Ký,
Đức Phật Thích Ca Mâu Nihé mở cho chúng ta biết: “Trong
kiếp quá khứ Ngài và A Nan cùng phát tâm Vô thượng Chính
đẳng Chính giác
. Do công phu tinh tấn Ngài đã thành tựu quả
vị
Bồ đề, còn A Nan thích đa văn nên vẫn cứ ôm giữ tạng
pháp mãi. Đến khi Đức Phật Thích Ca nhập diệt, ngài Ca
Diếp
đã hội họp Thánh chúng để kết tập kinh điển, trong
đó có A Nan. Trước khi đại hội, Ca Diếp tuyên bố thẳng
thừng nếu ai chưa chứng Thánh quả thì không được tham dự.
Thật là một đòn chí tử giáng vào A Nan. Gần năm trăm vị
Tỳ kheo lần lượt vào hết chỉ còn lại một mình A Nan
ngoài. Nghĩ mình vừa là thị giả, vừa là em họ Phật, lại
vừa là bậc đa văn đệ nhất nữa, thế mà bị loại khỏi
hàng Thánh chúng, thử hỏi còn gì tủi hổ hơn! Đêm hôm đó
A Nan buông bỏ tất cả, tinh tiến thiền địnhhoát nhiên
chứng ngộ
. Sáng hôm sau ông mỉm cười ung dung bước vào
đại hội trước sự ngạc nhiên của bao người.

Đúng
như Thiền Sư Hoàng Bá Hy Vận đã nói:

Nếu
chẳng một phen xương lạnh buốt


Hoa
mai đâu dễ ngửi mùi hương”.

t