Hướng tâm thức chúng ta cho thiền tập

0
137

 

 HƯỚNG TÂM THỨCCHÚNG TA CHO THIỀN TẬP
Đức Đạt Lai Lạt Ma
Tuệ Uyểnchuyển ngữ

dalai lamadalai lama

Một vị tu sĩ tên là Shrona đang cố gắng đề thiền quán, nhưng tâm ý ông thì hoặc là quá căng thẳng hoặc là quá giải đải.  Ông hỏi Đức Phật để được dạy bảo.   Đức Phật hỏi, “Khi con là ở nhà, con đã có đánh đàn một cách tuyệt diệu chứ?”
“Bạch Thế Tôn, thực sự như thế.”
“Âm thinh có hay ho khi con căng dây quá thẳng hay khi con để dây đàn quá chùng không?”
“Không như thế.  Con phải căng dây  đàn vừa phải.”
“Cũng giống như ở đây.  Để thiền quán con phải có làm cho ôn hòa sự căng thẳng và sự giải đải trong tâm thức của con.”
THÁNH NGỮ CỦA PALTRUL RINPOCHE

 

Chúng ta đang tìm hiểu để phát triển một tâm thứcthiền quán mà tự nó là trong sáng một cách nhiệt tình, nơi mà ý thứcquang minhtỉnh giác. Chúng ta cũng tìm kiếm một sự ổn định cho việc có thể tập trung sự nhất tâm trên đối tượng.  Đây là hai phẩm chất của tâm thứcchúng ta cần:  sáng sủa nhiệt thành và ổn định khôngdao động.

Những gì ngăn cản sự phát sinh hai điều này?  Phóng dật – tâm ý quá lỏng lẻo, quá xao lãngngăn cản việc phát triển sự trong sáng , và trạo cử tâm ý quá căng thẳng, quá kich thích – ngăn cản việc liên tục tập trung trên đối tượng.

PHÓNG DẬT (lỏng lẻo, uể oải, bơ phờ)

Phóng dật có những hình thức thô, vi tế, và rất vi tế. Trong phóng dật thô, đối tượng hoàn toàn không rõ ràng, và tâm thứccảm thấychìm đắm, hay trì nặng xuống.  Trong phóng dậtvi tế, chúng taduy trì trên đối tượng, nhưng tâm thức thiếu sự trong sáng.  Trong phóng dật rất vi tế, tính mãnh liệt chỉ hơi thiếu, tâm ý thể hiện hơi lõng lẽo.

Phóng dật xãy ra khi tâm thức bị rút lui bên trong tiến trình phát triển thiền quán.  Điều này không phải hôn trầm, mà là sự nặng nề và không làm việc của tâm thứcthân thể đối với mê mờ và là điều có thể xãy ra ngay cả khi chú trọng đến một đối tượng ngoại tại.  Trong sự hôn trầm của thân thể, đấy là sự nặng nề, và tâm thứcchúng ta là nặng nề, bị vướng trong tăm tối.  Nghe có vẻ như thuận tiện cho việc nghĩ ngơi, đúng không?  Đùa thôi nhé.

TRẠO CỬ (kích thích,náo động, sôi nổi)

Trạo cửmột thể trạng rung động của tâm thức, hầu hết thường qua sự hấp dẫn đến một đối tượng ngoại tại của tham dục.  Nó cũng có thể bất cứ sựtán tâm nào của ý thức, cho dù đối tượng mới là đạo đức, chẳng hạn như từ thiện; không đạo đức như tham dục; hay trung tính như may vá.   Có những hình thức thô và vi tế của trạo cử.  Trong thô trạo cử, chúng ta quên đối tượng thiền quán của chúng ta và lạc vào trong những tư tưởng khác.  Mặc dù trong trạo cử thô, đối tượng không mất, một góc của tâm thứcchúng taliên hệ trong tư tưởngdi chuyển nhanh, như nước chảy dưới mặt đóng băng của con sông.

Giữa những buổi thiền quán, điều quan trọng là phải điều tiết những giác quan của chúng ta, ăn một khối lượng trung bình thức ăn, và  duy trìsự quánsát thân thể và tâm thứcTrái lại, những điều này có thể hoạt động như những nguyên nhân của phóng dậttrạo cử.  Ngủ quá nhiều thông thường đưa đến phóng dật, trái lại những dự đoán không thực tế về những khoái lạc của đời sống có khuynh hướng đưa đến trạo cử.

CHIỀU DÀI CỦA NHỮNG BUỔI THIỀN TẬP

Nếu chúng ta đang gặp phải việc trở ngại để tập trung với phóng dậttrạo cử và không thể vượt qua, thay vì ngoan cố khăng khăng trong những buổi thiền tập dài lâu, hãy cố gắng những buổi tập ngắn ngủi nhưng thường xuyên.  Khi việc thực hiện của chúng tacải thiện và những vấn nạn này giảm thiểu, hãy thực hiện những buổi thiền tập lâu hơn.

Nó sẽ hổ trợ để thiền tập ở những nơi cao ráo nếu phóng dậtvấn đề, và thực hiện vào buổi sáng.  Ngay sau khichúng tathức dậy, các giác quan của chúng ta chưa hoạt động, nhưng năng lực của tư tưởng đã hiện diện.  Và bởi vì cơ quancảm giác chưa hoạt động, chúng ta sẽ có những sự xao lãng ít hơn.  Trong kinh nghiệmcủa riêng tôi, bình minh là khi tâm thức của tôi trong sáng nhất và bén nhạy nhất.

CHÍNH NIỆMNỘI QUÁN

Chính niệm là một kỷ thuật để giữ cho tâm thứcchúng taliên tục trên đối tượng cho sự thiền quán của chúng ta.  Nó là thuốc giải cho sự quên lãng.  Vì những người bắt đầu có khả năng này chi trong một mức độ nhỏ nhoi, chúng ta cần rèn luyện và làm tăng trưởng nó bằng việc lập đi lập lại trong việc đặt tâm thứctrở lại trên đối tượng.

Thông thường, hãy kiểm soát để thấy tâm thứcchúng ta có ở trên đối tượng hay không.  Bằng việc làm điều này qua nhiều lần, chúng ta sẽ đi đến chú ý một cách  lập tức khi tâm thứcchúng ta đã trở nên bị xao lãng với điều gì khác.  Cuối cùngchúng ta sẽ chú ý khi tâm thứcchúng ta sắp lạc khỏi đối tượng hay đề mục, và chúng ta sẽ có thể giữ nó ở đấy.  Khả năng này là chính niệm.

Kỷ năng cho việc nhận raphóng dật hay trạo cử đang ngăn chặn tâm thức khỏi việc củng cốtrong sáng và ổn định được gọi là “nội quán”.   Sự nội quánthường xuyên này về việc đối tượng trong sáng hay ổn định không được hoàn thành không phải với toàn bộnăng lực của tâm thức nhưng giống như từ phần phụ, vì thế không làm chướng ngại đến sự tập trung của tâm thức trên đối tượng.

Thật sự, để đạt đượcnăng lựcchính niệm mạnh mẽ, chúng ta cần giám sát chúng ta có đang ở trong sự tập trung trên đối tượng hay không, nhưng chức năngđặc biệt của nội quán tại thời điểm này là để thấy tâm thức có ở dưới sự ảnh hưởng của phóng dậttrạo cử hay không, chứ không chỉ xem nó có trụ trên đối tượng hay không.  Như hành giả du giàẤn ĐộThanh Biện đã nói:

Con voi của tâm thức rong ruỗi một hoang dã

Được quy địnhgiới hạn một cách an toàn bởi sợi dây chính niệm

Đến cột trụ của một đối tượng của thiền quán

Dần dần được thuần hóa bởi cái neo của tuệ trí.

Với kinh nghiệm của chính mình, chúng ta cần nhận ra khi nào mô thức thiền quán của chúng ta trở nên quá hứng thú hay quá giải đải và quyết định sự thực tập tốt nhất để điều chỉnh nó, như được giải thích trong hai phần tới.  Khi khả năng nội quán phát triển, chúng ta sẽ cần đạt đến một cảm nhận nội tại đúng đắn về mức độ căng thẳng, giống như lên dây đàn tây ban cầm cho đến khi sự quân bình đúng mức được thấy, không quá bổng cũng không quá trầm.  Cuối cùng, như một kết quả của sự tích tập kinh nghiệm, chúng ta sẽ có thể nhận raphóng dật hay trạo cử ngay trước khi chúng phát sinh và thực hiện những kỷ năng để ngăn ngừa chúng trổi dậy, xiết chặc hay nới lỏng mô thức tâm ý của việc quán sát đối tượng.

Thiền QuánPhản Chiếu

1-     Đặt tâm thứcchúng ta trên đối tượng thiền quán

2-    Sử dụngnội quán, từ lúc này đến lúc khác kiểm soát để thấy tâm thứcchúng ta có trụ trên đối tượng hay không.

3-    Khi chúng ta thấy rằng sự tập trung của chúng ta bị lạc lối, hãy gợi lại đối tượng và đặt tâm thứcchúng tatrở lại trên ấy thường xuyên nhất khi cần đến.

Trong cách này chúng ta sẽ phát triển những khả năng của chính niệmnội quán.

 ÁP DỤNGPHƯƠNG PHÁPĐIỀU CHỈNH

Khi qua nội quánchúng tanhận ra rằng tâm thứcchúng ta đã đến dưới sự ảnh hưởng của phóng dật hay trạo cử hay chúng ta có một cảm giác rằng những điều này sắp sinh khởi, chúng ta cần áp dụng những phương pháp sửa chửa ngay lập tức.  Chỉ chú ý với những vấn đề này thì không đủ nếu không làm mất tác dụng của chúng.  Hãy nhớ rằng thất bại trong việc đưa vào thi hành những phương phápđiều chỉnh tự nó là một vấn đề, hãy chắc chắnthực hiện chúng đầy đủ.  Đừng làm sai sót giả vờ rằng cả hai vấn đề này là không quan trọng hay chúng ta không có thể ngăn chúng lại.

Phương PhápĐiều Chỉnh đối với Phóng Dật

Trong phóng dật, điều làm nên bởi sự rút lui nội tại quá mức, tâm thức trở nên quá lỏng lẻo, thiếu cường độ, sự căng thẳngyếu kém.  Sự nặng nề của tâm thứcthân thể có thể đưa đến việc trở nên lỏng lẻo, là điều có thể đưa đến việc đánh mất đối tượng quán chiếu, giống như chúng ta rơi vào trong tối tăm; điều này ngay cả có thể làm biến thành giấc ngủ.  Khi phóng dật bắt đầu xãy ra, cần thiết phải nâng caotâm thức bằng việc làmcăng thẳng hơn.

Nếu cần một kỷ năng xa hơn đến cường độ của tâm thức, làm sáng sủa hơn hay nâng cao đối tượng thiền quán hay chú ý cận kề hơn những chi tiết của nó; chú ý vòng cung những chân mày trên hình tượngĐức Phật nếu đấy là đối tượng của chúng ta.  Nếu điều này không thành công, thế thì trong khi duy trìthiền quán, lìa đối tượng chú ý tạm thời và nghĩ về một đề mục làm cho chúng tavui vẻ, chẳng hạn như những phẩm chất diệu kỳ của từ ái và bi mẫn, hay cơ hội tuyệt vờimột đời sống của con người đã ban cho sự thực hànhtâm linh.  Nếu điều này cũng không có hiệu quảchúng ta vẫn bị phóng dật thô làm khó hay hôn trầm (ngủ gục), chúng ta có thể ngay cả rời buổi thiền quán và đi tới một nơi cao hơn, hay một vị trí với một phong cảnhrộng rãi.  Những kỷ năng như vậy sẽ làm cho tâm thức xì hơi của chúng tanâng cao và sắc bén.

Phương PhápĐiều Chỉnh đối với Trạo Cử

Trong thời gian khi tâm thứcchúng ta bị kích thíchchúng ta đã cố gắng để làm thư giản sự căng thẳng của tâm thức, nhưng điều này không có hiệu quả, chúng ta cần một kỷ thuật xa hơn để rút lui sự trạo cử của tâm thức.  Tại điểm này, làm đối tượng thấp hơn hình dung nó nặng nề hơn có thể hổ trợ.  Nếu điều này không thành công , thế thì trong khi tiếp tụcthiền tập, hãy rời đối tượng chú ý một cách tạm thời và nghĩ về một chủ đề làm cho chúng tađiềm đạm hơn, chẳng hạn như vô minhsi ám gây ra khổ đau của vòng sinh tửluân hồi như thế nào bằng việc đặt chúng ta dưới ảnh hưởng của những cảm xúc tàn phá.  Hay chúng ta có thể phản chiếu trên điều nhất định sẽ đến của cái chết.  Cũng hữu ích để nghĩ về những bất lợi của đối tượng mà vì nó chúng ta đã lạc lối, và những tổn hại của chính sự xao lãng.  Những phản chiếu như thế sẽ làm cho tính chấtcăng thẳngquá đáng của tâm thức lơi lõng một ít, làm cho chúng ta có thể duy trìtâm thức trên đối tượng quán chiếu.  Khi điều ấy xãy ra, lập tứctrở lại đối tượng ban đầu.  Đôi khi, tôi thấy rằng nếu thời gianthiền tập của tôi giới hạndo bởi công việc phải làm, ý nghĩa khẩn trương này sẽ thúc đẩy sự nổ lực lớn hơn trong một cách làm mạnh mẽ chính niệm.

NGƯNG NHỮNG PHƯƠNG PHÁPĐIỀU CHỈNH

Khi chúng ta đã áp dụngphương phápđiều chỉnh một cách thành công, điều quan trọng là chấm dứt việc áp dụng nó và trở lại sự chú ý hoàn toàn đến đối tượng thiền quán.  Việc sử dụngquá mức những phương phápđối trị đến phóng dậttrạo cử khi những khuyết điểm này đã được loại trừ tự nó sẽ làm đổ vở sự ổn định mà chúng ta đang tìm kiếm để đạt đến.  Tại điểm này, điều thiết yếu để dừng lại việc áp dụng những phương pháp sửa chửa  và chỉ trụ trên đối tượng, kiểm soát từ lúc này đến lúc khác để thấy hoặc là phóng dật hay trạo cử có sắp trổi dậy hay không.

Sau này, khi chúng ta đã trở nên thiện xảo cao độ trong thiền quán và không còn bất cứ hiểm họa về việc trở nên quá lõng lẽo hay quá căng thẳng, ngay cả duy trì việc quan tâm về khả năng cần thiết để áp dụng những phương phápđiều chỉnh sẽ quấy rầy với việc phát triển nhất tâm bất loạn.  Nhưng đừng dừng lại biểu hiện cảnh giác đến những vấn nạn này quá sớm.  Tôi sẽ diễn tả trong phần tới khi điều này là thích hợp.

NHỮNG TRÌNH ĐỘ CỦA TIẾN TRÌNH ĐỐI VỚI TỊCH TĨNHBẤT ĐỘNG

Giáo huấnĐạo Phậtdiễn tả chiến trình độ của tiến trình đối với tịch tĩnhbất động thật sự; chúng là một bản đồ thiền quán, nói với chúng ta nơi nào chúng ta đang đứng và những gì chúng ta cần làm để tiến bộ.

TRÌNH ĐỘ 1:  ĐẶT TÂM THỨC TRÊN ĐỐI TƯỢNG

Sau khi nghe hay đọc những lời hướng dẫn về việc chúng tathiết lậptâm thức thế nào trên một đối tượng hay đề mụcthiền quán, khởi đầu chúng ta đưa tâm thức vào bên trong và cố gắng để đặt nó ở đấy, có thể rằng chúng ta sẽ không thể giữ tâm thứcchúng ta trên đối tượng và sẽ khó tránh đến một dòng thác của tư tưởng, hết ý nghĩ này đến ý nghĩ khác.  Nếu như thế, chúng ta đang ở trên trình độ thứ nhất. Chúng ta có thể ngay cả có rất nhiều tư tưởng mà dường giống như sự cố gắng thiền quán làm chúng gia tăng, nhưng chúng ta chỉ chú ý đến phạm vi chưa tìm ra được nguồn gốc trước kia của tâm tưởng lang thang của chúng taChúng tacố gắngchính niệmnguyên nhân làm cho chúng tachú tâm đến những gì đang xãy ra.

TRÌNH ĐỘ 2: ĐẶT MỘT CHU KỲ THÍCH HỢP

Khi chúng taáp dụngchính niệm một cách nhiệt thành và hỏi chính mình lần này lần nữa, “Có phải tôi đang trụ trên đối tượng?”  Chúng ta trở nên có thể đặt tâm thức chính mình trên đối tượng trong một thời gian ngắn, mặc dù vẫn có sự xao lãng hơn nhưng có sự chú tâm trên đối tượng.  Đây là trình độ thứ hai, trong mỗi tư tưởng lang thang đôi khi nó ngừng lại và thỉnh thoảngđột nhiên khởi lên.  Những rắc rối chính trong hai trình độ đầu tiên đến từ sự giải đải (lười biếng) và thất niệm (quên lãng) đối tượng, nhưng phóng dậttrạo cử cũng ngăn cản một sự tương tụcvững vàng của sự chú tâmthiền quán.  Trong hai trình độ đầu tiên chúng ta đang hoạt động ở việc đưa tâm thứcchúng ta trên đối tượng, sau này chúng ta sẽ làm việc trên giữ tâm thứcchúng ta ở đấy.

TRÌNH ĐỘ 3:  RÚT LUI VÀ THIẾT LẬP LẠI

Khi chúng tadần dần đi đến việc nhận ra sự xao lãng nhanh hơn và nhanh hơn qua việc chính niệm hơn, chúng ta trở nên có thể đặt sự chú tâm của chúng tatrở lại trên đối tượng khi nó lang thang, giống như đặt một miếng vá trên áo quần.  Chính niệm bây giờ đã trưởng thành đến điểm mà chúng talập tứcnhận ra sự xao lãng.

TRÌNH ĐỘ 4:  CẬN TRỤ

 Khi qua sự trưởng thànhtoàn diện của chính niệm, chúng ta có thể lập tứcchống lại giải đải và thất niệm, chúng ta đi qua trình độ thứ tư, mà trong ấy chúng ta không đánh mất đối tượng trong thất niệmTrạo cử thô đã qua. Nhưng tâm phá hoại lì lợm, tức là những thành phầnvi tế vẫn còn dai dẵng, xen vàoquấy rầy tử lúc này sang lúc khác mặc dù không làm chúng ta đánh mất đối tượng.  Trên ba trình độ đầu tiên, giải đải và thất niệmrắc rối chính, nhưng bây giờ phóng dậttrạo cử đã trở thành sự quan tâm chính.

TRÌNH ĐỘ 5:  KỶ LUẬT TÂM THỨC

Sự nội quán bây giờ trở nên mạnh mẽ hơn và qua kinh nghiệm của chính mình, chúng tanhận ra những thuận lợi của thiền quán một cách ổn định; phóng dật thô không còn sinh khởi nữa.  Sự rút lui tâm thức từ những đối tượng bắt nguồn ở ngoài bây giờ tiến hành quá xa, vì thế điều trở nên cần thiết để áp dụng những sự chửa trị đến phóng dậtvi tế và do thế nâng caotâm thức.

TRÌNH ĐỘ 6: BÌNH LẶNG TÂM THỨC

Bằng việc áp dụng những phương thức chửa trị đến phóng dậtvi tế, chúng tađạt đếntrình độ thứ sáu.  Nội quán đã phát triển toàn vẹn, và qua kinh nghiệm chính mình, chúng ta biết những lỗi lầm của sự tán tâm rãi rác đến những tư tưởng và những cảm xúctiêu cực; phóng dậtvi tế đứng ở tư thế không còn nguy hại lớn nữa.  Tuy thế, chính những phương thức đối trị cho việc vượt thắng phóng dậtvi tế bằng việc nâng caotâm thức có thể đưa đến một tâm thức quá hăng hái, và bây giờ có một hiểm họa của việc phát sinh trạo cửvi tế.

TRÌNH ĐỘ 7:  BÌNH LẶNG TÂM THỨC MỘT CÁCH TRIỆT ĐỂ

Bằng việc áp dụng những phương thức đối trị đến trạo cửvi tế, chúng ta đi đến trình độ thứ bảy.  Ngay khi tham dục, tán tâm, phóng dật, hôn trầm, và những thứ như thế được sản sinh trong ngay cả hình thứcvi tế, chúng tatừ bỏ chúng qua  cố gắng. Bây giờ, chúng ta không cần quan tâm về việc ở dưới sự ảnh hưởng của phóng dậttrạo cửvi tế.  Nổ lực bây giờ có thể dừng phóng dậttrạo cử vì thế  chúng không thể làm tổn hại sự tập trung của chúng ta, ngay cả nếu chúng ta làm những sự quấy rầy nhẹ nhàng.

TRÌNH ĐỘ 8:  THỰC HIỆNNHẤT TÂM

Bây giờ năng lực của sự cố gắng đã trưởng thànhhoàn toàn do thế, với một sự gắng sức nhỏ vào lúc khởi đầu của buổi tập, toàn buổi thiền quán  sẽ được duy trì với sự trống vắng phóng dậttrạo cử, và chúng ta có thể duy trìsự thiền tập ổn định mà không có sự quấy rầy.  Sự phân tích hoặc là phóng dật hay trạo cử có sắp sinh khởi hay không là không cần nữa trong buổi tu tập.  Bây giờ một sự cố gắng như vậy có thể được bỏ qua một bên, nhưng điều này không có nghĩa là đánh mất kiễu mẫu sôi nổi rõ ràng của việc cảm nhận đối tượng.

TRÌNH ĐỘ 9: TÂM THỨC ĐƯỢC TRỤ TRONG SỰ CÂN BẰNG

Bây giờ chúng ta đã đạt đượcnăng lựcquen thuộc từ việc rèn luyện này, sự cố gắng của phương tiệnchính niệmnội quán không cần nữa, và tâm thức trụ chính nó trên đối tượng  trong sự phù hợp của chính nó; trình độ thứ chín là tự phát.  Khi tại lúc bắt đầu của một buổi tu tậpchúng tathiết lậptâm thức trên đối tượng, thiền tập một cách ổn định được kéo dài mà không bị quấy rầy qua năng lực của chính nó, không cần dựa trên ngay cả một sự cố gắng nhẹ nhàng lúc đầu đòi hỏi trên trình độ trước kia.  Chúng ta bây giờ biết không cần áp dụng những phương phápđối trị đến bất cứ loại phóng dật hay trạo cử nào.

NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA TỊCH TĨNHBẤT ĐỘNG

Trình độ thứ chín, mặc dù là biểu hiện tự phát, vẫn đến trước trình độtịch tĩnhbất động (nhất tâm bất loạn).  Qua sự trau dồi xa hơn của chú tâm nhất điểm tự do khỏi những nhược điểm của phóng dậttrạo cử, sự uyển chuyển của tâm thứcthân thể được phát sinh.

Đầu tiên, não bộ chúng tacảm thấy nặng nề, mặc dù không trong một cung cách thoãi mái.  Cũng thế, một cảm giác ting ting được cảm nhận trên đỉnh đầu, giống như cảm giác của một bàn tay ấm đặt trên đỉnh đầu sau khi nó được cạo.  Đây là một dấu hiệu của tính nhu nhuyếntinh thần mà nó xóa đi những sự bất thường của tâm tư ngăn cản sự tập trung hoàn toàn dễ dàng sắp được phát sinh.  Đấy là sự nhẹ nhàng khinh an của tinh thần được phát sinh chỉ từ thiền quán khi tâm thức trụ một cách vui vẻ trên đối tượng của nó.

Sự nhu nhuyếntinh thần này làm cho một năng lượngthuận lợilưu chuyển khắp thân thể, sản sinh tính nhu nhuyếnvật lý xóa đi tất cả những sự lúng túng và bất thường của thân thể có thể đưa đến sự mệt mõi và thiếu nhiệt tình đối với thiền quánThân thểchúng tacảm thấy nhẹ nhàng như bông.  Sự nhu nhuyếnvật lý này lập tức sinh ra một niềm diệu lạcnhu nhuyếnvật lý, một cảm giác thoãi mái lan tỏa khắp thân thể.  Bây giờ chúng ta có thể sử dụngthân thểchúng ta trong những hành viđạo đứcphù hợp với nguyện ước của chúng ta.

Niềm an lạcvật lý này đưa đến một sự an lạctinh thần, gọi là ‘diệu lạcnhu nhuyếntinh thần,’ làm tâm thức tràn đầy hân hoan mà vào lúc đầu hơi quá sôi nổi một tí nhưng dần dần trở nên vững vàngđều đặn hơn.  Ở tại giao điểm này chúng tađạt đượcsự nhu nhuyếnbất biến.  Điều này đánh dấu sự đạt đượctịch tĩnhbất biến thật sự (nhất tâm bất loạn).  Trước điều này, chúng ta chỉ có một trạng thái tương tợ của tịch tĩnhbất động.

Với tịch tĩnh bất đông trọn vẹn phẩm chất, tâm thứcchúng ta được năng lực tập trung tròn đầy đủ để tịnh hóa những cảm xúc tàn phá khi nó kết hợp với tuệ giácnội quán.  Khi chúng tathâm nhập vào trong sự quân bìnhthiền tập, sự nhu nhuyến của tâm lývật lý được phát sinh một cách nhanh chóng, và nó giống như tâm thứcchúng ta được tự hòa lẫn với khoảng không.  Khi chúng ta xuất thiền, thân thểchúng ta giống như mới đối với chúng ta, và những khía cạnh nhu nhuyến của tinh thầnthân thể được duy trì.  Bên ngoài thiền quán, tâm thứcchúng tavững vàng như một ngọn núi và rất trong sáng dường như chúng ta có thể đếm những hạt bụi trên bức tường, và chúng ta có ít hơn những cảm xúc chường ngại ẩn tàng, biểu hiện tự do đối với tham dục vì những khoái lạc của hình sắc, âm thinh, mùi hương, vị nếm, và xúc chạm, cũng như tự do với ý địnhtổn hại, hôn trầm, uể oải, trạo cử, hối hận, và nghi ngờ[1]Cũng thế, giấc ngủ dễ dàng biến thànhthiền tập, mà trong ấy chúng ta có nhiều kinh nghiệm diệu kỳ.

Thiền TậpPhản Chiếu

1-    Để đối trịphóng dật, đấy là một cung cách quá lỏng lẻo của nhận thức trên đối tượng thiền quán:

▪      Đầu tiên cố gắng nhiệt thành hơn một tí cung cách mà chúng ta tập trung với đối tượng.

▪      Nếu điều ấy không thành công, hãy làm sáng sủa hay nâng cao đối tượng hay chú tâm gần hơn đến những chi tiết của tối tượng.

▪      Nếu việc này cũng không có kết quả, rời đối tượng quán chiếu và tạm thời nghĩ về những chủ đềvui vẻ, chẳng hạn như những phẩm chất tốt đẹp của từ ái và bi mẫn hay cơ hội diệu kỳ mà đời sốngcon ngườicung ứng cho việc thực tậptâm linh.

▪      Nếu điều này cũng không hiệu quả, hãy rời buổi thiền tập và đi đến một nơi cao ráo hay một nơi có khung cảnh rộng rãi.

2-    Để đối trị với trạo cử, là điều quá căng thẳng trong việc tập trung trên đối tượng:

▪      Đầu tiên cố gắng nới lỏng một tí cung cách mà chúng taquán chiếu đối tượng.

▪      Nếu điều này không thành công, hạ thấp đối tượng trong tâm thứcchúng ta và tưởng tượng nó như nặng nề hơn.

▪      Nếu điều này không có kết quả, rời đối tượng quán chiếu và tạm thời  nghĩ về một chủ đề làm chúng ta mềm mõng hơn, chẳng hạn như si mê đã đem đến khổ đau như thế nào trong vòngsinh tử luân hồi, cái chết sắp xãy ra, hay những bất lợi của đối tượng làm tâm chúng ta lang thang và những bất lợi của chính sự xao lãng.

Bằng việc học hỏi những kỷ năng này chúng ta sẽ phát triển dần dần khả năng để áp dụng chúng  khi chúng talưu tâm đến những vấn đề với khả năng tập trung của chúng ta trong khi thiền tập.

Trích từ quyển How to See Yourself as You Really Are của Đức Đạt Lai Lạt Ma 
Tuệ Uyểnchuyển ngữ

Bài liên hệ

Đặt Nền Tảng Để Tuệ Giác Sinh Trưởng

Khám phá cội nguồn của vấn đề

Thấu Hiểu Sự Thật Là Cần Thiết

Cảm nhận tác động của mối liên hệ hổ tương

Đánh Giá Đúng Lý Duyên Khởi

Thấy mối liên hệ tương duyên của mọi hiện tượng

Đánh Giá Duyên Khởi Và Tánh Không
Tập trung tâm thức chúng ta

 

 


[1]Tương tự với năm món chướng ngạitham dục, sân nhuế, trạo cử, điệu hối, nghi