NIẾT-BÀN KINH HẬU PHẦN SỐ 0377
TRONG TẠNG ĐẠI CHÁNH
CÓ PHẢI LÀ NỘI DUNG
MÀ NGÀI ĐÀM-VÔ-SẤM TÌM KIẾM?
Chúc Phú


Đối với kinh
Đại bát-niết-bàn, bản của ngài Đàm-vô-sấm 曇無讖 (385-433), mang số hiệu 0374 (Bắc bản) và cả 0375 (Nam bản) trong tạng Đại chánh, khi chuyển dịch sang tiếng Việt, đã có vài
trường hợp người dịch tự tích hợp thêm
Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần 大般涅槃經後分 vào nội dung, tức là phần sau của kinh
Đại bát-niết-bàn, mang số hiệu 0377 cũng thuộc tạng Đại chánh
[1]. Vậy
bản kinh được thêm vào này thực sự có
liên quan đến bộ
Kinh Đại bát-niết-bàn của ngài Đàm-vô-sấm nêu trên? Đây có phải là nội dung kinh quan trọng mà ngài Đàm-vô-sấm dám
hy sinh cả
tính mạng để
nỗ lực tìm kiếm?
1. Vài nét về xuất xứ Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần và mối liên hệ với kinh A-hàm.
Trong tạng Đại chánh,
Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần mang số hiệu 0377, thuộc bộ Niết-bàn, gồm hai quyển. Theo
Tống Cao tăng truyện[2],
bản kinh này do ngài Nhã-na-bạt-đà-la
若那跋陀羅 (
Jñānabhadra) và ngài Hội Ninh 會寧 cùng dịch tại nước Ha-lăng 訶凌國, một tiểu quốc thuộc nước Indonesia ngày nay
[3].
Về
xuất xứ của
bản kinh này,
Phật Tổ thống kỷ ghi:
Vào niên hiệu Long Sóc 龍朔
năm thứ hai (năm 662)
…, Sa-môn Hội Ninh người nước Tây Thục, từ Nam Hải dong thuyền đến nước Ha-lăng, gặp Sa môn Trí Hiền[4] mang phần sau kinh Niết-bàn từ nước Sư Tử đến, liền cùng nhau dịch thành hai quyển[5].
Như vậy, Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần, số 0377 có nguồn gốc từ nước Sư Tử 師子國, cũng gọi là Tích Lan (錫蘭, Sri Lanka). Và do đó, có thể xem bản kinh này có nguồn gốc Nam truyền.
Đồng tình với quan điểm này, ngài Nghĩa Tịnh 義淨 (635-713) đã khẳng định trong Đại Đường Tây Vức cầu pháp cao tăng truyện 大唐西域求法高僧傳:
Trong khoảng niên hiệu Lân Đức (664-665),
[ngài Hội Ninh]
chống tích trượng đến Nam Hải, dong thuyền đến đảo Ha-lăng và tạm dừng ở đây ba năm. Nhân đó, cùng với Tỳ-kheo đa văn Nhã-na-bạt-đà-la người nước Ha-lăng phiên dịch sự kiện hỏa táng kim thân của Như Lai khi ngài Niết-bàn, ở trong kinh A-hàm (阿笈摩, Āgama)
. Kinh này cùng với [Kinh]
Đại thừa Niết-bàn có lẽ không có sự liên quan[6].
Cũng theo Tống cao tăng truyện, trong phần truyện của ngài Trí Hiền và ngài Hội Ninh, Sa-môn Tán Ninh 沙門贊寧 (919-1001) cũng ghi nhận điều tương tự:
Bản kinh này được trích dịch từ trong kinh A-hàm, nói về sự việc như hỏa táng kim quan của Đức Thế Tôn và việc thu lấy Xá-lợi (設利羅, Śārīra – शारीर)…
, so với [kinh]
Đại Niết-bàn có lẽ không có sự liên quan[7].
Qua khảo sát
bước đầu của
chúng tôi, những
nhận định trên của ngài
Nghĩa Tịnh và ngài
Tán Ninh phần nào có cơ sở. Bởi lẽ, có một số
sự kiện trùng hợp về nội dung giữa kinh
Du hành thuộc
Trường A-hàm và
Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần. Đơn cử các
sự kiện như:
Vấn đề giáo hóa Xa-nặc;
Nghi lễ hỏa táng kim thân Đức Phật giống như
nghi lễ của một bậc
Chuyển luân Thánh vương;
Phân biệt Bốn loại tháp như tháp của
Đức Phật, bậc
Độc giác, bậc A-la-hán và vua
Chuyển luân; Về việc
thể nhập và xuất
Bốn thiền, Bốn định trước khi niết-bàn; Về
trường hợp ngài Ca-diếp; Về vị Bà-la-môn chủ trì việc
phân chia xá-lợi
Đức Phật tên là Droṇa (द्रोण)
[8].
Ngoài ra, một trong những cơ sở cho thấy rằng
Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần chưa hẵn là phần sau của kinh
Đại bát-niết-bàn khi khảo sát về
dung lượng chữ nghĩa.
2. Vài nét về nguồn gốc, dung lượng chữ nghĩa giữa Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần với Đại bát-niết-bàn kinh, bản của ngài Đàm-vô-sấm
Xét tổng quan, trong tạng Đại chánh, kinh Đại bát-niết-bàn, bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm có hai truyền bản, bản 0374 có 40 quyển, bản 0375 có 36 quyển, cả hai bản tuy có sự khác biệt số quyển nhưng thực tế nội dung, kể cả chữ nghĩa cũng tương đồng nhau. Trong khi đó, Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần chỉ gồm có hai quyển, vậy hai quyển này có phải là phần sau của bộ kinh Đại bát-niết-bàn, bản dịch của ngài Đàm-vô-sấm?
Để dễ hình dung, chúng ta thử khảo qua vài nét về truyền bản của ngài Đàm-vô-sấm và những vấn đề then chốt liên quan đến truyền bản này.
Theo
Cao tăng truyện, ngài Đàm-vô-sấm 曇無讖 (385-433) người
Trung Ấn Độ, bẩm chất
thông minh,
xuất gia từ thuở nhỏ với ngài Đạt-ma-da-xá 達摩耶舍. Khi chưa tròn hai mười tuổi, trong
một lần luận nghị với Bạch Đầu
Thiền sư 白頭禪師, ngài được vị
Thiền sư này truyền cho
bản kinh Niết-bàn được khắc trên vỏ cây
[9]. Đây là
nhân duyên thuở đầu của ngài với
bộ kinh Đại bát-niết-bàn. Sau khi
trưởng thành và rời
Ấn Độ, ngài Đàm-vô-sấm
mang theo mười quyển đầu của kinh
Đại bát-niết-bàn đến Kế-tân
[10]. Sau đó, nhận sự
thỉnh cầu của Hà tây vương
Thư Cừ Mông Tốn 沮渠蒙遜 (368-433), ngài Đàm-vô-sấm đến Bắc Lương 北涼 (397-439) vừa học tập
ngôn ngữ bản địa để rồi sau đó dịch phần đầu kinh
Đại bát-niết-bàn. Ngài tự biết rằng
bản kinh này chưa đầy đủ nên ra sức
tìm kiếm các phần còn lại và đã tìm được phần giữa
bộ kinh này tại nước
Vu Điền (于闐), sau đó lại sai sứ đến nước
Vu Điền tìm thêm phần sau và dịch thành ba mươi ba quyển
[11] vào niên hiệu Vĩnh Sơ 永初 năm thứ hai (năm 421). Dù
nỗ lực như thế nhưng ngài Đàm-vô-sấm cho rằng, nguyên tác
Phạn ngữ của
bản kinh Đại bát-niết-bàn gồm ba vạn năm ngàn
bài kệ nhưng
bản kinh vừa dịch ở đây đã giảm cả trăm vạn lời, chỉ còn hơn một vạn
bài kệ[12]. Là người từng tiếp cận kinh
Đại bát-niết-bàn bằng nguyên tác
Phạn ngữ, sự khẳng định này của ngài Đàm-vô-sấm đã cho thấy
bản kinh mà ngài vừa dịch sang chữ Hán chưa tới một phần ba so với nguyên tác
Phạn ngữ. Cũng từ
lý do này, vào tháng ba niên hiệu Nghĩa Hòa 義和 năm thứ ba (năm 433), ngài Đàm-vô-sấm xin phép
Thư Cừ Mông Tốn trở lại Ấn Độ để tìm phần còn lại của kinh
Đại bát-niết-bàn.
Thực tế là vậy nhưng lo sợ
kế hoạch quân cơ bị bại lộ và cũng
như không muốn Đàm-vô-sám rơi vào tay Ngụy Lỗ Thác Bạt Đảo 魏虜託跋燾(408-452),
Thư Cừ Mông Tốn đã ngầm sai thích khách
ám hại Đàm-vô-sấm sau khi trang trọng tổ chức lễ
tiễn đưa ngài
trở lại quê hương.
3. Kết luận
Đầu tiên, sự kiện Niết-bàn của Đức Phật là một sự kiện trọng đại đối với toàn thể đệ tử Phật nói chung. Tùy theo tông chỉ, chủ trương của từng nhóm đệ tử, từng bộ phái mà cách nhìn nhận sự kiện Niết-bàn của Đức Phật khác biệt nhau. Bản Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần theo nhận định của ngài Nghĩa Tịnh, ngài Tán Ninh và thực tế khảo sát của chúng tôi đã cho thấy, bản kinh này thuộc về hệ thống kinh điển A-hàm. Sự đa dạng về các bộ kinh liên quan đến sự kiện Niết-bàn của Đức Phật có thể tìm thấy qua nhiều bản kinh thuộc Bộ A-hàm (阿含部) và nhiều nhất là ở Bộ Niết-bàn (涅槃部) trong tạng Đại chánh.
Thứ hai, hai truyền bản kinh Đại bát-niết-bàn số 0374 và 0375 của ngài Đàm-vô-sấm trong tạng Đại chánh thuộc về thể loại kinh điển phương đẳng Đại thừa, được truyền thừa từ phương Bắc xuống. Trong khi đó, bản Đại Bát-niết-bàn kinh hậu phần có nguồn cội từ Tích Lan và được truyền đến từ phương Nam. Kế đến, theo như lời ngài Đàm-vô-sấm, bản kinh Đại bát-niết-bàn mà ngài đã dịch chưa đầy đủ hoàn toàn, chỉ hơn một phần ba bản gốc mà đã chiếm dung lượng 33 quyển lúc mới phiên dịch, hoặc chia thành 40 quyển (Bắc bản), hay 36 quyển (Nam bản). Nếu như phần sau của bản kinh Đại bát-niết-bàn thì phải gấp hai lần số quyển vừa nêu thì mới phù hợp.
Thứ ba, theo
Cao tăng truyện[13],
pháp sư Tuệ Quán 慧觀法師 với
chí nguyện muốn tìm
Hậu phần niết-bàn nên vào niên hiệu Nguyên Gia 元嘉 (424-453) đã
thỉnh cầu Tống
Thái Tổ[14] 宋太祖
chu cấp tư lương, cử Sa-môn Đạo Phổ 沙門道普
mang theo thư cùng với mười người đi đi về phương Tây để tìm kinh, đến quận Trường Quảng
[15] 長廣郡, thuyền bị phá nước, [Đạo Phổ]
bị thương ở chân, nhân đó
lâm bệnh rồi qua đời. Khi
lâm chung, ngài Đạo Phổ than rằng:
Hậu phần Niết-bàn đối với đất Tống quả không có duyên[16]!
Như vậy, phần sau kinh
Đại bát-niết-bàn theo bản của ngài Đàm-vô-sấm có
thể không phải là bản
Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần, số hiệu 0377 trong tạng Đại chánh. Việc không sáp nhập hai
bản kinh này vào nhau là một
phương cách xử lý văn bản
hợp lý của các nhà
Phật học Nhật Bản trong khi
biên tập tạng Đại chánh, đáng để
tham chiếu và
cân nhắc vận dụng.
________________
[1] Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần 大般涅槃經後分 (
T.12. 0377. 0900a03-0912a16). Hai bản
dịch kinh Đại bát-niết-bàn của HT.Thích
Trí Tịnh và Đoàn Trung Còn-Nguyễn Minh Tiến đều có thêm
bản kinh này vào nội dung.
[2] Tống cao tăng truyện 宋高僧傳 (T.50. 2061.2. 0717b24).
[3] Theo Phật tổ thống kỷ 佛祖統紀 (T.49. 2035.32. 0316a04), nước Ha-lăng 訶凌 (Kalingga) nằm kề cận Thất-lợi-phật-thệ 室利佛逝 (Srivijaya) và Mạt-la-du 末羅瑜 (Melayu).
[4] Trí Hiền (智賢): Dịch nghĩa từ Jñānabhadra (若那跋陀羅).
[5] Theo Phật tổ thống kỷ 佛祖統紀 (T.49. 2035.39. 0367c05). Nguyên tác: 西蜀沙門會寧自南海附舶至訶陵國遇沙門智賢齎涅槃後分自師子國來即與對譯成文二卷.
[6] Đại Đường Tây Vức cầu pháp cao tăng truyện 大唐西域求法高僧傳 (T.51. 2066.1. 0004a05-0004a08): Nguyên tác: 爰以麟德年中仗錫南海.汎舶至訶陵洲. 停住三載. 遂共訶陵國多聞僧若那跋陀羅,於阿笈摩經內譯出如來涅槃焚身之事. 斯與大乘涅槃頗不相涉.
[7] Tống cao tăng truyện 宋高僧傳 (T.50. 2061.2. 0717b28). Nguyên tác: 此於阿笈摩經內譯出說世尊焚棺收設利羅等事與大涅槃頗不相涉.
[8] Theo Từ điển Phạn ngữ của Williams Monier, Droṇa (द्रोण) có nghĩa là mây mù, hơi nước. Có thể dựa vào nghĩa này nên Du hành kinh 遊行經 (T.01. 0001.2 0029b18) dịch nghĩa là Hương Tánh (香姓) còn ở Đại bát-niết-bàn kinh hậu phần 大般涅槃經後分 (T.12. 0377.2. 0912a16) dịch nghĩa là Tánh Yên (姓煙).
[9] Cao Tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.2. 0335c25). Nguyên tác: Thiền sư liền truyền cho bộ kinh Niết-bàn làm bằng vỏ cây (禪師即授以樹皮涅槃經本). Trong lịch sử truyền thừa kinh điển, bên cạnh thể loại kinh được ghi bằng lá bối (貝葉, Palm) thì chi tiết bộ kinh làm bằng vỏ cây (樹皮) là một chi tiết chứa dựng nhiều giá trị lịch sử. Thứ nhất, dường như đây là một văn bản kinh điển chép tay đầu tiên được ghi nhận trong kinh văn Hán tạng. Thứ hai, thể loại kinh điển viết trên vỏ cây (樹皮) đã được chứng minh là một hiện vật lịch sử, vừa được phát hiện qua 29 thủ bản kinh cổ ở Gandhara, được viết trên vỏ cây bạch dương (birch bark). Xem thêm, Richard Salomon, Ancient Buddhist Scrolls from Gandhāra: The British Library Kharosthī Fragments, Seattle: University of Washington Press, 1999. p.15,89,186.
[10] Cao Tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.2. 0336a12): Nguyên tác: 往罽賓齎大涅槃前分十卷.
[11] Như trên. Nguyên tác: 三十三卷
[12] Như trên, trang 0336b08. Nguyên tác: 讖云: 此經梵本本三萬五千偈, 於此方減百萬言, 今所出者止一萬餘偈.
[13] Như trên, trang 0337a23.
[14] Tống Thái Tổ ở đây chính là Tống Thái Tổ Văn hoàng đế 宋太祖文皇帝 (407-453), cũng gọi là Lưu Tống Văn đế, 劉宋文帝, tên húy là Lưu Nghĩa Long 劉義隆,thuộc triều Lưu Tống 劉宋, cũng gọi là Nam Tống 南宋; khác với Tống Thái Tổ, vị hoàng đế khai quốc nhà Bắc Tống 北宋,tên thật là Triệu Khuông Dận 趙匡胤 (927-976), tự là Nguyên Lãng 元朗.
[15] Là một quận lỵ được thành lập từ thời Đông Hán 東漢, nay thuộc tỉnh Sơn Đông 山東省, Trung Quốc.
[16] Cao Tăng truyện 高僧傳 (T.50. 2059.2. 0337a27). Nguyên tác: Niết-bàn hậu phần dữ Tống địa vô duyên hỹ! (涅槃後分與宋地無緣矣).