Thích Giác Toàn
1
Hòahợp là tụhọp với nhau trong thuận thảo, không tranh chấp, không xung đột.
Một cộng đồnghòa hợp luôn ở trạng thái ổn định, các thành viên khôngmâu thuẫn nhau nên không tranh chấp không xung đột; hoặc nếu có thì cũng dễ dàn xếp. Hòa hợp là phẩm chất cần thiết cho việc sống chung trong xã hội. Xã hộihòa hợp là điều kiệncần thiết cho ổn định để phát triển và mang lại an lạc. Tương tức là đến với nhau ngay tức thì, là cùng nhau có mặt. Tương tứclà một vế của cặp khái niệm tương tức-tương nhập thể hiệngiáo nghĩa“nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất” hay “một là tất cả, tất cả là một” được triển khai trong kinh Hoa Nghiêm, nói lên điều Đức Phật dạy, “cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh” trong
giáo lýDuyên khởi. Khái niệm tương tức chỉ cho ta thấy mọi sự vật đều liên hệmật thiếtvới nhau, khi một vật bị hư tổn thì mọi vật khác đều bị ảnh hưởng. Hòa hợp và tương tức cần được ứng dụng để góp phần tạo nên
sự an lạc cho đời sốngxã hội.
2
Chúng sinh khác nhau vì mỗi người một nghiệp; nhưng, chia sẻ một môi
trường sống, có mặt trong cùng một cộng đồng, họ cũng có những nghiệp chung. Giữa cộng đồng, mỗi người tự thấy mình là một cá thể riêng biệt, chứa đựng nhiều yếu tố khác nhau do nghiệp lựcchi phối. Những khác biệt
đó có thể tạo mâu thuẫn, có thể không có tính đối kháng, nhưng thường có khả năng gây nên tranh chấp, xung đột, làm mất ổn định và tiêu hao năng lựccộng đồng. Để duy trì ổn định, các cộng đồngthực hiện việc giáo dụctruyền thống cho các thành viên, xây dựng những tục lệ hay tập quán tốt đẹp, chế định hệ thốngpháp luậthợp lý, tổ chức một bộ máy kiểm soát hữu hiệu, và thiết lập một hệ thống phân xử công bằng. Nói chung, khi con người trong cộng đồng không cảm thấy mình bị đe dọa bởi các thành viên khác, các nhóm thành viên khác hay cả cộng đồng, thì cộng đồng đó sẽ có được sự hòa hợp.
Cộng đồng Tăng-già của Phật giáo đã tạo cho mọi thành viên một cảm giácan toàn để duy trì sự hòa hợp suốt chiều dài lịch sử hơn 2.500 năm qua. Đó là nhờ Phật giáo có những pháp môn tạo nên sự hòa hợp rất hữu hiệu: sáu pháp hòa kính, bảy pháp giập tắt sự tranh chấp, và bốn pháp nhiếp hóa.
a. Sáu pháp hòa kính được Đức Phật dạy các đệ tửxuất gia của Ngài lấy làm nền tảng cho nếp sốngTăng đoàn. Theo kinh Kosambiya, bản kinh số 48 của Trung Bộ,
tại tịnh xá Ghosita ở Kosambi, các Tỳ-kheo thường xuyêntranh luậnvới
nhau, dẫn đến mâu thuẫn không chịu hòa giải. Đức Thế Tônquở trách và vạch ra cho họ thấy điều đó chỉ đưa đến bất hạnh và đau khổ rồi Ngài dạy
chư Tỳ-kheo nói trên sáu phép hòa kính. Nội dung lục hòa cũng được nêu trong kinh Samagamasuttam, bản kinh số 104 của Trung Bộ.
Thấy trưởng lãongoại đạo là Niganta Nataputta tạ thế để lại các đệ tử tranh cãi nhau rồi chia thành hai phe, các đệ tử của Đức Phật thỉnh Ngài chuẩn bị trước để tránh sự chia rẽ của giáo đoàn một khi Ngài nhập diệt. Bấy giờ, Thế Tôngiải thích về sáu nguồn gốc tranh luận rồi nêu lên sáu pháp hòa kính. Giữa hai bản kinh, do duyên sự khác nên điều Đức Phậtgiảng giải có khác; một đằng, Đức Phật nói tới lợi lạc của sáu pháp
hòa kính; đằng khác, Ngài nói thêm về bảy pháp giập tắt sự tranh chấp. Trong Hán tạng, kinh Lục trọng pháp thuộc Trung A-hàm có nội dung tương tựbản kinhSamagamasutta, nhưng nêu lên sáu phép lục hòa theo thứ tự khác, gồm 1. Thân hòa cộng trú, 2. Khẩu hòavô tránh, 3. Ý hòa đồng duyệt, 4. Giới hòa đồng tu, 5. Kiến hòa đồng giải, và 6. Lợi hòa đồng quân.
Nội dung của sáu pháp hòa kính thống nhất giữa các tông phái. Ba
pháp đầu liên quan đến hạnh kiểm cá nhântrong đời sống cộng đồng; ba pháp sau liên quan đến sự tương tác của cá nhân với yếu tố bên ngoài: với lợi dưỡng, với sự tiến bộ về giới đức, với sự tăng trưởngtrí tuệ do
tu tập. Pháp mônlục hòa đòi hỏi cá nhân phải rèn luyện nhưng cũng yêu cầucộng đồng luôn tinh tấnquán sát, sớm phát hiện mọi mầm mống gây mất
ổn định và giúp đỡ từng cá nhântu tập. Người xuất gia, tìm kiếmgiải thoát, từ bỏgia đình, sống theo hạnh xuất ly, không ôm giữ tài vật, không mong cầu danh vọng thế tục, đã có nhận thức sâu sắc về vô thường, vô ngã, và duyên sinh, dễ dàng thực hiện các pháp lục hòa để tạo nên sự hòa hợp của Tăng chúng, đã gìn giữgiáo pháp này và thực sự mang lại an lạc cho đời sốngTăng đoàn ở mọi nơi.
b. Thất diệt tránh pháp được Luật tạnglần lượt đưa ra trước mỗi hoàn
cảnhcụ thểtrong đời sống Tăng đoàn thời Đức Phật; cũng các pháp này được quy địnhmột lần trong bản kinhSamagama thuộc Trung Bộ; có thể được coi là tương đương với luật tố tụng trong pháp luậtthế tục, gồm những biện pháp như sau: 1/ luật có mặt (ưng dữ hiện tiền tỳ-ni), 2/ luật nhớ lại (ưng dữ ức niệm tỳ-ni), 3/ luật không mất trí (ưng dữ bất si tỳ-ni), 4/ luật chỉ xử trị lỗi khi người phạm lỗi tự nói ra (ưng dữ tự ngôn trị), 5/ luật thẩm tra về bản chất tội đã phạm (mích tội tướng hay tội xứ sở), 6/ luật đa sốphán quyết (đa nhân mích tội), và 7/ luật khỏa lấp sự việc như cỏ che mặt đất (như thảo phú địa). Luật
tạng tường thuật chi tiếttrường hợp đã xảy ra khiến Đức Phật phải quy định bảy biện pháp nói trên; do đó, mỗi khi cần áp dụng vào một trường hợpcụ thể, Tăng đoàn phải đối chiếu với hoàn cảnhban đầu, coi như việc
tham khảoán lệ trong luật phápthế tục.
c. Bốn pháp nhiếp hóa nhằm thu phụcchúng sanh đưa họ quay về với Phật pháp, cũng là cách để người tại giaduy trì sự hòa hợp của các hội chúng hay trong cuộc sống gia đình; được nêu lên trong chương Bốn pháp của kinh Bộ Tăng chi và trong kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt thuộc Trường Bộbằng những bài kệ, gồm Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, và Đồng sự. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt cho rằng người thực hành bốn pháp nhiếp hóa luôn được mọi người kính nể và tuân phục; được bài kệ minh họa bằng hình ảnhcác nhiếp sự làm cho thế giớixoay quanh người thực hành nhiếp sự như bánh xe quay theo trục xe.
Các pháp môn nêu trên dựa vào sự tôn trọng mọi thành viên trong Tăng đoàn, coi mọi thành viên là bình đẳng, chỉ hơn kém nhau về giới đức, không lấy số đông đè nén nhóm thiểu số, không lấy tập thể đàn ápcá
nhân, đòi hỏi sự đồng thuận trong mọi trường hợp. Những vấn đềkhông giải quyết được, Tăng đoànchấp nhận gác qua một bên để duy trì sự hòa hợp. Giáo pháp luôn nhắc đến tính cáchthích đáng của quy định. Chẳng hạn, khi nói giới hòa đồng tu thì giới phải là giới thanh tịnh, phù hợp với mục tiêutu học của Tăng chúng; khi nói về kiến hòa đồng giải thì phải là tri kiến của bậc thánh có khả năng hướng thượnghay tri kiếnthánh thiệnđưa tớixuất ly đoạn tận khổ đau. Tạo được sự hòa hợp cho Tăng đoàn hẳn là các pháp môn này cũng có thể áp dụng cho đời sốngthế tục.
3
Cặp khái niệm tương tức, tương nhậpcủa giáo nghĩaHoa Nghiêmtriển khaigiáo lýDuyên khởi,
nhấn mạnh việc mọi sự mọi vật đều chứa đựng nhau, giao tiếp với nhau không trở ngại tuy có sự đa tạp trong thế giớihiện tượng. Khái niệm tương tứcđược Pháp môn Làng Mai của Thiền sưNhất Hạnhtriển khairộng rãi trong mọi ấn phẩm của giáo đoàn này.
Duyên khởi là giáo lý căn bản của nhà Phật, là Lậu tận trí được Sa-môn Cồ-đàm như thật thấy biết bằng thiền định để phát biểu, “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” (Kinh
Sợ hãi khiếp đảm, Trung Bộ); từ đó Ngài được kính ngưỡng là bậc đã giải
thoát, là Phật, là Thế Tôn. Giáo lýDuyên khởi là xương sống của giáo lý nhà Phật. Không ít lần chính Đức Phật đã nói, “Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp. Ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi”. Trong kinh Phật tự thuyết, Đức Thế Tôn dạy, “Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh”. và “Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu; do cái này diệt, cái kia diệt”. Từ căn bản này, giáo lýDuyên khởi đã hình thành với sự đóng góp tuệ giácthực chứng của nhiều thế hệluận sưPhật giáo.
Giáo lýDuyên khởigiải thích sự vận hành của luân hồidựa trênnhân quảnghiệp báo của chúng sinhthể hiện qua 12 chi phần của chuỗi nhân duyên, nêu rõ tính chất tương duyên tương tác trong sự hình thành và hiện hữu của thế giới khách quan; khẳng định con người vì sự bám chấp những ảo tưởng từ nhiều đời nhiều kiếp trong tàng thức khiến mang lại khổ đau; chỉ rõ mọi chúng sinhtồn tại nhờ có sự tồn tại của những yếu tố ngoài chúng sinh; khẳng định mọi sự mọi vật đều nương nhau mà biểu hiện. Từ đó, những giáo lý về Khổ, Không, Vô thường và Vô ngã hình thành. Cũng từ đó, con đườnggiải thoát mở ra cho mọi người. Nếu cắt được bất kỳ một mắt xích nào trong
12 chi phần của vòng duyên sinh, con người có khả năng thoát khỏi mọi
đau khổ của cuộc sống. Trong 12 mắt xích đó, con người có nhiều cơ hội để cắt được mắt xích ái.
Giáo lýDuyên khởi là cái thấy độc đáo nhất trong lịch sửtôn giáo và
triết học. Giữa khi mọi hệ thốngtư tưởng khác xưa nay đều đề cao cái ta, bám chặt vào ta và cái của ta, thì Đức Phật nói lên tiếng nói vô ngã, khẳng định cái ta là giả hợp, do duyên sinh mà có, nương vào những cái không phải ta mà có, cũng liên tụcbiến đổi như vạn sựvạn vật trong tam giới.
Tông Hoa Nghiêm nêu ra những khái niệm dị thể tương nhập, đồng thểtương tức, nhất đa tương dung cho
thấy mọi sự mọi vật đều dung thông nhau, đều chứa đựng nhau mà không trở ngại trong không gian và thời gian. Trong pháp giới có lý và sự, nghĩa là có bản chấtvà hiện tượng, nhưng lý sự vô ngạimà sự sự cũng vô ngại, vì một là tất cả mà tất cả cũng là một.
Trong Phật giáohiện đại, Pháp môn Làng Mai do Thiền sưNhất Hạnhlãnh đạo đã sử dụngtriệt để khái niệm tương tức với sự giản lược khéo léo cả giáo nghĩaHoa Nghiêm và giáo lýDuyên khởi để đưa vào ứng dụng trong xã hội.
Ban đầu, khái niệm tương tứcđược xây dựngtừ ý niệm Đạo Phậtđi vàođời sốngrồi được chuyển thành thuật ngữ Tiếp-Hiện, với ý nghĩa là tiếp xúc với hiện tại. Từ điển trực tuyến Wikipedia giải thích bằng tiếng Anh tiếp là “being in touch with” có nghĩa “tiếp xúc với” và hiện là “making it here and now” có nghĩa “thực hiện điều đó tại đây và ngay bây giờ”. Khái niệm này được Thiền sưNhất Hạnh chuyển dịch sang tiếng Anh bằng từ mới là inter-being, trong đó inter mang ý nghĩacó sự liên hệ giữa hai hay nhiều vật, đồng nghĩa vớitương trong tiếng Hán Việt; và being chỉ cho việc khái niệm hóa các khía cạnh chủ quan và khách quan của thực tại, là cái đang là, cái đang có mặt, đồng nghĩa vớitức trong tiếng Hán Việt. Tùy trường hợp, thuật ngữinter-being có thể diễn tả cả ý niệmtiếp hiện lẫn khái niệm tương tức.
Duy biểu học của Thiền sưNhất Hạnh nêu rõ, “Tương
tức và tương nhập là hai ý niệm của Hoa Nghiêm. Tương tức nghĩa là cái này là cái kia (inter-are), tương nhập nghĩa là cái này đi vào cái kia (inter-penetration). Trong nhận thứctương tức, tương nhập thì đám mây nằm trong bông hoa và bông hoa nằm trong đám mây. Điều này có thể quán chiếu” (Bài tụng số 35). Và ở một đoạn khác, “Trong thế giới của phân biệt thì… sự vật ở ngoài nhau, như bình trà ở ngoài cành cây… Trong thế giới của quán chiếu… thì… Nhìn bình trà chúng ta thấy có đất, có nước, có lửa, có không gian, có thời gian, và… không có hiện tượng nào trong vũ trụ mà không có mặt trong bình trà” và “Cái một chứa đựng cái nhiều và cái nhiều chứa đựng cái một. Bình hoa cũng là bông hoa, bởi vì không có bông hoa thì cũng không có bình hoa… Đó gọi là
tương tức. Cái một do cái tất cả mà có, cái tất cả do cái một mà có. Nói một cách khác như Bụt đã dạy: Cái này có vì cái kia có” (Bài tụng 13).
Tu tậpmở rộng, hành giả thấy khi tác động vào những gì ngoài ta, ta cũng tác động vào ta; nói khác, làm hại bất kỳ một sự vật nào ngoài ta là làm hại chính mình. Quán chiếu sâu, hành giả vượt thoát ý niệm, tiếp xúc với sự thậttuyệt đối, với chân như, thấy biết đau khổ của người khác là đau khổ của chính mình; xoa dịuđau khổ cho người khác là tích cựcxoa dịuđau khổ cho mình. Vượt qua khổ đau, hành giảtiếp xúc với những gì mầu nhiệm. Bài tụng thứ 47 trong Duy biểu học viết, “Tiếp
xúc với đau khổ chưa đủ, phải tiếp xúc với những mầu nhiệm, lành mạnh. …
trong truyền thốngNam tông, người ta nói nhiều quá về đau khổ (dukkham)… đạo Bụt Bắc tông, đạo Bụt Đại thừa, … đã chỉ cho chúng tatiếp xúc với những gì mang lại hạnh phúc (sukham). Do đó, … chúng ta thấy có các thiền sư làm thơ ca ngợi hoa vàng, trúc biếc… Họ ca ngợipháp thânbất diệt, nghĩa là họ nói tới chân như duyên khởi chứ không phải chỉ nói tới vô minhduyên khởi. Chân như duyên khởi luôn luôn biểu hiện ra những gì tươi đẹp”.
Với khái niệm tương tức, pháp môn Làng Mai đang dựng lên một pháp giớithanh tịnh tại đây và ngay bây giờ. Quán chiếutương tức, hành giảnhận biếtnhất thiết duy tâm tạo. Đau khổ hay hạnh phúchoàn toàntùy thuộc vào tâm mình, mặc cho thế giớihiện tượng như thế nào. Nếu cảm nhận hạnh phúc, ta đóng góp vào hạnh phúccộng đồng. Nếu cảm nhận đau khổ, ta gieo thêm đau khổ cho người khác và chính ta đau khổ hơn.
4
Hòa hợp và tương tức là hai mặt của một vấn đề. Có hòa hợp là để thực hiệntương tức; quán chiếutương tức thì thấy phải củng cốhòa hợp.
Hòa hợp là phẩm chất thiết yếu của đời sốngcộng đồng và quán chiếutương tức là chất xúc tác để duy trì phẩm chất ấy. Điều này cần áp
dụngtrong đời sống cộng đồnghiện tại để giảm bớttranh chấpxung đột vẫn làm cuộc sống loài người mất ổn định, gây đau khổ và đe dọa sự tồn tại của giống loài. Thế giới ngày nay đầy dẫy tranh chấp và xung đột vì người và người quá nhiều khác biệt mà ai cũng tham áichấp thủ. Sự gắn kết của ngũ uẩn khiến con người có ảo tưởng về một cái tôi riêng biệt, tồn tại chắc thật; tìm cáchcủng cố cái tôi đó với tham giận, kiêu căng,
ngờ vực… Ngày nay, các nhà tư tưởng phương Tây bắt đầu không còn tin vào một cái tôi chắc thật khi đặt câu hỏi về ranh giới giữa con người với những gì ngoài con người.
Con ngườicần phải khéo léo tạo ra hoàn cảnhthuận lợi cho mình. Hiểu
về tương tức, ta biết hành động ác đem lại điều xấu cho người thì cũng tác động đến mình; từ đó, con người hành xử cẩn trọng. Cộng đồng ổn định
thì sinh hoạtcá nhân ổn định, cộng đồngxáo trộn thì sinh hoạt từng cá nhân cũng xáo trộn theo. Hiểu về tương tức, ta biết chỉ một cá nhân không sống hòa hợp đủ làm cộng đồngxáo trộn. Được rèn luyện về các
pháp mônhòa hợp, Phật tử biết cách gìn giữ sự hòa hợp của cộng đồng. Nhưng phải chăng những pháp môn ấy chỉ ứng dụng được cho những cộng đồng
nhỏ bé, nơi mọi thành viên có cùng một lý tưởng đạt tới sự giác ngộ, giải thoát? Xã hộiloài ngườivô cùng lớn, là đấu trường của vô số khuynh hướng khác biệt, hoàn toànđối kháng nhau chứ không nói chỉ mâu thuẫn; làm thế nào có thể ứng dụng các giáo pháp của Đức Phật để tạo
nên sự hòa hợp? Để trả lờivấn đề này, trước hết cần nhìn vào thực tiễn
cuộc sống hiện tại của xã hộiloài người.
Trong thế kỷ 20, loài người đã chia rẽ hết mức vì ý thức hệ. Thành công trong khoa học và kỹ thuật khiến con người có cảm tưởng đã làm chủ được vũ trụ. Nhưng về tâm lý, con người vẫn bị đe dọa bởi những cái ngoài mình; họ cần phảitranh đấu, phòng thủ, giành giật, khống chế người khác… để tạo cảm giácan toàn. Trong bất an, con người đã tiến hành mọi loại chiến tranh; không chỉ là giết nhau ngoài chiến trường, mà còn là tranh chấp trong mọi lãnh vực. Sau chiến tranh, kẻ chiến thắng cũng bị thương tật vì những hoạt độngphá hoại của chiến tranh đã tàn phá môi trường sống.
Ngày nay, những vấn đề toàn cầu buộc con ngườiý thức về vận mệnh của giống loài. Nhiều hiện tượngthiên nhiên cho thấy con người chưa làm
chủ được trái đất, nói chi tới vũ trụ. Thân phậncon ngườigắn liền với
sự lành mạnh của môi trường. Sự kiêu ngạo và tính phù phiếm của họ đang
buộc họ phải trả giá trước những hiện tượng như biến đổi khí hậu, thay đổi nhiệt độ của khí quyển, tan băng ở các vùng cực, đảo lộnáp lực trong ruột quả đất… Cảm thấycần phải thống nhất ý chí trong một số lãnh
vực, con người gần lại với nhau hơn, hiểu rằng mọi người đều có chung một số phận gắn với sự phát triển nền văn minh toàn cầu. Đó chính là tiền đề cho việc ứng dụng vào cuộc sống những điều tinh túy trong giáo pháp của Đức Phật.
Tăng đoàn của Đức Phật có sự bình đẳngtuyệt đối; xã hội cũng phải có
sự bình đẳngtuyệt đối giữa mọi người, không ai được quyền ưu tiên. Trong Tăng đoàn của Đức Phật, mọi người đều tôn kính người khác, chính Đức Phật không bao giờ coi thường ai; xã hội cần giáo dụcmọi người biết kính trọng nhau để không ai bị ức chế vì thấy mình không xứng đáng.
Các thành viên của Tăng-già chia sẻ nhau mọi quyền lợi; xã hội cần giáo
dụcmọi người biết chia sẻ với những người không may bằng mình; luật pháp cần thỏa mãn mọi nhóm lợi ích khiến mọi người yên tâm rằng luật pháp là công bằng. Mọi người cần biết tôn trọng đúng mức các quy định của luật pháp, luật pháp cần phổ biếnrộng rãi để mọi ngườiý thức nghĩa
vụ và quyền lợi của mình. Mọi tri thứccần thiết cho cuộc sống cần phổ biếnrộng rãi với sự trung thực. Người cần tiếp cận tri thức với những mục tiêulành mạnh phải được thỏa mãn và có sự trao đổicặn kẽ để những tri thức ấy được sử dụng có lợi nhất. Như vậy, xã hội có thể ngăn ngừa được nhiều mầm mống tranh chấpxung đột. Khi tranh chấpxung đột lỡ xảy ra, mọi việc đều phải được giải quyết một cách công khai trên tinh thầnhòa giải.
Ý nghĩabình đẳng nên được áp dụng một cách thực tiễn ngay trong cuộc
sống của học sinh, thông qua việc mọi học sinh đều sử dụng một hình thức đồng phục trên toàn quốc, để khi các em đến bất kỳ trường học nào đồng cấp, các em cũng không thấy có sự phân biệt. Việc gìn giữđạo đứccần phải được thể hiện ở mọi người dân. Ngôn ngữ dùng trong đời sống hàng ngày phải được uốn nắntriệt để sao cho lời lẽ thô tục không được thốt ra trong mọi tình huống. Mọi mâu thuẫn nếu có phải được giải quyết
sớm trước khi biến thànhxung đột. Các địa phương quán sát và phát hiện sớm mọi biểu hiện bất thường nơi các thành viên thuộc tập thể của
mình và áp dụng những biện pháp như của Tăng đoàn để xử lý theo tinh thần của thất diệt tránh pháp.
Điều quan trọng là phải tạo được sự công bằng trong việc phân phối thu nhập. Những doanh nhân có thu nhập cao nên là những tài chủthực hiện những hoạt độngxã hộitừ thiện mà đối tượng hưởng dụng là các thành viên thuộc cộng đồng gần gũi nhất với mình; chẳng hạn, người trong
công ty, xưởng máy, xí nghiệp do chính mình làm chủ, dân chúng trong khu vực mà công ty, xưởng máy, xí nghiệp của mình đặt trụ sở… Có thể thành lập những quỹ tương trợ ở từng địa phương được quản lý bởi chính những nhà hảo tâm đã có nhận thức đúng mức về tương tức và hòa hợp. Tinh
thầngiáo pháp của nhà Phật nên được phổ biếnrộng rãi bằng ngôn ngữthế tục, không mang màu sắc Phật giáo, được soạn thảo kỹ lưỡng để người dân dễ tiếp thu. Ngay cả việc tham dự vào chính quyền để hoạt động chuyên về lãnh vực tạo hòa hợp cũng là vấn đề cần lưu ý.
Đức Phật nói pháp để ban vui cứu khổ, không chỉ phục vụchư Tăng Ni lánh đời tìm giải thoát. Lịch sử đã chứng minh khi giáo pháp của Đức Phật được ứng dụng đúng mức trong xã hội thì xã hộian lạc mà vẫn phát triển. Chúng ta tin rằng việc đưa tinh thầngiáo pháp của nhà Phật vào ứng dụng trong xã hội sẽ là một biện phápđứng đắn không chỉ đem lại hòa
hợp cho cộng đồngxã hội mà còn có thể giúp duy trì hòa bình nhân loại.
■
Tạp Chí Văn HóaPhật Giáo số 144 & 145


























