TRONG VIỆC MỞ RỘNG CƯƠNG GIỚI THỜI LÊ- NGUYỄN
Thích Tâm Chánh
Đặt vấn đề
Phật giáo Việt Namthời kỳ Lê- Nguyễn thế kỷ XV- XIX, có thể nói không còn đóng giữ vai trò quan trọng và chiếm lĩnh vị tríquốc giáo như thời Lý- Trần. Tuy nhiên, nhìn nhận xuyên suốt tiến trình lịch sửtrong khoảngthời gian 500 năm tồn tại, những dấu ấn sâu sắc để lại trong lòng đời sốngquần chúngnhân dân của Phật giáo ở thời kỳ này không vì thế mà trở nên mờ nhạt và thiếu mất sự ảnh hưởngnhất định đến bối cảnh thời đại Lê- Nguyễn. Cụ thể, khi không còn đóng giữ vị tríđặc biệt trên vũ đài chính trị, thì Phật giáolui vềsinh hoạtgắn bó trong lòng đời sốngnhân dân; thiết lập các phương thức tu tập và sinh hoạttruyền thốngđáp ứng những nguyện vọng, nhu cầu tâm linh cùng với đông đảo quần chúngphật tử. Đặc biệt, trong công cuộc Nam tiến mở rộng cương giới về phía Nam diễn ra dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, có thể thấy một mô hình Phật giáobình dân đã được kiện toàn thiết lập ngay trong đời sống sinh hoạtPhật giáo bấy giờ với các triết lý tu tập được vận dụng, thực thi vào nếp sốngthực tiễn, từ đó giúp làm điểm tựatinh thần cho giới lãnh đạo cùng đông đảo quần chúngnhân dân trong việc bình ổn đời sống về mọi mặt, nhất là ý niệm mưu cầu hạnh phúc bình yên buổi đầu tại vùng đất Đàng Trong ngang qua vai tròhộ trìtích cực của Phật giáo với những triết lý sống được hiện thực hóa, áp dụng trong mọi giai tầng của xã hội để nương tựa thực hành.
Bối cảnh, điều kiệnlịch sử
Thực tế tiến trình lịch sử dân tộc cho thấy, vấn đềxây dựng và mở rộng cương giới lãnh thổ Đại Việt đã từng được chú trọng và diễn ra trong thời đại nhà Trần dưới thời lãnh đạo của vua Trần Nhân Tông bằng việc chủ trương sáp nhập châu Ô mã và Việt lý vào cương giới Đại Việt, xem đây như là một trong những việc làm thiết yếu để củng cố nền độc lậptự chủ của dân tộc nhưng đồng thời cũng là chính sách tối cần thiết để chống lại sự gây hấn của phong kiến phương Bắc trong vấn đềan ninh cương giới lãnh thổ Đại Việt lâu dài. Đến thời Lê- Nguyễn vì những lý do nội tại mà những chính sách này không được thực thi theo nhưtinh thần chủ trương của giới lãnh đạo bấy giờ. Thay vào đó, các cuộc binh biến diễn ra giữa các thế lựcphong kiến trong hai thế kỷ XVII- XVIII dưới thời Lê- Mạc, Trịnh- Nguyễn đưa đến nhiều vấn đềmâu thuẫn trong nội bộ tầng lớp lãnh đạo, khiến bối cảnh xã hội bấy giờ bị đặt trong sự rối ren, bất ổn. Chính trong hoàn cảnhlịch sử phân tranh quyền lực như thế, sự kiện Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558- 1613) được triều đình chúa Trịnh là Lê Anh Tông chấp thuận trở vào vùng đất Thuận Hóa để trấn thủ và mở rộng cương giới đất nước trong giai đoạn này, vô tình đã đưa đến sự phát triển không ngừng của cả một vùng lãnh thổ Đại Việt được mở rộng ở phía Nam cùng với số lượng dân cư ngày càng được tăng lên trên vùng đất mới kéo dài từ Thuận Hóa rồi Thuận Quảng cho đến tận vùng đất mũi Cà Mau sau này, bởi họ đa số đều là những người bất mãn chính trị với 2 cuộc nội chiến khiến dân tìnhloạn lạc, xã hội phân ly, cũng như tầng lớp dân cư là những thành phần người Chiêm Thành, Chân Lạp, về sau còn có cộng đồng người Hoa di dân sang1. Trong hoàn cảnh như vậy, các chúa Nguyễn đã dùng chánh pháp để quản dân, ổn định đời sống, xây dựngnếp sống hiền thiện để hướng đến quốc thái dân an: “Vỗ về quân nhân, thu dụng hào kiệt, quân lệnh nghiêm trang, mở mang ngoại thương, khiến dân trong cõi an cư lạc nghiệp”2. Hết thảy đều minh chứng rõ ràng nhất cho thời kỳ bình ổn, phát triển của dân tộc Đại Việt được thống nhất về mọi phương diện dưới thời các chúa Nguyễn, đặc biệt về ước nguyệnthiết lập một xã hộian bình, hạnh phúc tại vùng đất mới xứ Đàng Trong, đúng như bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu được viết trên chiếc chuông đồng đúc tại chùa Thiên Mụ vào năm 1710: 惟願風調雨順國泰民安法界衆生同圓 種智 (Duy nguyện: phong điều vũ thuận, quốc thái dân an, pháp giớichúng sanh, đồng viên chủng trí nghĩa là: Xin nguyện cho mưa thuận gió hòa, đất nước thịnh trị yên lành, mọi chúng sanh trong pháp giới cùng được tròn đầy trí tuệ).
Xây dựnghình ảnh một Phật giáonhập thế, bình dân
Có thể thấy, ở những buổi đầu của sinh hoạtPhật giáo trong công cuộc Nam tiến diễn ra tại xứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn, hẳn nhiên không thể thiếu sự đồng hành của Phật giáo trong vai tròhộ trì cùng giới lãnh đạo, quần chúngPhật giáo đã tích cực tự xây dựng cho riêng mình một vị trí, vai trò mới: Phật giáothế sự, bình dân, đồng hànhcùng dân tộc để phát huy những giá trịưu việtnhất thể hiện qua các phương diệntu tập, phổ hóa vào trong nếp sống thường nhật cho mọi giới trong xã hội được lợi lạc. Điều này, có thể thấy ngoài sự chủ động đến từ các chúa Nguyễn trong tinh thần vận dụng những triết lý sống của Phật giáo để thực thi vào các chính sách cai trị giúp bình ổn đời sống cư dân tại đây với việc các cơ sở thờ tự của Phật giáo được các chúa Nguyễn chủ trương phục dựng lại các chùa cũ, tạo lập các chùa mới, ban sắc tứ cho nhiều chùa tại Đàng Trong, từ đó làm tiền đề quan trọng để Phật giáo có cơ sở, điều kiệnsinh hoạttu tậpthuận lợitác động vào đời sốngquần chúngnhân dân. Bởi tạo lập chùa cũng có nghĩa là định hình đời sốngtâm thức cho cộng đồngquần chúngnhân dânthực hành theo nếp sống đạo, khi đó nhà chùa trở thành nhà trường, các sư trở thànhnhà giáo, thầy thuốc… để hướng dẫn quần chúngnhân dântu học, sinh hoạtvăn hóa, giáo dục, tín ngưỡng, phổ biếngiáo lýđạo đức nhà Phật thông qua các chương trìnhtu tập, kiến tạotrai đàn, làm lễ bố thí, niệm kinhgiải oan, cầu cho quốc thái dân an. Đặc biệt, chú trọng vào phương thức sinh hoạttruyền thống để phát triển Phật giáobình dânđại chúng, thể hiện rõ nét nhất ở nơi hình ảnh các vị Thiền sư cùng với cư dân chung tay khai vỡ đất hoang, tạo lập cuộc sống, tu bổ nhà chùa, hoằng dương Phật pháp, giúp người dân vượt qua khó khăn hoạn nạn, góp phần ổn định cuộc sống. Cụ thể, một Phật giáobình dân được thực thi trong đời sống cư dân, chẳng câu nệlễ nghi, hình tướng, bởi Họ cần trước hết là những bài học về đạo đức làm người, cụ thể, giản dị và sinh động chứ không phải là sự nghiền ngẫm thiên kinh vạn quyển với vô sốtriết lý cao siêu. Và, Phật giáo với đội ngũ các nhà tu hành nhiệt huyết nhập thế một cách tích cực đã mau chóng đáp ứng điều này. Ở đâu có đất mới được mở ra là ở đó có chùa mới dựng. Tiếng chuông chùa và tiếng tụng kinh chẳng khác gì lời ru êm ái đối với một xã hội lầm lũi3.
Và đương nhiên, nhu cầu cần có thầy cầu an khi đau ốm và cầu siêu khi qua đời là một đòi hỏi bức bách của lưu dân. Tín ngưỡngPhật giáo đã đáp ứng được nhu cầu ấy và tạo tiền đề để đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển nhanh chóng của nhiều ngôi chùa lúc bấy giờ4. Đó đều là sự thiết lậpcần thiết cho sự có mặt của Phật giáo với ý nghĩađồng hành cùng cư dân tích cựcxây dựng, ổn định đời sống về vật chất lẫn yếu tố nhu cầu tinh thần giúp người dân vượt qua khó khăn hoạn nạn trong giai đoạn này với truyền thốngnhập thế của Phật giáo Việt Nam khơi gợi từ những thế kỷ trước được tiếp nối, duy trì không ngừng.
Hiện thực hóa các phương thức tu tậpcăn bản
Đặc biệt, trong thời gian này sự xuất hiện của các vị thiền sư Trung Hoa như Chuyết Công, Nguyên Thiều, Thạch Liêm, Minh Hải Pháp Bảo… sang hoằng hóa hành đạo tại xứ Đàng Trong, có thể nói mang đếnmột đời sống sinh hoạtPhật giáo cho mọi tầng lớp xã hội có cơ duyên được tiếp nhận các phương pháptu tập, tư tưởng mới đến từ các vị Thiền sư Trung Hoa. Bên cạnh các dòng thiền Lâm Tế, Tào Động có mặt trên lãnh thổ Đại Việt, bên cạnh các Thiền phái Trúc Lâm, Chúc Thánh, Liễu Quán của nền Phật giáo dân tộc cũng được phục hưng và hình thành trong giai đoạn này. Từ đó, đóng góp một vai trò quan trọng trong việc định hình, hướng dẫn quần chúngnhân dân tu niệm hiệu quả, lợi lạc và tạo dấu ấn rộng rãi của Phật giáotrong đời sống tâm linh của dân tộc Đại Việt ở Đàng Trong.
Thời gian này thay vì chủ trương, khởi xướng mạnh mẽ các công ántham thiền, thoại đầu, đánh hét… để hướng dẫn các tầng lớp trong xã hộithực hànhtu trì nhằm kiến tánhngộ đạo theo lối tu tập vốn có của triết lý Thiền tông, ngược lại để tạo nên sự lan tỏa sâu rộng, thích ứng với điều kiệntu tập bấy giờ của các giới xuất gia lẫn tại gia trong xã hội Lê- Nguyễn; một phương thức tu tập mới về giáo nghĩaTịnh độ đã được thiết lập, khởi xướng trong quan điểm tu niệm bởi các vị thiền sưChuyết Công, Nguyên Thiều, Chân Nguyên, Hương Hải, Thạch Liêm, Toàn Nhật… chủ trương khuyến hóa mọi giới trong xã hội bấy giờ nỗ lựctu tậphành trì theo pháp tu Tịnh độ, biểu hiện qua các phương thức tu niệm: Kết hợp giữa triết lý thiền tịnh để niệm Phật, thực hành phápquán tưởngtự tánhDi Đà, phát khởiniềm tincầu nguyệnvãng sanhTây phương, tin sâu giáo lýnhân quả, cho đến việc tụng kinh, trì trai, giữ giới… với mục đíchý nguyện đều nhằm hướng đến sự tịnh hóa thân tâm, thiết lập được giá trịan lạcgiải thoát ngay kiếp sống hiện tạiđồng thời hướng nguyện về cõi Tịnh độ của PhậtA Di Đà qua pháp tu Tịnh độ. Ví nhưthiền sưChuyết Công trong tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa có bảo: “Trước khi niệm PhậtA Di Đà, hành giả phải thực hànhtuần tựquy y Tam bảo, thọ trìnăm giới, sám hối nghiệp chướng và cuối cùngphát khởi đại nguyện”. Rõ ràng, việc thực tậpniệm Phật theo Thiền sư chủ trương trong thời kỳ này là vô cùngđơn giản, rất dễ dàng để thực tập tu niệm; bởi lẽ con người trong ý niệmcần cầugiá trịan lạc, hướng đến đời sống tịnh hóa của tự thân ngang qua việc trì niệmdanh hiệu Phật, đương nhiên nhất mỗi cá nhânnhất thiếtcần phảinỗ lựcchuyển hóađời sốngtâm thức của mình bằng các hành động cụ thể thông qua ba nghiệp thân, khẩu và ý được tịnh hóa trong lộ trình hướng thượng; chỉ khi đó việc thực tập pháp tu niệm Phật mới mong được chuyên nhất và có hiệu quảlợi lạc. Thiền sưMinh ChâuHương Hải (1628-1715), cho rằng việc chuyên trì danh hiệu Phật thâu nhiếp cả hết thảy công đức, hơn cả việc trì chú: “Chuyên trì danh hiệu thắng hơn trì chú, thắng hơn hết thảy chư dư công đức”. Còn việc trì trai, giữ giới đối với các tầng lớp tu tập bấy giờ, chúng ta có thể thấy qua lời của ngài Thạch Liêm chỉ dạy cho chúa Nguyễn:
“Việc trai giới chẳng phải giữ cho sạch miệng, sạch mình, tư tưởngtrong sạch mà thôi. Việc trai giới của nhà vua cần phải đem việc quốc gia trên dưới thanh lý chỉnh tề, không một người nào chưa được yên sở, không một việc nào chưa được thỏa đáng, như thế mới gọi là viên mãn…”5.
Rõ ràng, ý niệmtu tập theo tinh thầnPhật giáo không phải cố chấp, nắm giữ trong những điều lệ, giới điều để ràng buộc người tu tập, chúng cần phải được vận dụng hành trìchuyển hóa một cách thiện xảo, sáng suốt, mà ở đây thiền sưThạch Liêm mong muốn chúa Nguyễn Phúc Chu trong cương vị là một người lãnh đạo đất nước nhưng cũng là một phật tử thì cần phảithấu triệtđạo lý này để tránh rơi vào sự dính mắc, sai lầm.
Hơn nữa, Phật giáo với tinh thần triết lý nhân quả, nghiệp báo hướng con người đến chỗ hiền thiện, hạnh phúc, an lạc thì rõ ràng trong bối cảnh như vậy, những triết lý sống căn bản, giá trị của Phật giáo hẳn nhiên khiến cư dân bấy giờ cần phải tự nỗ lực sống tốt, biết sợ điều ác, thực hành những điều thiện để làm lợi ích cho mình và mọi ngườixung quanh6. Nhờ vậy, mà đời sống của cư dân bấy giờ mới đủ ý chí, niềm tin để vượt qua mọi khó khăn thử thách nơi vùng đất mới với nhiều thứ phải đối mặt. Chính khi ấy, tinh thần, triết lý sống của Phật giáo sẽ giúp mọi giai tầng trong xã hộikiến tạoxây dựng được cuộc sống an bình, hạnh phúc.
Tạm kết
Có thể nói, trong điều kiện bối cảnh dân tộc Đại Việt có nhiều sự chuyển biến, thay đổi về đời sống, văn hóa, con người diễn ra trong xã hội Lê- Nguyễn ở thế kỷ XV- XIX, thì việc định hình, thiết lập và xây dựng các tư tưởng triết lýtu tập của Phật giáo, được vận dụng vào trong nếp sốngthực tiễnxã hội bấy giờ để bình ổn đời sốngnhân dân buổi đầu trong công cuộc Nam tiến, mở rộng cương giới dưới thời các chúa Nguyễn rõ ràngmang đến một ý nghĩa, vai trò rất lớn trong sứ mệnh củng cố nền độc lập, tự chủ của dân tộc Đại Việt trong thời kỳPhật giáo Lê- Nguyễn được phát huy, rộng mở trong mọi giai tầng xã hội về phương diệnthích ứng, phù hợp của triết lý tu tậpPhật giáo đối với điều kiện nhu cầu tín ngưỡngsinh hoạt của các tầng lớp trong Phật giáo thời Lê- Nguyễn. Đồng thời, đây đặc biệt còn là cách thức để khẳng định sự đồng hànhgắn bó của Phật giáo đối với dân tộc ở mọi phương diện và trong bất cứ hoàn cảnh nào vì sự an bình, hạnh phúc cho cư dân Đại Việt.
1. Trần Thuận (2019), Phật giáo Đàng Trong đôi điều cảm nhận trong Phật giáo Việt Nam góc nhìn lịch sử và văn hóa, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 79.
2. Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 67.
3. Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cươngLịch sửvăn hóaViệt Nam, Tập II, Nxb. Giáo dục, tr. 156.
4. Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểuPhật giáoNam bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 15.
5. Viện Đại học Huế (1963), Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, tr. 97.
6. Dẫn lại Ngô Thị Hường (2015), Sự phục hưng của Phật giáo ở Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn trong Phật giáo thời Nguyễn, Nxb. Tôn Giáo, Hà Nội, tr. 141.
(Trích từ: https://thuvienhoasen.org/p19393a37478/tap-chi-van-hoa-phat-giao)






















