THIỀN ĐỊNH
VÀ THÁI ĐỘ NHẬP THẾ DẤN THÂN
Quán Như Phạm Văn Minh

Sự tăng trưởng của Phật giáonhập thế ở Tây phương
Phần lớn các nhà nghiên cứuTây phương vào thế kỷ 19 chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo Nguyên thủy. Kinh điểnNguyên thủy được sưu tập và phiên dịch bởi những học giả trong hội Pali Society, vốn có định kiếnPhật giáo là ‘một tôn giáo lánh đời và tiêu cực thụ động’. Họ bỏ qua những hoạt động của một số tăng già trong các phong tràochánh trị “chống thực dân Anh’ ở các quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á trong thời kỳ thực dân, xem các nhà sưliên hệ đến chính trị là những ‘người quấy rối’. Ở Tây phươngtừ ngữPhật giáonhập thế chỉ mới xuất hiệngần đây.
Vào năm 1986 nhà xuất bản Parallax bắt đầu xuất bản một tuyển tập vể Phật giáonhập thế, sách vở về Phật giáonhập thế có thể đếm trên đầu ngón tay. Mười năm sau, vào năm 1996, nhà xuất bản hãnh diệngiới thiệu tuyển tập The Engaged Buddhist Reader, một tuyển tập các bài viết về Phật giáonhập thế từ 60 tác phẩm khác. Ngay cả những người tự nhận là những Phật tửthuần túy, những người sợ ‘tâm bình’ bị quấy nhiễu vì những hoạt động hàng ngày, hiện nay cũng tham dựhoạt độngtích cực trong thế giới ‘bên ngoài’.
Tuy nhiênhình ảnh của các vị sư tự thiêu chống đàn áp chính trị, viết tuyên ngônchánh trị, huy động quần chúng trong các cuộc biểu tình, trương biểu ngữ tại Việt Nam vào các năm 1963 đã làm hình ảnh bình lặng của một tôn giáo ‘hướng nội’. Tác giả Jerrold Schecter gọi là một ‘Niềm tin bốc cháy’ (A Faith in Flame), Robert Topmiller, Hoa Sen bừng nổ (The Lotus Unleashed) và Nhất Hạnh, Hoa sen trong biển lửa (The Lotus In the Sea of Fire).
Trong quá trình nghiên cứu về Phật giáoNhập thế, tôi khám phá ra một sự thay đổi sống động của Phật giáo, từ Nguyên Thủy qua Nhập thế. Tôi không còn dựa vàotài liệu của những học giảtruyền thống như Christmas Humphreys, Edward Conze hay D.T. Suzuki. Thay vào đó tôi đã gặp nhiều khuôn mặt mới, thú vị thay, là phần lớn là những nhà nghiên cứucư sĩ. Nhưng cuộc tranh luận không còn yên tĩnh, đạo vị, mà thường ồn ào hơn, sống động hơn mà cũng ‘cận nhân tình’ hơn, nói theo Lâm Ngữ Đường. Danh sách những Phật tử được đề cử nhận giải Nobel Hoà Bình, làm cho Phật tửchúng tahãnh diện: Nhất Hạnh, Sulak, Đức Đạt Lai Lạt Ma và Aung San Suu Kyi, là những Phật tửhoạt động cho hòa bình. Kotler, nhà biên tập của tác phẩmthe Engaged Buddhist Reader, ghi nhận sự phát triển của Phật giáonhập thế như sau:
Khi chúng tôi bắt đầu nhà xuất bản Parallax Press vào năm 1986, có rất ít tác phẩm viết về đề tài này. Hiện nay có rất nhiều tác phẩm về Phật GiáoNhập Thế, phản ảnh cho một trào lưu chính đang hình thành trên thế giới. Quan niệm cho rằng Phật giáo là một tôn giáotiêu cực tránh đời hoàn toàn biến mất. Trong khi đó có những phật tửnhập thế đem cuộc đời của mình phục vụxã hội và con ngườixuất hiện khắp nơi.
Đó là lời phát biểu vào năm 1996. Từ đó đến nay, sự phát triển và ảnh hưởng của Phật giáonhập thế còn ngoạn mục hơn nữa. Vào cuối năm 1999, nhà nghiên cứu Kenneth Kraft, trình bày một lộ đồ cho con đườnghành trì (New Map of the Path) như là một hướng dẫn cho Phật tử Mỹ. Sự phát triển nhanh chóng của Phật giáo tại Mỹ được xem như là lần chuyển pháp thứ tưtrong lịch sửtruyền báchánh pháp và lần này bánh xe Phật giáonhập thế là một Mạn đà la trong niên kỷ mới. (2) Phật giáonhập thế cũng ảnh hưởng đến lịch trình giảng dạy tại các đại học. Gần đây có một quảng cáo nhân viên cho một Phật tử có bằng Master nhiều sáng kiến để làm việc trong một cộng đồngPhật tử… nhập thế. Đại học Naropa Institute, trung tâmnghiên cứu Boston và Trung tâmnghiên cứuTôn giáo Hoàn Cầu cò mở các khóa theo chương trình Master về Phật giáonhập thế.
Những giới hạn của Phật giáoNhập thế
Oái oăm thay việc chấp nhậnPhật giáonhập thếrộng rãi khiến định nghĩa Phật giáo thêm khó khăn. Một vài học giả cho rằng cụm từ Phật giáonhập thế là một cụm từ trùng lập vì không có Phật giáo nào đúng nghĩa lại không nhập thế. Trong khi đó, một số học giảNguyên thủygay gắtphê bìnhtừ ngữ này là, nếu có người hỏi: “Thế nào là Phật giáo nhập thế?” Câu hỏi này làm tôi bối rối. Vì cụm từ này hàm ý là có Phật tử không nhập thế. Nói như thế chẳng khác nào nói chúng tôi là Phật tử có trách nhiệm, còn một vài Phật tử khác không trách nhiệm.”
Phật giáonhập thế có thể được xem xét dưới góc độ tâm linh và lịch sử. Góc độ tâm linhcung cấp cùng một số nguyên tắc hành trì, góc độ xã hội và chánh trị khiến cho mỗi phong trào có một sắc thái độc đáo. Góc độ đầu tiên cung cấp tiêu chí cho các hoạt độngxã hội của Phật tử, khác biệt với những người hoạt độngxã hội và chánh trịthế tục. Hai góc độ này có thể phối hợp thành một trong hình thái quang phổ. Chúng ta thử xét quang phổ này từ trong ra ngoài.
Truyền thống – Hiện đại: Mục đíchtối hậu của Phật giáo là diệt khổ. Đạo Phật truyền thốngnhấn mạnh đến những yếu tốtâm lý gây ra khổ mà không chú ý nhiều đến nguyên nhânxã hội. Tham lam được xem như là nguyên nhân chính. Các tình cảm như sân hận, tham và sân tạo cơn bão lốc và làm vẫn đục tâm trí của chúng ta. Đức Phật được xem như là một lương y, chẩn đóan bệnh trạng, cho chúng ta thuốc chữa trị và nếu mọi chuyện êm xuôi, người bệnh sẽ hồi phục. Để vượt qua cơn bệnh, bệnh nhân sẽ được cho thuốc, như hành trìchánh niệm hay Lục mật. Đức Phậtít khi bàn đến những triệu chứng bên ngoài như những đau khổ do xã hội gây ra.
Con đườnghành trì của Đức Phật là một con đường khó khăn, ‘cát ái từ thân’, dù đáng ngưỡng phục, nhưng đối với người thường, đó không phải là con đường dễ dàng. Đức Phậttừ bỏthế giớivật chất, để lại gia đình để đi tìm Đạo ngay khi đứa con vừa sinh. Ngài sống một cuộc đờikhất sĩ và đi từ làng này sang làng nọ, truyền bá giáo pháptrong vòng 45 năm. Tăng đoàn của Ngài sống một cuộc đờigiữ giới luật nghiêm nhặt để đi tìm giác ngộ. Trừ một số ít tăng già hiến cả cuộc đời mình để hộ pháp và độ sinh, đối với người bình thường, đó là con đường hầu như bất khả.
Các học giảhiện đạichú tâm khai thác tập đếtrên bình diện xã hội và chính trị liên hệ đến cuộc đời hiện nay, ở đây, bây giờ. Kraft chỉ rõ trọng tâm này trong tác phẩmThe Wheel of Engaged Buddhism (Bánh xe chánh pháp của Phật giáonhập thế)
Hiện nay các học giả Phật giáo cho rằng các điều kiệnxã hội và các định chế chánh trị cũng có ảnh hưởng quan trọng đến nổi khổ của con người. Những nguyên nhânchính yếu trong Phật giáo nguyên thủy như tham, sân và si phải được giải quyết trên bình diện xã hội và chính trị cũng như trên bình diện cá nhân.
Phật giáonhập thếgiải thíchgiáo lý một cách hiện đại, không chỉ trên bình diện tâm lý, nhưng còn trong bối cảnh toàn cầu. Ví dụ như giới sát sanh được giải thích ‘Tôi nhất quyết không phạm giớisát sanh, mà còn không để người khác có dịp sát sanh,, không hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp chuyện giết người trên thế giới, trong tư tưởng cũng như trong hành động.’ Giới “cấm sát sanh’ không phải chỉ là vấn đềđạo đứccá nhân, mà còn hàm ý một hành động tập thể ngăn chặn chuyện giết người xảy ra. Không phải chúng ta không phạm tội giết người mà còn có bổn phận về phương diệnđạo đức, không để chuyện giết người xảy ra. Hậu quả là chúng ta phải xét lại những định chế theo chúng ta thấy có thể gây ra đau khổ cho người khác. Hệ thống chính trị hay xã hội có thể làm cho hàng vạn người sống trong nghèo khổ cũng cần được xét lại. Không phải chỉ đổ lỗi cho Hitler hay Pol Pot và những ông thần gây chiến tranh khác như Nixon hay Bush con, và không làm gì để có thể ngăn cản, và nghĩ rằng lương tâm của mình thanh thản vì mình không có tham dự. Đứng yên không làm gì để ngăn cản (như biểu tình phản chiến) có thực sự làm cho bàn tay của chúng ta sạch?
Lòng ham muốndĩ nhiên đưa đến tham lamchấp thủtài sản và thường sinh ra đau khổ. Lý duyên khởi cho thấy đó là mối liên hệtrùng trùng và nguyên nhân chính không phải lúc nào cũng dễ thấy. Lòng tin trong Phật giáo nguyên thủy cho là tâm là chủ mọi pháp đã bị các học giảhiện đại thách đố. Theo họ một hiểu biếtđúng đắn phải thấy đó là liên hệ hai chiều, giữa tâm và vật, và giữa cá nhân và thế giới bên ngoài. Do đó một hệ thốngxã hội có thể ảnh hưởng và uốn nắnhành vicá nhân và hành vicá nhân cũng ảnh hưởng lên giao tiếp xã hội. Ví dụ xã hộitiêu thụ có thể hình thành thái độ ôm ấp của cải và dĩ nhiênchúng ta càng chấp thủtài sảnchừng nào, thì chúng ta càng muốn tiêu thụ nhiều chừng đó. Đau khổdo thái độ tham lamtài sản gây ra nhưng cũng có thể do các định chế xã hội gây ra.
Đạo đức và phục vụ: Sự nối tiếp từ đạo đức qua hành động phục vụphản ảnh những giai đoạn khác nhau của con đường hình thành tâm linh. Nên để ý là cũng như trong bất cứ một quá trình nào, nó là một chuổi mầu sắc khác nhau trong quang phổ, để phân biệt những sắc thái khác nhau của đạo Phậtnhập thế.
Trong lịch sử phát triển, đạo Phật phải thích ứng với văn hóabản địa (khế cơ), nhưng phần tinh hoacốt lõi vẫn không thay đổi (khế lý). Trong truyền thốngPhật giáo Nguyên thủy, thứ tự hành trì là ‘giới-định-tuệ’, Trong truyền thốngĐại thừa, thứ tự thường là ‘bố thí- trì giới- nhẫn nhục’. Lý tưởng của Nguyên thủy là A La Hán, sau khi nhập lưugiác ngộ, biến mất vào cõi vô cùng; trong khi lý tưởngĐại thừa, các Bồ Tát nguyệnquay trở lạicõi ta bà để cứu giúp giải thoátcho đếnchúng sinhcuối cùng. Diễn dịchẩn dụ này qua ý nhiệm và ngôn ngữTây phương, Christopher Queen xác định bốnmục đích quan trọng của con đườnghành trì: giới luật, đạo đức, từ bi và dấn thân. Những cách hành trì này có thể trùng hợp, tích lũy, nhưng nói một cách tổng quát, Phật giáo Nguyên thủy chú trọng giữ giới và hành viđạo đức, trong khi Phật giáoĐại thừa chú trong đến từ bi và dấn thân.
Truyền thốngĐại thừathúc đẩyhành giả đi qua một lãnh vực khác: lãnh vực hành động. Các hành giảĐại thừahành trì ‘lục mật’và bước đầu tiên là ‘bố thí’, tức là một hành động giao lưu xã hội trong khi bộ ba ‘thiền định- từ bi- trí tuệ’ bị đẩy xuống mức dưới thấp hơn. Đây là một thay đổi quan trọng từ đạo đức qua hành động. Thiền quán được xem như là một phương tiện thiện xảo để vun trồngđạo đức và trong quá trình tu tập, sẽ phát sinh ra hành động và giao lưu với xã hội rộng lớn bên ngoài.
Phải cần một thời gian dài trước khi truyền thốngĐại thừa mới từ bỏcon đường lạnh lẽo của Độc giác Phật (Pratyeka-Buddha) để chấp nhậnlý tưởng Bồ tát. Trên thực tế trên đường tu tập, hành giả phải nhảy qua nhảy lại hai bờ ‘tự giác-giác tha’ nhiều lần, nếu cần.
Trí tuệ và hành động: Dấn thân có nghĩa là hành động trong hoàn cảnhxã hội. Trí thông minhtuyệt đỉnh trong đạo Phật là Tuệ, giúp hành giảđạt được mức thang đầu tiên trong khâu bát chánh đạo là ‘chánh kiến’. Đức Phậtkhám phá gì trong đêm Giác ngộ? Đức Phậtngạc nhiên vì chân lý Ngài khám phá quá ‘đơn giản’!
Vạn pháp đều do duyên khởi
Vạn pháp sinh
Vạn pháp diệt
Cái này sinh thì cái kia sinh
Cái này diệt thì cái kia diệt
Không có pháp nào có tự ngã độc lập, mọi pháp đều nương nhau mà có, như chúng tahay nói, mọi sự nối kết với nhau như trong xâu chuổi Đế thích (Kinh nhật tụng‘lưới đế Châu, lưới đạo tràng’). Duyên khởi tức là vô ngã, vô thường, và cuối cùng dẫn tới không. Vô ngã, Vô thường, Không là ba mặt của một ‘thực tại’, nhưng với ba tên gọi khác nhau.
Đức Phậtnhấn mạnh “Người nào thấy được nguyên lý duyên khởi, người đó thấy Pháp’. Khi đạt tới tuệ giác, chúng tanhận thấy tất cả chúng sinh đều cùng hội cùng thuyền, và kết quả là lòng từ và bi tự nhiên nẩy sinh trong tim chúng ta. Từ (Karuna) là lòng thương yêu rộng lớn và Bi (Metta), lòng lân mẫn đối với chúng sinh. Sau khi chứng quả, A La Hánchứng tỏlòng Từ và Bi như thế nào? Bi phải được thể hiện trong các liên hệxã hội và Phật giáoĐại thừa thường mô tảlòng từ bi một cách cụ thể như bố thí và cứu độchúng sinh (Đại từ Đại Bi thương chúng sinh). Bồ Tát được yêu mến nhất, Bồ TátQuan Thế Âm, nghĩa là một người lắng nghe tiếng kêu đau thương của cuộc đời. Nhiều Bồ Tát nguyện không ‘về’ Niết Bàn nếu còn một chúng sinh nào còn ở địa ngục. Dĩ nhiên đây chỉ là một ẩn dụtôn giáo. Biên giới giữa đạo đức-thiền định giữa lòng Từ Bi và Hành Động không rõ ràng. Từ Bi có nghĩa là hành động.
Chính niệm và dấn thân
Chuyển đổi từ ‘bước’ chính niệm qua dấn thân có thể phát sinh tự nhiên từ quá trình tu tập, liên hệnhân quả giữa hai giai đoạn này được Nhất Hạnhnhấn mạnh:
Trong truyền thống của chúng tôi, Chùa chỉ là một phòng thí nghiệm để ‘khám phá’ ra một cái gì đó. Chùa không phải là mục đíchcuối cùng mà chỉ là phương tiện. Đó là nơi chúng tôi được đào tạo và thực hànhđời sốngtâm linh, nhờ đó chúng tôi có ‘vốn liếng’ để đi ra ngoài hành đạo với người khác.
Thiền quán chỉ là một ‘phương tiện’ để chúng ta ‘ý thức’ những gì xảy ra bên trong chúng ta và thế giới bên ngoài. Chính niệm không bao giờ nên xem là một ‘giai đoạn’ giác ngộ trong quá trình tu tập. Đây chỉ là một kỹ thuật ‘thanh lọc tâm ý’ mà một hành giả có thể dùng đi dùng lại, bất kể đang ở ‘bước’ nào trong quá trình ‘giác ngộ’, mà thiền sư Shunryu Suzuki gọi là Sơ Tâm Thiền (Beginners’ mind). Tuy nhiên không ai chắc rằng thiền quán co nhất thiết dẫn đến giác ngộ vì Thiền cũng chỉ là một pháp môn trong muôn ngàn pháp môn khác. Có thể những người tu tập Thiềnquán khônggiác ngộ và nhưng người ‘giác ngộ’ có thể không hề tu Thiền. Trong khi phổ biến Thiền cho các hành giảTây phương, Nhất Hạnh chỉ chú tâm đến Thiền Chánh niệm trong sinh hoạthằng ngày và kết quả là ý nghĩa ‘dân thân’ đã trở nên mù mờ. Nhiều người chỉ tríchpháp môn làng Mai hoặc là ‘quá’ dấn thân hay dấn thân ‘chưa đủ’ vì thiếu phản ứng tập thể trong lĩnh vực công cộng. Một vài đệ tửTây phương của Nhất Hạnh từ chối bày tỏ thái độ trong những lỉnh vực chánh trị đang bị tranh cãi. Các đệ tử của Nhất Hạnh từ những ngày thanh niên như Hoàng Nguyên Nhuận, than phiền là các thành phầncực đoan trong Tăng đoàn Làng Mai đã cố tình bỏ qua tác phẩmHoa Sen Trong Biển Lửa, một tác phẩm đã giới thiệuNhất Hạnh với cộng đồngthế giới, vì sợ Thầy bị chụp mũ là…thân Cộng. Chính những thành phần này đã nổ lực phá hoại chuyến về Việt Nam của Thầy. Nhưng trong các bản tiểu sử trích ngang của Nhất Hạnh vẫn còn nhấn mạnhvai tròvận động hòa bình của Thầy trong chiến tranh Việt Nam. Hiện tượng này giống như tình trạng trong một ngạn ngữTây phương, ‘vừa muốn ăn bánh, vừa muốn để dành’. Việc từ chối liên hệ đến những biến cốchánh trị tranh cãi khiến cho phạm vi của Phật giáonhập thế rộng hơn nhưng mơ hồ hơn. Gần đâyNhất Hạnhtiết lộ là các đệ tử đã tìm cáchngăn cản không cho Thầy đọc bài diễn văn chống chiến tranh Iraq tại nhà thờ Riverside Church, hai tuần sau khi biến cố 9/11 xảy ra.
Những đệ tửTây phương của Nhất Hạnhhoặc giả sợ Thầy có thể bị các phần tửTin lànhquá khíchám sát, như họ đã ám sátMục Sư Luther King, nhưng Thầy vẫn đọc. Nhất Hạnh đã chứng tỏ mình luôn là một sứ giả hòa bình, dù đó là trong chiến tranh Việt Nam hay Iraq, đã dám lên tiếng khuyến cáo George W. Bush suy nghĩcẩn thận trước khi phát động cuộc ‘chiến tranh chống khủng bố’. Sau biến cố này không còn ai nghi ngờlòng can đảm và quyết tâm của Nhất Hạnh trong việc bảo vệtinh thầnBất bạo động.
Đi ngược lại với trào lưu nhập thế dấn thân của Phật giáoTây phươngtrong vòng 20 năm qua, một số Phật tử ‘thuần túy’ đã đồng hóaPhật giáo với việc hành trìthiền quán, nhất là Thiền Nguyên thủy Vipassana hay Thiền Chính Niệm. Tập san The Buddhist ReviewTricycle đề nghị là thiền Vipassana nên được công nhận như một tôn pháiPhật giáo. Các nhà khoa học và hoằng phápTây phương đã đưa Thiền Chính niệm thành Thiền sức khỏe, có khả năng làm con ngườian lạcthân tâm, và cuộc hợp tác giữa các nhà nghiên cứu khoa học vẫn đang tiếp tục tại Viện Đại Học MIT và hai nhà khoa học thiền Sức Khỏe đang cộng tác với dòng chính Y Khoa để tìm các bằng chứng khoa học nhằm chứng minh mối liên hệ giữa Thân và Tâm (Viện Nghiên CứuThân Tâm và Đời Sống đã xuất bản hơn 10 đầu sách về đề tài này. Xem bản báo cáo gần nhất The Mind’s Own Physician của Jon Kabat Zinn và Richard Davidson, New Harbinger Publications Inc, CA, USA, 2011)
Sự liên hệ giữa Thiền quán và dấn thân đã dần dần hiện rõ: Nếu khôngchuyển hóa tâm mà chỉ muốn chuyển hóaxã hội, đó không phải là cách mạng xã hội theo Phật Giáo. Nạn nghèo đói và áp bứcchánh trị vẫn còn tồn tại, nhu cầu một cuộc chuyển hóađồng thời giữa thân tâm và xã hội càng trở nên cấp thiết. Về phương diện vĩ mô, có lẽ các nhà lãnh đạoViệt Nam nên thực tậpthiền quán, dù là Nguyên thủy (Vipassana) hay Chính Niệm (Mindfulness). Nhất Hạnh đã tổ chức được các buổi hành thiền cho các chính khác Nga, Mỹ và gần đây, Anh. Vụ Bát Nhã làm cho sự kiện này khó có thể thành hiện thực, mối thấy sự phá hoại của các thành phầnquá khích trong Làng Mai (như nhóm Phù Sa ở Pháp) nguy hại đến mức nào. Về phương diện ‘vi mô’, các ngành nghề chuyên môn (Bác sĩ) hay nghề căng thẳng (như Công An, Quản Giáo) nên qua các khóa Thiền tập để phục vụcông chúng một cách hữu hiệu làm giảm phản ứngbạo động. Ngay tại Mỹ nhiều khóa Thiền đã được đưa vào dạy các quản giáo nhà tù và tù nhân. Có nhiều bằng chứng cho thấy mối liên hệ giữa hai bên đã có những cải thiệnđáng kể và số lượng tù nhân tái phạm cũng giảm bớt. Có một dạo chúng tôi rất lấy làm khích lệ khi nghe TT Nhật Từ vào thuyết pháp tại các nhà tù.
Các trưởng tửNhư Lai thay vì tiếp tụchành trìPhật giáo như tôn giáo của người chết, lẽ ra nên xem bọn đồng bóng như ngoại đạo, thì rước họ vào nhà, trân trọng gọi họ là những nhà ‘ngoại cảm’. Nếu chùa không còn là những phòng thí nghiệm để tu tập và thanh lọc tâm ý, chuẩn bị cho chư tăng ni vào đời độ sinh, có một ngày nào đó, chùa trở thành chùa Bà Đanh của những âm hồncô quạnh.
Quán Như Phạm Văn Minh
Thư Viện Hoa Sen
Trích từ sách:
Phật Giáo & Những Dòng Chảy Tư Tưởng Hiện Đại”
của Quán Như Phạm Văn Minh sắp xuất bản


























