Quảng Tánh
Gần nửa thế kỷ du phương hoằng hóa, thuyết phápđộ sinh của Đức Phật chính là thị hiện ba sự giáo hóa. Bằng cách sử dụng các phương tiệnvô ngại của bậc Giác ngộ, Thế Tôn hầu hết là thuyết giảng giúp người khai tâm mở trí, phát nguyệntu hành gọi là ‘thị hiện giáo giới’.
“Một thời, Phật trú trong Chi-đề Thị-lợi-sa, tại Già-xà, cùng với một ngàn vị Tỳ-kheo mà trước kia là những Bà-la-môn bện tóc. Bấy giờ Đức Thế Tôn vì một ngàn vị Tỳ-kheo thị hiện ba sự giáo hóa. Những gì là ba? Đó là, thị hiệnthần túcbiến hóa, thị hiện tha tâm, thị hiện giáo giới.
Thị hiệnthần túc là, Đức Thế Tôntùy theo sự thích hợp mà thị hiện nhập thiền địnhchánh thọ; vượt quahư không đến phương Đông hiện bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi; vào hỏa tam-muội, rồi cho ra ánh lửa màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, pha lê; cả nước, lửa đều hiện; hoặc dưới thân ra lửa, trên thân ra nước, hoặc trên thân ra lửa, dưới thân ra nước, bốn phía chung quanh lại cũng như vậy. Thế Tôn sau khi thị hiệnthần biến rồi, trở lại ngồi giữa đại chúng, đó gọi là thị hiệnthần túc.
Thị hiện tha tâm là, như tâm người kia, tự thân an trú và chứng nghiệm, biết rằng ý của người kia như vậy, thức của người kia như vậy, người kia đang nghĩ như vậy, hay không đang nghĩ như vậy, đang xả như vậy. Đó gọi là thị hiện tha tâm.
Thị hiện giáo giới là, như Thế Tôn nói: ‘Này các Tỳ-kheo, tất cả bị thiêu đốt. Thế nào tất cả bị thiêu đốt? Mắt bị thiêu đốt. Sắc, nhãn thức, nhãn xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là nhãn xúc, tất cả đều bị thiêu đốt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, bị thiêu đốt; pháp, ý thức, ý xúc và thọ với cảm thọ khổ, cảm thọ lạc, hay cảm thọ không khổ không lạc, phát sanh bởi nhân duyên là ý xúc tất cả cũng bị thiêu đốt. Bị cái gì thiêu đốt? Bị lửa tham thiêu đốt, lửa nhuế thiêu đốt, lửa si thiêu đốt, lửa sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não thiêu đốt’.
Bấy giờ, một ngàn vị Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật đã dạy, không còn khởi lên các lậu hoặc, tâm được giải thoát.
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành”.
(Kinh Tạp A-hàm, kinh số 197)
Tuy Đức Phật có ba phương tiệngiáo hóa nhưng chủ yếu vẫn là ‘thị hiện giáo giới’. Pháp tu mà Ngài đã dạy vốn rất nhiều nhưng tựu trung vẫn không ngoài quán sát mối quan hệ giữa sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) và sáu thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức). Căn tiếp xúc với trần sinh ra nhận thức, phân biệt, cảm thọ (khổ, lạc, không khổ không lạc), tham sân si bắt đầu chi phối để tạo ra vô vàn khổ đau. Đây chính là một phần của chu trình nhân duyên: lục nhập-xúc-thọ-ái-thủ-hữu-sinh-lão-tử.
Quảng Tánh


























